Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
IV. SỬA CHỮA HỆ THỐNG PHỤ TẢI

IV. SỬA CHỮA HỆ THỐNG PHỤ TẢI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Technical Library

ống cao áp, thấp áp không khác nhau nhiều thì có thể không đủ hoặc không có ga trong hệ

thống, cần kiểm tra thêm để bổ sung ga nếu cần.

4.2.2. Kiểm tra hệ thống điều hòa không khí bằng quan sát

Quan sát, kiểm tra hệ thống có thể phát hiện được các hư hỏng, trượt hoặc hỏng dây đai,

các lá tản nhiệt bò móp, dập làm cản trở dòng không khí làm mát giàn nóng (bộ ngưng tụ), lỏ ng

ly hợp máy nén hoặc vỡ giá bắt máy nén.

Quan sát kiểm tra hệ thống môi chất làm lạnh: nơi có sự rò rỉ môi chất sẽ gây bám bụi

nhiều nên có thể dễ phát hiện. Sự rò rỉ thường thấy ở các mối nối do các đệm kín hỏng hoặc

nắp vặn bò hỏng.

Quan sát kiểm tra hệ thống điện: kiểm tra các cầu chì, dây nối ly hợp điện từ, các cảm

biến. Cần dựa theo sơ đồ hệ thống trong sổ tay để kiểm tra.

4.2.3. Kiểm tra sự làm việc của hệ thống

Khởi động cho động cơ chạy ở 1500 vòng/phút và đặt mức làm lạnh ở mức lạnh nhất, sau

5 phút thì dùng nhiệt kế đo nhiệt độ không gian làm lạnh và nhiệt độ khí lạnh thổi ra ở giàn

lạnh. Nếu nhiệt độ thổi ra từ giàn lạnh cao,. Không đảm bảo quy đònh, cần kiểm tra kỹ toàn hệ

thống để xác đònh hư hỏng.

4.2.4. Kiểm tra áp suất ga (chất làm lạnh)

Có thể kiểm tra áp suất môi chất làm lạnh phía đường thấp áp và phía đường cao áp bằng

cách dùng hai áp kế và ống nối nối mỗi áp kế với một van kiểm tra phía đường thấp áp hoặc

cao áp. Khởi động động cơ cho chạy ổn đònh với tốc độ 1500 vòng/phút và đặt ở chế độ lạnh

cực đại sau 15 – 10 phút rồi đọc các giá trò áp suất chỉ thò trên đồng hồ. So sánh các giá trò áp

suất kiểm tra với số liệu kỹ thuật, nếu không đáp ứng yêu cầu, phải kiểm tra thêm các bộ phận

liên quan để xử lý.

Trong các xưởng sửa chữa, người ta thường dùng bộ đầu nối vạn năng là một cụm van và

áp kế vừa để phục vụ thông rửa, nạp ga, vừa để kiểm tra áp suất hệ thống hình 5.III-11. Bộ đầu

nối có hai áp kế với hai van tương ứng mở thông với hai đường ống nối với áp suất kiểm tra,

ngoài ra đầu nối còn có hai đường ống thông với bình nạp ga và bơm chân không để phục vụ

nạp ga cho hệ thống.

Hình 5.III-11 giới thiệu cách sử dụng cụm van và áp kế này để kiểm tra áp suất đường

thấp áp và đường cao áp của hệ thống điều hòa. Trước khi nối cụm áp kế với các van kiểm tra

của hệ thống, cần đóng các van của các cụm áp kế (van 1, van 2, bình nạp ga, và bơm chân

không). Sau khi động cơ chạy ổn đònh, để kiểm tra áp suất môi chất làm lạnh ở đường thấp áp,

mở van áp kế tương ứng với đầu nối, đọc kết quả rồi đóng van lại, sau đó chuyển sang kiểm tra

áp suất môi chất phía đường cao áp theo cách tương tự.



286



Technical Library



Hình 5.III-11. Sơ đồ kiểm tra áp suất môi chất giàn lạnh.

4.2.5. Rút ga (chất lạnh) khỏi hệ thống điều hòa không khí

Chất làm lạnh thường được hòa trộn với một loại dầu chuyên dùng để dễ lưu thông trong

hệ thống điều hòa không khí. Khi cần thay ga hoặc rút ga ra khỏi hệ thống để sửa chữa, phải

dùng thiết bò chuyên dùng gồm một bình chứa ga và bơm chân không. Với động cơ không hoạt

động, dùng bộ van nối với hệ thống như trên sơ đồ hình 5.III-11, nối ống nối giữa cụm van với

bơm chân không của thiết bò rút ga, mở tất cả các van rồi cho bơm chân không hoạt động. Bơm

sẽ hút môi chất làm lạnh của hệ thống đưa vào bình chứa, ở đây ga và dầu (môi chất) được tách

riêng. Thực hiện hút cho tới khi trong hệ thống có độ chân không thì tắt bơm, chờ 5 phút nếu áp

suất dương suất hiện trong hệ thống rồi lại bơm tiếp đế khi có độ chân không thì dừng lại. Nếu

độ chân không duy trì ít nhất 2 phút rồi là môi chất làm lạnh được hút ra hết.

