Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
(ii) Nguyên nhân bên ngoài

(ii) Nguyên nhân bên ngoài

Tải bản đầy đủ - 0trang

trả nợ của các khách hàng trong nền kinh tế bị sụt giảm, các doanh nghiệp thu

hẹp sản xuất kinh doanh làm giảm nhu cầu về vốn vay, dẫn đến khó khăn

trong việc tăng trưởng dư nợ cho vay của ngân hàng, ngân hàng khó khăn

trong việc định hướng tăng trưởng dư nợ đối với từng đối tượng khách hàng.

Năm 2014 cả nước có 67.823 doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải

giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động (Thời báo tài chính Việt Nam,

28/12/2014). Phần lớn các doanh nghiệp giải thể là các doanh nghiệp có quy

mơ vốn nhỏ dưới 10 tỷ đồng, các doanh nghiệp này giải thể hoặc ngừng hoạt

động một phần là do trình độ quản lý kém, kém về nguồn nhân lực dẫn đến

hiệu quả hoạt động thấp nhưng một phần khó khăn do ảnh hưởng của nền

kinh tế.

Năm 2014, một số KHDN hoạt động trong các lĩnh vực như sản xuất

kinh doanh vật liệu xây dựng, thi cơng xây dựng cơng trình, sản xuất giấy…

đang có quan hệ tín dụng với NHCT Đơng Hà Nội cũng chịu tác động từ sự

suy giảm kinh tế, thu hẹp sản xuất, giảm nhu cầu về vốn vay. Số dư tín dụng

giảm là 90 tỷ đồng của 4 khách hàng doanh nghiệp.

Thứ hai, do chính sách của chính phủ, nhà nước thiếu rõ ràng

Chính sách của chính phủ, nhà nước là khuyến khích hay khơng khuyến

khích sẽ ảnh hưởng nhiều tới sự tồn tại và phát triển của nhóm khách hàng đó.

Nếu chính sách hạn chế thì các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đó gia

tăng khó khăn từ đó dẫn đến việc khách hàng gia tăng khả năng khơng trả được

nợ.

Chính sách cắt giảm đầu tư cơng theo nghị quyết 11/NQ-CP ngày

24/02/2011 làm giảm đầu tư công vào các dự án đầu tư từ các nguồn vốn có

ngân sách nhà nước, hạn chế đầu tư các dự án mới đã tác động đến các doanh

nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thi công xây dựng, các doanh nghiệp kinh

72



doanh vật liệu xây dựng; Khách hàng của Vietinbank Đông Hà Nội kinh doanh

trong lĩnh vực này gặp khó khăn về hoạt động, khó khăn về tài chính dẫn đến

khó khăn trong việc trả nợ vay cho ngân hàng, một số khách hàng phải cơ cấu

các khoản nợ do nguồn thu từ các cơng trình thanh tốn chậm.

Chính phủ ban hành các chương trình hỗ trợ ưu đãi lãi suất cho vay các

đối tượng khách hàng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông

thôn nhưng không hỗ trợ về nguồn vốn để cho vay. Khi áp dụng các chương

trình ưu đãi lãi suất này thì chênh lệch về lãi suất thu được thấp, ngân hàng

tăng quy mơ tín dụng nhưng tỷ lệ lợi nhuận tăng không tương ứng.

Các chính sách ban hành của các bộ, ngành, chính phủ còn chồng chéo,

các hướng dẫn khó thực hiện.

Thứ ba, do tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Tự do hóa thương mại có tác động tích cực cho các doanh nghiệp Việt

Nam có cơ hội phát triển, đem lại lợi ích lớn cho đất nước nhưng cũng là thách

thức cho các doanh nghiệp, trong đó có tác động tới hệ thống các ngân hàng

trong nước. Việc mở cửa thị trường tài chính ngân hàng làm các ngân hàng Việt

Nam phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt hơn từ các ngân hàng đến từ các khu

vực tài chính phát triển như Mỹ, Châu Âu,, Singapore, Nhật Bản…. Do vậy để

tiếp tục tồn tại phát triển quy mô những vẫn đảm bảo an toàn, hiệu quả các

NHTM Việt Nam cần phải chú trọng đổi mới công tác quản lý, điều hành.

Thứ tư, do những khó khăn về điều kiện tự nhiên, xã hội

Yếu tố tự nhiên như dịch bệnh, lũ lụt, hạn hán… ảnh hưởng đến các

khách hàng hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, chăn

nuôi gia súc gia cầm. Ảnh hưởng của yếu tố này đến khách hàng của Vietinbank

Đông Hà Nội không nhiều nhưng cũng là một trong những vấn đề cần xem xét

khi quyết định các chính sách ưu đãi cho vay. Các chính sách áp dụng cho vay

73



đối với các đối tượng khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực này cần phải được

xem xét, bổ sung các điều kiện để đảm bảo an toàn cho các khoản vay.

Với đặc điểm người Việt Nam quen sử dụng tiền mặt, hoạt động thanh

toán tiền hàng giữa các doanh nghiệp, cá nhân thường là tiền mặt để trốn thuế,

do đó ngân hàng khó có thể kiểm sốt mục đích vay vốn của khách hàng, dễ

dẫn đến tình trạng khách hàng sử dụng vốn sai mục đích. Ngân hàng sẽ gặp

khó khăn trong việc kiểm soát các khoản cho vay khách hàng.

