Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



Bên bị thiệt hại (bên có quyền) và bên gây ra thi ệt hại (bên có nghĩa v ụ) là

các bên tham gia vào các quan hệ dân sự. Bên có quy ền cũng nh ư bên có nghĩa

vụ có thể có một hoặc nhiều người tham gia. Nghĩa vụ, hoặc quy ền của h ọ có

thể là liên đới, riêng rẽ, hoặc theo phần tùy điều ki ện hoàn c ảnh và đ ối t ượng

bị xâm hại.

Khách thể của quan hệ nghĩa vụ này luôn th ể hiện dưới dạng “hành đ ộng”

phải thực hiện hành vi bồi thường cho người bị thiệt hai. C ơ s ở phát sinh nghĩa

vụ bồi thườn thiệt hại là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp lu ật” của

các chủ thể khác. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do pháp lu ật quy đ ịnh xuất

phát từ những nguyên tắc chung của Hiến Pháp và các nguyên tắc trong BLDS (1)

năm 2015 tại điều 3 đặc biệt tại khoản 4 quy định: “Việc xác l ập, th ực hi ện,

chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia

dân tộc lợi ích cơng cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không chỉ đảm bảo việc đền bù tổn

thất đã gây ra mà còn giáo dục mọi người về ý thức tuân th ủ pháp lu ật, b ảo v ề

tài sản xã hội chủ nghĩa tơn trọng quyền, và l ợi ích của người khác. H ậu qu ả

của việc áp dụng trách nhiệm này luôn mang đến nh ững b ất l ợi v ề tài s ản c ủa

người gây ra thiệt hại để bù đắp những thiệt hại mà họ đã gây ra cho các ch ủ

thể khác, đặc biệt đối với hành vi phạm tột với động cơ vụ lợi.

2. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Bộ luật dân sự 2015 được Quốc hội thông qua với nhiều nghị định sửa đổi,

bổ sung. Trong đó, điều kiện phát sinh trách nhiệm b ồi thường một trong

những chế định pháp luật có ý nghĩa quan tr ọng trong đời s ống dân s ự đ ể đ ảm

bảo lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi có thiệt hại xảy ra. Căn cứ phát sinh

trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của BLDS 2015 đã được sửa

đổi có tiến bộ hơn so với BLDS 2005. Cụ th ể, khoảng 1 Đi ều 584 quy đ ịnh:

“Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân ph ẩm, uy

tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thi ệt h ại thì

phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định

khác”. Qua đó, BLDS 2015 xác định căn cứ xác định trách nhi ệm b ồi th ường

thiệt hại là “hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại”. Theo quy định tại Đi ều

604 BLDS 2005 thì căn cứ là để xác định trách nhi ệm là có: “l ỗi c ố ý ho ặc vơ ý”



6



vì thế BLDS 2015 đã bao hàm người gây thiệt hại có hành vi trái pháp luật và

người bị thiệt hại khơng có nghĩa vụ chứng mình lỗi của người gây thi ệt hại đó

là điểm mới của BLDS 2015. Theo đó, trách nhiệm BTTH phát sinh khi có các

điều kiện:

2.1. Có thiệt hại xảy ra.

Đây là điều kiện đầu tiên để xác định bồi thường thiệt hại. Thiệt hại ở đây

được hiểu là thiệt hại thực tế làm giảm sút những l ợi ích v ật ch ất hoặc tinh

thần được pháp luật bảo vệ, trong thực tế không phải thiệt hại nào cũng bồi

thường bằng tiền chẳng hạn như về danh dự, tinh thần, nhân phẩm, uy tín v.v.

2.2. Hành vi thiệt hại phải trái pháp luật.

Hành vi của chủ thể được coi là vi phạm pháp luật khi chủ th ể xâm ph ạm

đến các quan hệ xã hội điển hình như là quyền và lợi ích hợp pháp c ủa người

khác. Bao gồm làm những việc mà pháp luật cấm, không làm những vi ệc pháp

luật buộc phải làm, thực hiện vượt quá giới hạn pháp luật cho phép ho ặc th ực

hiện không đầy đủ nghĩa vụ mà pháp luật quy định.. Chỉ những hành vi c ụ th ể

mới bị coi là hành vi vi phạm pháp luật; những ý nghĩ dù tốt dù x ấu cũng không

vi phạm pháp luật.