4.2.6. Bổ sung dầu cho hệ thống

Việc bổ sung hoặc nạp dầu cho hệ thống được thực hiện sau khi rút ga khỏi hệ thống để

sửa chữa và trước khi tạo chân không cho hệ thống để nạp ga, hoặc sau khi thay một bộ phận

nào đó của hệ thống. Loại dầu và lượng dầu được nạp vào hệ thống phải đúng yêu cầu, nếu

không có tài liệu về lượng dầu cần nạp cho hệ thống thì cần nạp đúng bằng lượng dầu hút ra

trước khi sửa chữa hệ thống. Thông thường các hệ thống máy lạnh trên xe chứa tổng cộng

khoảng 240 cc dầu. Nếu thay máy nén hoặc một bộ phận nào đó của hệ thống thì bổ sung lượng

dầu bằng lượng dầu nằm trong bộ phận tháo ra để thay thế. Việc nạp hoặc bổ sung dầu được

thực hiện bằng cách rót trực tiếp dầu vào hệ thống rồi vặn chặt đầu nối lại.

4.2.7. Tạo chân không cho hệ thống

Việc tạo chân không trong hệ thống điều hòa không khí là để hút hết không khí và hơi

nước ra khỏi hệ thống. Việc này được thực hiện bằng cách nối ống hút của bơm chân không vào

van kiểm tra đường phía đường thấp áp của hệ thống rồi thực hiện hút chân không như trên hình

5.III-11, cố gắng hút đến độ chân không 750 mm cột nước, sau đó hút tiếp 30 phút rồi đóng các

van và dừng bơm chuyển sang nạp ga.

4.2.8. Nạp ga

Tổng lượng ga cần nạp cho hệ thống được quy đònh cụ thể trong sổ tay của hệ thống đó

hoặc ghi trên nhãn mác cùng tính năng kỹ thuật dán trên máy. Phương pháp nạp ga khá đơn

287



Technical Library

giản, các bình ga thường có áp suất cao nên chỉ cần nối ống dẫn từ bình ga vào van phía đường

thấp áp của hệ thống là ga sẽ tự động đi vào hệ thống vì trong hệ thống đang có độ chân không.

Khi nạp đặt bình ga lên bàn cân, nối ống nạp ga vào hệ thống rồi cho động cơ chạy, khi nào

bình ga giảm đi trọng lượng bằng lượng ga yêu cầu nạp thì khóa bình ga lại.

4.2.9. Thay các bộ phận trong hệ thống

Khi cần thay các bộ phận của hệ thống như: các đường ống, bộ lọc hay máy nén, trước hết

phải rút ga khỏi hệ thống, sau đó thay các bộ phận cần thiết rồi nạp lại dầu, tạo chân khôn g rồi

nạp lại ga như trên.

CÂU HỎI ÔN TẬP

1. Nêu các hư hỏng và phương pháp kiểm tra sự hoạt động của máy phát điện.

2. Nêu các hư hỏng và kiểm tra các thiết bò khởi động.

3. Nêu phương pháp kiểm tra hiện tượng hở mạch hoặc chập mạch trên ô tô.

4. Trình bày phương pháp kiểm tra hệ thống điều hòa không khí, phương pháp thay

nạp ga cho hệ thống.

5. Nêu cách kiểm tra tìm chỗ hở mạch điện sơ cấp của hệ thống đánh lửa.

6. Trình bày quy trình kiểm tra tìm chỗ hư hỏng của hệ thống đánh lửa khi mất tia lửa

điện cao áp ở bugi.

7. Trình bày quy trình kiểm tra, khắc phục hư hỏng khi không có xung điện thấp trên

mạch sơ cấp của hệ thống đánh lửa.

8. Kiểm tra hỏng hóc của cảm biến đánh lửa, môđun đánh lửa, biến áp đánh lửa và

bugi như thế nào?

9. Nêu các nguyên nhân và cách khắc phục hiện tượng tia lửa điện yếu, động cơ

không khởi động được.

10. Tại sao phải dùng bugi chuyên dùng cho kiểm tra để kiểm tra tia lửa cao áp của hệ

thống đánh lửa mà không dùng trực tiếp bugi của động cơ để kiểm tra?

11. Nêu sự khác nhau giữa kết quả kiểm tra tia lửa điện cao áp tại đầu nối bugi của

dây cao áp và tại đầu ra của cuộn dây thứ cấp của biến áp đánh lửa.

