Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 4.4: Kết quả sản xuất sắn của các nông hộ trồng sắn

Bảng 4.4: Kết quả sản xuất sắn của các nông hộ trồng sắn

Tải bản đầy đủ - 0trang

là 1,02 lần và 1,04 lần so với BQC, trong khi đó nhóm hộ II so với BQC chỉ gấp

0,97 lần và 0,95 lần.

Với một công lao động bỏ ra, nhóm hộ I vẫn đạt hiệu quả cao hơn nhóm hộ

II, cụ thể là về giá trị sản xuất GO nhóm hộ này thu về 15,67 triệu đồng và 7,39

triệu đồng về phần giá trị tăng thêm VA. Nhóm hộ II, với một cơng lao động bỏ ra

nhóm hộ này thu về 10,07 triệu đồng giá trị GO và phần tăng thêm VA họ thu về

4,52 triệu đồng.

Nhìn chung thì nhóm hộ I là đạt hiệu quả cao nhất về tất cả các chỉ tiêu, chi

phí mà nhóm hộ này bỏ ra đầu tư cho sản xuất sắn nhiều hơn nhóm hộ II còn.

Ngun nhân là do quy mơ diện tích đất lớn hơn; trình độ thâm canh của họ cao

hơn; chủ động hơn trong việc tính tốn các khoản chi phí và trang bị phương tiện

phục vụ sản xuất, áp dụng được những kỹ thuật tiên tiến để khai thác tối đa diện

tích đất nhằm thu lại kết quả sản xuất cao nhất.

4.2. Tình hình tiêu thụ sắn của nơng hộ

4.2.1. Tình hình tiêu thụ sắn của các nơng hộ

4.2.1.1. Hệ số tiêu thụ sắn

Sau khi thu hoạch, người dân khơng bán hết sản phẩm của mình ngay, một

số hộ có kinh tế khá giả thì sơ chế bằng phương pháp đơn giản là xắt lát sau đó phơi

khơ và bảo quản sản phẩm chờ khi giá lên cao hoặc khi nào cần tiền thì mới xuất

bán. Chúng ta thấy có sự chênh lệch nhỏ giữa sản lượng sản xuất và sản lượng tiêu

thụ giữa hai nhóm hộ, nhóm hộ I sản lượng sản xuất ra là 37,73 tấn/hộ thì nhóm hộ

II là 22,86 tấn/hộ. Đối với sản lượng tiêu thụ nhóm hộ I là 37,36 tấn/hộ, ít hơn sản

lượng sản xuất ra là 0,37 tấn/hộ và sản lượng tiêu thụ của nhóm hộ II là 21,92

tấn/hộ ít hơn sản lượng tiêu thụ là 0,94 tấn/hộ. Nhìn chung thì hầu hết nông hộ sản

xuất ra là tiêu thụ ngay là chủ yếu do đó hệ số tiêu thụ của cả hai nhóm hộ đều rất

lớn, của nhóm hộ I là 99,02% và nhóm hộ II là 95,86%. Nguyên nhân là do nông

dân đa số là bán dưới dạng sắn tươi, như vậy vừa thu hồi vốn nhanh để tái đầu tư

sản xuất, vừa tiết kiệm được lao động trong khâu sơ chế và bảo quản.

4.2.1.2. Giá tiêu thụ sắn của các nông hộ trồng sắn

Do trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất sắn nói riêng đều tuân

theo quy luật cung – cầu, tùy vào từng thời điểm mà những đối tượng tiêu thụ mua

sắn với những mức giá khác nhau. Cụ thể vào đầu vụ thu hoạch, khối lượng sắn thu

26



hoạch chưa nhiều do đó giá sắn sẽ ở mức cao, vào trung vụ khi đó lượng sắn dư

thừa giá tiêu thụ sắn sẽ giảm xuống. Đồng thời đến cuối vụ lượng sắn thu hoạch

thiếu hụt giá sắn sẽ tăng lên. Chúng ta thấy có các mức giá khác nhau, đối với sắn

tươi vào đầu vụ mức giá cao nhất là 1.300 đồng/kg và thấp nhất ở trung vụ với mức

giá là 1.200 đồng/kg. Còn đối với sắn tươi thì đầu vụ là 3.600 đồng/kg và trung vụ

có mức giá là 3.400 đồng/kg. Ngồi ngun nhân do quy luật cung – cầu thì một

nguyên nhân khác là ở khâu tiêu thụ có nhiều đối tượng tham gia, những đối tượng

này thu mua ở nhiều mức giá khác nhau, đặc biệt là những người thu gom và tư

thương họ đưa ra các mức giá khác nhau nhằm ép giá nông hộ để đạt được lợi

nhuận cao.