Trong một số trường hợp thì gây thiệt hại khơng trái pháp luật như phòng

vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ hoặc có sự đồng ý của ng ười

bị thiệt hại (Khoản 2 điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015). Nếu vượt q của

phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiệt thì phải bồi thường thiệt hại.

2.3. Mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật.

Hậu quả của hành vi gây thiệt hại phải do hành vi trái pháp luật gây ra,

thiệt hại xảy ra là do hành vi trái pháp luật tuân theo sự thật khách quan.

Nếu trong quá trình đánh giá chứng cứ khơng xác định được mối liên hệ

nhân quả thì khơng coi là vi phạm, khi xác định nguyên nhân thi ệt h ại thì ph ải

xác định đó là ngun nhân trực tiếp hay gián ti ếp đ ể làm c ơ s ở xác đ ịnh trách

nhiệm bồi thường thiệt hại hoặc các tình tiết tăng nặng hay gi ảm nhẹ trong v ụ

án hình sự.

2.5. Kết luận.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng phải có các điều ki ện

sau:



7

 Phải có thiệt hại xảy ra.

 Phải có hành vi trái pháp luật.

 Phải có mỗi liên hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu qu ả xảy ra.



Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, người bị thiệt hại

không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của bên gây thiệt hại, góp ph ần gi ảm b ớt

gánh nặng chứng minh của người bị thiệt hại. So với quy định của Bộ lu ật Dân

sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã mở rộng các trường hợp phải bồi

thường thiệt hại ngồi hợp đồng khi khơng có lỗi.

Đối với pháp nhân, BLDS 2005 chỉ liệt kê ba đối tượng bị xâm phạm là

“danh dự, uy tín, tài sản”.Quy định mới tại khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 đã

khắc phục được nhược điểm trên, theo đó, đối tượng bị xâm phạm làm phát

sinh trách nhiệm BTTH của cá nhân và pháp nhân bao g ồm “tính m ạng, s ức

khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác”.

Ngồi ra, Bộ luật Dân sự năm 2015 còn bổ sung các quy định:

– Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thi ệt hại

trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn

toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc lu ật có

quy định khác.

– Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người bị chi ếm hữu tài

sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

3. Các nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng( Điều 585 bộ luật

Dân sự 2015)





Thứ nhất: “ Thiệt hại phải bồi thường toàn bộ và kịp th ời. Các bên có th ể th ỏa

thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện v ật ho ặc

thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hay nhiều lần, trừ

trường hợp pháp luật có quy định khác”

Bồi thường “tồn bộ” và “kịp thời” là nguyên tắc được thể hi ện đầu tiên

trong các nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Nguyên tắc này đảm

bảo người có hành vi gây thiệt hại phải bồi thường tương xứng với toàn bộ

thiệt hại đã gây ra và bồi thường kịp thời, càng nhanh càng tốt để kh ắc ph ục

hậu quả. Pháp luật khuyến khích các bên đương sự tự th ỏa thu ận v ề m ức b ồi



8



thường, hình thức bồi thường, phương thức bồi thường. Tuy nhiên sự th ỏa

thuận không trái pháp luật và đạo đức xã hội.





Thứ hai: “Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô

ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của

mình”.

Đây là ngun tắc thể hiện tính nhân văn của pháp lu ật Vi ệt Nam. Tuy

nhiên, để giảm mức bồi thường thiệt hại thì người gây ra thiệt hại phải thỏa

mãn đủ hai điều kiện là có lỗi vô ý và thiệt hại gây ra quá l ớn so v ới kh ả năng

kinh tế của mình.







Thứ ba: “Khi mức bồi thường khơng còn phù hợp với thực tế thì ng ười b ị thi ệt

hại hoặc người gây thiệt hại có quyền u cầu Tòa án hoặc c ơ quan Nhà n ước

cơ thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường”.

Mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với thực tế, có nghĩa là do có

sự thay đổi về tình hình kinh tế, xã hội, sự biến động về giá cả mà mức b ồi

thường đang được thực hiện khơng còn phù hợp trong điều ki ện đó hoặc do có

sự thay đổi về tình trạng thương tật, khả năng lao động của người b ị thi ệt hại

cho nên mức bồi thường thiệt hại khơng còn phù hợp với sự thay đổi đó ho ặc

do có sự thay đổi về khả năng kinh tế của người gây thiệt hại.