Thứ năm, do năng lực và thơng tin khách hàng

Trình độ quản lý và nguồn lực kinh doanh của doanh nghiệp yếu kém

dẫn đến hoạt động khơng hiệu quả dẫn đến khó khăn trong việc hoàn trả vốn

vay cho ngân hàng; Hệ thống sổ sách kế toán của các doanh nghiệp vừa và

nhỏ tại Việt Nam chưa minh bạch, các thông tin vể khách hàng cập nhật qua

các cơ quan thuế chưa đầy đủ, kịp thời. Việc thẩm định, đánh giá khách hàng

của cán bộ ngân hàng thường thiếu căn cứ, chủ yếu dựa trên cơ sở khách hàng

cung cấp mà ít có tư liệu để kiểm chứng do vậy, để hạn chế rủi ro, các ngân

hàng thường yêu cầu khách hàng phải có TSBĐ để đảm bảo cho khoản vay.

Ngân hàng gặp rủi ro do tư cách của khách hàng vay vốn. Khách hàng

chủ ý lừa ngân hàng, tạo hồ sơ giả mạo đến vay ngân hàng. Hành vi lừa đảo

của khách hàng ngày càng tinh vi, cán bộ ngân hàng khó phát hiện.



74



CHƯƠNG 4

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ HOẠT

ĐỘNG TÍN DỤNG VIETINBANK ĐƠNG HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020

4.1. Bối cảnh mới tác động đến hoạt động tín dụng của các ngân

hàng thương mại

4.1.1. Bối cảnh quốc tế

Thứ nhất, ngày 05/10/2015, Bộ trưởng Thương mại các nước tham gia

đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đạt được thỏa

thuận cuối cùng. Việc tham gia vào hiệp định TPP là cơ hội rất lớn cho

Vietnam. Triển vọng mở rộng thị trường Việt Nam rất lớn, có ý nghĩa lớn cho

kinh tế Việt Nam, nhất là xuất khẩu. Hiệp định này sẽ giúp cải cách mạnh mẽ

về thể chế, tự do hóa thương mại, thúc đẩy các luật: luật doanh nghiệp, luật

đầu tư trong nước… tạo môi trường cạnh tranh mạnh mẽ, nâng cao năng lực

cạnh tranh trong nước.

Cơ hội lớn nhưng cũng đi kèm với thách thức lớn bởi vì các doanh

nghiệp Việt Nam hiện nay đang có năng lực cạnh tranh thấp. Tham gia TPP là

cơ hội giúp Việt Nam hoàn thiện thể chế trong đó có thể chế kinh tế thị

trường, có cơ hội để hồn thiện mơi trường kinh doanh theo hướng thơng

thống, minh bạch hơn, thúc đẩy đầu tư trong nước lần đầu tư nước ngồi.

Ngồi ra, tham gia TPP thì sức ép cạnh tranh trong lĩnh vực chăn nuôi,

nông nghiệp. Các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp cũng

bị ảnh hưởng. Tham gia TPP cũng là một cơ hội cho ngành tài chính ngân

hàng nhưng cũng tạo ra thách thức lớn trong hoạt động tín dụng của ngân

hàng.



Thứ hai, cộng đồng Kinh tế Asean (AEC) dự kiến được thành lập vào

cuối năm 2015 trong đó Việt Nam với vai trò là một thành viên của tổ chức,

thực hiện mục tiêu cuối cùng của hội nhập kinh tế. Mục tiêu của AEC nhằm

hình thành một khu vực kinh tế ổn định, có khả năng cạnh tranh cao, thúc đẩy

tăng trưởng và phát triển kinh tế của ASEAN. Nếu được thành lập, AEC là

một thị trường chung có quy mơ lớn, các thành viên có cơ hội tăng trưởng

kinh tế nhanh hơn, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài mạnh mẽ hơn, tăng

cường năng lực sản xuất và tính cạnh tranh, hội nhập sâu sắc hơn vào nền

kinh tế toàn cầu.

4.1.2. Bối cảnh trong nước

Thứ nhất, tình hình kinh tế xã hội của đất nước trong 6 tháng đầu năm

2015 diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới được dự báo trên đà hồi

phục nhưng chưa bền vững. Các chính sách nhà nước ban hành năm 2014 và

2015 đã phát huy tác dụng tạo điều kiện cho khu vực doanh nghiệp vượt qua

khó khăn. Các ngành, lĩnh vực tận dụng cơ hội thuận lợi trong và ngoài nước

triển khai thực hiện tốt các văn bản chỉ đạo, điều hành của Quốc hội và Chính

phủ, trọng tâm là Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2015 của Chính phủ

về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạp điều hành thực hiện kế hoạch

phát triển kinh tế - xã hội. Theo đó, một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ

yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội là tạo điều

kiện thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh; yêu

cầu các bộ ban ngành tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp, hợp

tác xã, hộ gia đình tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng để thúc đẩy sản xuất

kinh doanh có hiệu quả; Đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu, phấn đấu đến cuối

năm 2015 đưa tỷ lệ nợ xấu dưới 3% gắn với cơ cấu lại các tổ chức tín dụng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

(ii) Nguyên nhân bên ngoài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×