4.2.1.3. Tiêu thụ sắn có hợp đồng và khơng có hợp đồng

Hình thức tiêu thụ ở đây được thể hiện là có hợp đồng hay khơng có hợp

đồng. Nếu sản phẩm tiêu thụ có hợp đồng sẽ giúp người nơng dân n tâm sản xuất

vì đã có đầu ra ổn định, đồng thời có vốn để đầu tư tái sản xuất và mở rộng quy mô.

Sản phẩm sắn của nông dân sản xuất ra khi tiêu thụ chủ yếu là có hợp đồng,

nhóm hộ I có khối lượng sắn hợp đồng là 1.443,10 tấn chiếm 83,15% so với tổng

khối lượng sắn tiêu thụ của nhóm hộ này, tỷ lệ sắn tiêu thụ có hợp đồng của nhóm

hộ II thấp hơn nhóm hộ I là 15,79%. Đối với sắn tiêu thụ khơng có hợp đồng thì

nhóm hộ I ít hơn nhóm hộ II là 50,77 tấn và chiếm tỷ lệ là 16,85%.

Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt đó là do ở nhóm hộ I, ở nhóm hộ II đa số

là người đồng bào, nhóm hộ này cũng được đầu tư vốn nhưng họ ý lại, không tận

dụng hết nguồn vốn đầu tư, khơng mở rộng diện tích sản xuất. Trong khi đó nhóm

hộ II, nơng hộ là người kinh chiếm đa số, diện tích sắn của hộ nhiều hơn, họ biết tận

dùng nguồn vốn đầu tư của nhà máy tinh bột sắn để đầu tư sản xuất và mở rộng

diện tích, do đó khối lượng sắn của nhóm hộ này cao hơn.

4.2.1.4. Trách nhiệm của người mua sắn theo hợp đồng với nông hộ

Trong sản xuất sắn theo hợp đồng, người mua phải có những trách nhiệm

như: Cho ứng tiền mặt mua giống, cho ứng phân, mua toàn bộ sản phẩm…Và tùy

vào từng trường hợp thỏa thuận giữa hai bên mà người mua phải mua giá ở tại thời

điểm hoặc mua với giá xác định trước. Bên cạnh đó người mua cũng tạo điều kiện

tập huấn kỹ thuật cho nông hộ để họ có thể áp dụng vào thực tế.



27



Bảng 4.5: Trách nhiệm của người mua sắn theo hợp đồng

Nhóm hộ

STT

1

2

3

4

5

6



Diễn giải chi tiết

Cho ứng tiền mặt

Cho ứng phân bón

Mua tồn bộ sản phẩm

Giá mua theo thời điểm

Giá mua xác định trước

Tập huấn kỹ thuật

Tổng



I

Số hộ (Hộ)

22

8

31

20

10

19

110



Tỷ lệ (%)

20,00

7,27

28,18

18,18

9,09

17,27

100,00



II

Số hộ (Hộ) Tỷ lệ (%)

25

20,00

15

12,00

31

24,80

21

16,80

10

8,00

23

18,40

125

100,00



Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra



Từ bảng số liệu 4.13 ta thấy trách nhiệm của người mua phải mua toàn bộ

sản phẩm chiếm số lượng và tỷ lệ cao nhất, trong 62 hộ trồng sắn theo hợp đồng thì

trách nhiệm mua tồn bộ sản phẩm chiếm tỷ lệ 100%, trách nhiệm cho ứng tiền mặt

cũng chiếm tỷ lệ khá cao 75,81% nguyên nhân là do đa số nông hộ hợp đồng với

người mua là người đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thiếu vốn sản xuất do đó họ phải

hợp đồng với người mua đồng thời người mua phải tập huấn kỷ thuật cho những

nơng hộ này, đó cũng là nguyên nhân vì sao mà trách nhiệm tập huấn kỹ thuật cũng

chiếm tỷ lệ cao 67,74%.