Vì bộ luật dân sự 2005 chỉ nêu ra 3 nguyên tắc cơ bản về nguyên tắc bồi

thường ngoài hợp đồng được quy định tại điều 605 thì bộ luật Dân s ự 2015 b ổ

sung thêm hai nguyên tắc:







Thứ tư, khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì khơng được bồi

thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

Trong nhiều trường hợp bên bị thiệt hại là bên có phần l ỗi dẫn đến thi ệt

hại. Luật quy định bên bị thiệt hại sẽ không được bồi thường phần thi ệt hại do

lỗi của mình gây ra. Vậy chúng ta có 2 trường hợp:



9



 Một là, thiệt hại hồn toàn do người bị thiệt hại gây ra, nh ư vậy, người b ị thi ệt



hại sẽ không nhận được bồi thường, tức là người gây ra thi ệt h ại khơng có l ỗi

thì họ khơng phải BTTH.

 Hai là, thiệt hại một phần do người bị thiệt hại gây ra, còn một phần do l ỗi của



người gây thiệt hại, như vậy, người bị thiệt hại vẫn được bồi thường phần

thiệt hại khơng phải do lỗi của mình





Thứ năm, bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm khơng được bồi thường n ếu thi ệt

hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thi ết, h ợp lý đ ể ngăn ch ặn, h ạn

chế thiệt hại cho chính mình

Với ngun tắc trên thì người gây thiệt hại hoặc người bị thi ệt hại có th ể

yêu cầu thay đổi mức bồi thường khi mức bồi thường khơng còn phù hợp v ới

thực tế. Cụ thể là trong trường hợp mức bồi thường quá thấp gây bất lợi cho

người bị thiệt hại để khắc phục hậu quả gây ra hoặc mức bồi thường quá cao

làm ành hưởng lợi ích của người gây ra thiệt hại.

Nguyên tắc trên đã dự liệu các quy định của pháp luật không thay đ ổi k ịp

theo sự thay đổi của thực tế. Bởi pháp luật mang tính ổn định, tuy không bất

biến nhưng cũng không thể thay đổi từng gi ờ, từng ngày nh ư s ự phát tri ển c ủa

kinh tế, xã hội.

4. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thi ệt hại c ủa cá nhân (Đi ều 586

Bộ luật dân sự 2015)

4.1. Năng lực bồi thường thiệt hại của người từ đủ 18 tuổi.

Khoản 1 điều 586 BLDS 2015 quy định: “ Người từ đủ mười tám tuổi trở

lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường”. Theo đó, người từ đủ 18 tuổi trở lên

bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân s ự (tr ừ tr ường

hợp quy định tại điều 22, 23 và 24 BLDS 2015). Chính vì vậy, họ phải ch ịu trách

nhiệm do hành vi trái pháp luật bằng tài sản của chính mình.

4.2. Năng lực bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên.



10



4.2.1. Năng lực bồi thường thiệt hại của người dưới 15 tuổi.

Theo khoản 2 Điều 586 BLDS 2015 thì : ‘người chưa đủ mười lăm tuổi gây

thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi th ường tồn b ộ thi ệt h ại; n ếu tài

sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thi ệt h ại

có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thi ếu, tr ừ tr ường h ợp

quy định tại Điều 599 của Bộ luật này’. Như vậy, người dưới mười lăm tuổi tuy

đã có thể bằng hành vi của mình tạo ra quyền và nghĩa v ụ nhưng ch ưa có năng

lực hành vi dân sự đầy đủ, vì độ tuổi này cá nhân không nhận th ức đ ược h ết

việc mà mình thực hiện. Chính vì vậy, trách nhiệm bồi th ường giao cho cha m ẹ

hoặc người giám hộ của người gây ra thiệt hại. Trong trường hợp, cha, mẹ,

người giám hộ mang hết tài sản ra bồi thương mà khơng tủ thì người dưới 15

tuổi sẽ phải bồi thường (nếu có tài sản riêng) phần còn thiếu do vi ệc làm trái

pháp luật gây ra. Tại khoản 1 điều 599 BLDS 2015 quy định: “Người chưa đủ

mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp qu ản lý mà gây thi ệt h ại thì

trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra” . Trong trường hợp này người dưới

15 tuổi đang chịu sự quản lý của nhà trường mà gây thi ệt hại thì nhà tr ường

phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Nếu nhà trường chứng minh được

mình khơng có lỗi thì cha, mẹ, người giám hộ phải bồi thường thi ệt hại do hành

vi của người dưới 15 tuổi gây ra.