12. Giới thiệu cách kiểm tra xung điện thấp áp ở mạch sơ cấp của hệ thống đánh lửa

và kiểm tra tín hiệu xung điều khiển môđun đánh lửa.



288



Technical Library

PHẦN IV. SỬA CHỮA VỎ XE VÀ KÉO NẮN THÂN XE

I. QUY TRÌNH SỬA CHỮA VỎ XE



Đánh giá mức độ hư hỏng

(chọn phương pháp sửa

chữa)

(Búa và đe tay)



(máy hàn vòng đệm)



Tháo tấm cánh âm khỏi bề

mặt bên trong



Mài lớp sơn gốc ra khỏi bề

mặt làm việc



Sửa chữa vỏ xe bằng búa và

đe tay



Sửa chữa vỏ xe bằng máy

hàn vòng đệm



Xử lý nhiệt vỏ xe



Xử lý chống gỉ bề mặt bên trong

(lắp bộ cách âm)



1.1. Đánh giá mức độ hư hỏng.

Trước khi bắt đầu việc sửa chữa phải đánh giá mức độ hư hỏng rồi sau đó quyết đònh

phương pháp sửa chữa. Thông thường có 3 phương pháp đánh giá mức độ hư hỏng

1.1.1. Đánh giá bằng mắt thường

Xem xét sự phản xạ của ánh sáng đèn huỳnh quang trên vỏ xe để đánh giá mức độ hư

hỏng và biến dạng. Điều quan trọng là kiểm tra vùng hư hỏng và các chi tiết xung quanh nó

trong giai đoạn này, bở vì sẽ rất khó khăn để đánh giá chính xác hư hỏng khi việc sửa chữa đã

bắt đầu. Nếu bắt đầu sửa chữa từ điểm này, bề mặt sơn có thể ảnh hưởng.

1.1.2. Đánh giá bằng tay

Vuốt tay vào các vùng hư hỏng từ tất cả các hướng, không ép tay và tập trung cảm giác

vào tay. Để đánh giá các chỗ bò lõm bé, dòch chuyển của tay phải ở diện tích rộng và bao gồm

cả vùng không bò hư hỏng.

1.1.3. Đánh giá bằng thước



289



Technical Library

Đặt thước lên vùng không hư hỏng và kiểm tra khe hở giữa vỏ xe và thước. Sau đó, đặt

thước lên vùng bò hư hỏng và đánh giá sự khác nhau về khe hở giữa các vùng hư hỏng và không

hư hỏng.

Phương pháp đánh giá này có thể nhận biết vùng hư hỏng một cách rõ ràng hơn so với

phương pháp khác.

1.2. Tháo tấm cách âm khỏi bề mặt bên trong

Tháo các tấm cách âm (có tác dụng như một lớp đệm), tháo sao cho đe tay hay dụng cụ

nậy có thể tiếp xúc trực tiếp với bề mặt bên trong

1.3. Sửa chữa vỏ xe bằng tay và búa.

1.3.1. Sửa lại hình dáng của phần vỏ xe bò hư hỏng bằng đe tay và búa

Bảo bưỡng búa và đe tay: Do búa và đe tay ảnh hưởng trực tiếp đến vỏ xe, nên bề mặt của

chúng phải được giữ tròn và nhẵn. Nếu bề mặt của búa bò xước, nứt, nó có thể tạo ra các vết gờ

trên vỏ xe.

1.3.2. Sửa chữa vỏ xe bằng kỹ thuật gõ búa ngoài đe tay

Hình 5.IV-1 cho thấy cách sữa chữa một vết lõm rộng bằng kỹ thuật gõ búa ngoài đe tay.



Hình 5.IV-1. Kỹ thuật gõ búa ngoài đe tay.

Trong trường hợp hình (a), trên bề mặt bên ngoài không có điểm nhô cao lên. Nếu ép đe

tay ra phía ngoài, nó sẽ làm cho các điểm (A) bò nhô cao lên. Vùng (A) là biến dạng dẻo chu vi

được tạo ra do kết quả của việc đẩy vùng (B) ra. Do đó, vùng (B) phải được ép ra và vùng (A)

phải được gõ xuống. Khi vùng (A) ép xuống, vùng (B) (đang bò ép bằng đe tay) sẽ được chuyển

ra ngoài như hình (b).



Hình 5.IV-2. Cách sửa chữa vết lõm và phồng bằng kỹ thuật gõ búa ngoài đe tay.

Hình 1 cho thấy cách làm phẳng sự biến dạng phồng lên nhiều nhất. Vùng biến dạng

phồng lên này cũng là vùng bò biến dạng dẻo và biến dạng dẻo được giữ lại trong vùng này .

290



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

IV. SỬA CHỮA HỆ THỐNG PHỤ TẢI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×