4.2.2. Kênh tiêu thụ sắn của nông hộ

4.2.2.1. Đối tượng tiêu thu sắn của nông hộ

Bảng 4.6: Đối tượng tiêu thụ sắn của nơng hộ

Nhóm hộ

Chỉ tiêu

Nhà máy tinh bột sắn

Dang Kang

Người thu gom, tư

thương

Tổng



I



II

Khối lượng

Tỷ lệ (%)

(Tấn)



Khối lượng

(Tấn)



Tỷ lệ (%)



1.493,1



86,03



733,90



69,78



242,47



13,97



317,84



30,22



1.735,57



100,00



1.051,74



100,00



Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra



- Người thu gom hoặc các tư thương: Ở nhóm hộ I khối lượng sắn tiêu thụ

của hai đối tượng này là 242,47 tấn, ít hơn sản lượng tiêu thụ của Nhà máy sắn là

1250,63 tấn và chiếm tỷ lệ 13,97%, còn ở nhóm hộ II là 317,84 tấn, ít hơn Nhà máy

sắn là 417, 06 tấn và chiếm tỷ lệ 69,78%.

28



- Nhà máy tinh bột sắn Dang Kang: Nhà máy chỉ tiêu thụ sắn tươi với khối

lượng lớn, ở nhóm hộ I là 1.493,1 tấn, chiếm tỷ lệ là 86,03%, ở nhóm hộ II là

733,90 tấn và chiếm tỷ lệ là 69,78 tấn.

Đa số lượng sắn được Nhà máy tinh bột sắn tiêu thụ, so với tổng lượng sắn

tiêu thụ là 2.787,31 thì lượng sắn mà Nhà máy tinh bột sắn tiêu thụ chiếm 97,82%

và khối lượng sắn mà người thu gom hoặc tư thương tiêu thụ chiếm 2,18%.

Nhà máy tinh bột sắn Dang Kang và người thu gom hoặc các tư thương, đối

với Nhà máy tinh bột sắn thì tiêu thụ sắn trực tiếp bằng cách là sản xuất và tiêu thụ

sắn theo hợp đồng với nông hộ, người dân sản xuất sắn theo hợp đồng với nguồn

vốn đầu tư từ nhà máy và sau khi thu hoạch thì nơng hộ bán tồn bộ sản phẩm cho

nhà máy. Còn đối với đối tượng tiêu thụ là người thu gom và các tư thương thì học

mua sản phẩm trực tiếp từ nơng hộ, sau đó bán lại cho nhà máy sắn hoặc bán cho cơ

sở chế biến khác.

4.2.2.2. Địa điểm tiêu thụ sắn của các nông hộ

Sắn sau khi thu hoạch xong thì được các đối tượng tiêu thụ thu mua, đa số

sắn tươi được bán trực tiếp tại tại nhà máy, và một phần được người thu gom mua

tại rẫy. Bên cạnh đó lượng sắn sơ chế cũng được nông hộ bán tại nhà cho tư thương

và người thu gom.

4.2.2.3. Hình thức tiêu thụ sắn của các nông hộ trồng sắn

Hầu hết sắn được tiêu thụ dưới hai hình thức là sắn tươi và sắn sơ chế (sắn

lát), trong những năm gần đây đa số người dân đều bán sắn tươi là chủ yếu. Nông

hộ bán sắn tươi có thể thu hồi vốn nhanh để tái sản xuất.

Hầu hết sắn được tiêu thụ dưới dạng sắn tươi là chủ yếu, nguyên nhân là do

sắn tươi dễ tiêu thụ, sau khi thu hoạch xong người nông dân bán trực tiếp, tiết kiệm

được chi phí lao động, trong khi đó sắn sơ chế phải qua cơng đoạn bào vỏ, sắt lát,

phơi khô… Như vậy sẽ tốn nhiều chi phí hơn, hơn nữa sắn sơ chế trong quá trình sơ

chế dễ gặp rũi ro cao hơn, vì khi phơi khô nếu gặp phải thời tiết xấu, trời mưa và

khơng có nắng, sắn dễ bị ẩm móc, hư hỏng và chất lượng sắn sẽ không đạt yêu cầu.



29



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 4.4: Kết quả sản xuất sắn của các nông hộ trồng sắn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×