4.2.2. Năng lực bồi thường thiệt hại của người từ 15 tuổi đến dưới 18

tuổi.

‘Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tu ổi gây thi ệt hại thì

phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu khơng đủ tài sản đ ể b ồi th ường thì

cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản c ủa mình.’ Theo khoản 2

điều 586 BLDS. Như vậy ta thấy sự khác biệt giữa người dưới 15 tu ổi và người

từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi về cách thức dùng tài sản trong bồi thường thiệt hại.

Người dưới 15 mà gây thiệt hại thì cha mẹ, người giám h ộ ph ải l ấy tài s ản của

mình ra bồi thường. Còn người từ đủ 15 đến dưới 18 mà có tài sản riêng của

chính mình để bồi thường thiệt hại. Chỉ trừ trường hợp người từ đủ 15 đến

dưới 18 tuổi mà khơng có tài sản riêng khơng đủ để bồi thường thi ệt hại thì lúc



11



đó mới lấy tài sản của cha, mẹ ra bồi thường thi ệt hại. Các nhà làm lu ật quy

định như vậy vì thấy người trên mười lăm tuổi có khả năng lao đ ộng. Có nghĩa

là sẽ tạo được ra tài sản. Vì vậy, quy định này buộc người đủ mười lăm tuổi đến

dưới mười tám tuổi phải bồi thường thiệt hại. Qua đó giảm gánh n ặng đ ối v ới

cha mẹ của người gây thiệt hại.

4.3. Năng lực bồi thường thiệt hại của người giám hộ.

Theo khoản 3 điều 586 BLDS 2015 quy định: “ Người chưa thành niên,

người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nh ận th ức, làm ch ủ

hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì ng ười giám hộ đó đ ược dùng tài

sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ khơng có

tài sản hoặc khơng đủ tài sản để bồi thường thì người giám h ộ phải b ồi th ường

bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ ch ứng minh đ ược mình khơng có l ỗi

trong việc giám hộ thì khơng phải lấy tài sản của mình đ ể b ồi th ường’’.

Địa vị pháp lí của người giám hộ hồn tồn khác bi ệt so v ới đ ịa v ị pháp lí

của người là cha,mẹ của những người chưa thành niên,người mất năng lực

hành vi dân sự. Người giám hộ được quy định tại Điều 46 BLDS 2015, nghĩa vụ

của người giám hộ đối với người chưa thành niên và người mất năng l ực hành

vi dân sự được quy định tại Điều 55,56,77 BLDS 2015. Người giám hộ có trách

nhiệm bồi thường thiệt hại nếu có lỗi trong việc thực hi ện nghĩa v ụ của ng ười

giám hộ mà để người được giám hộ gây thiệt hại cho người khác. Người giám

hộ đương nhiên,giám hộ được xử đối với những người phải có giám hộ theo

quy định tại khoản 1, Điều 47 BLDS 2015 được dùng tài sản của người được

giám hộ để bồi thường. Người giám hộ có nghĩa vụ bổ sung.Tuy nhiên,nếu họ

chứng minh được rằng họ khơng có lỗi trong việc giám hộ thì h ọ khơng ph ải

lấy tài sản của mình để bồi thường. Trong trường hợp này sẽ khơng có người

bồi thường thiệt hại bởi những người được giám hộ khơng có khả năng về

năng lực hành vi để bồi thường nên người bị thiệt hại trong trường hợp này

xem như phải chịu rủi ro.

5. Bồi thường thiệt hại do nhiều người gây ra.



12



Theo quy định tại Điều 587 – Bộ luật dân sự năm 2015 về bồi thường

thiệt hại do nhiều người cùng gây ra như sau:

“Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó ph ải liên

đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi th ường c ủa t ừng ng ười

cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với m ức đ ộ l ỗi c ủa m ỗi ng ười; n ếu

không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi th ường thiệt hại theo ph ần b ằng

nhau.”

Như vậy theo quy định trên cùng gây ra thiệt hại có thể có các tr ường h ợp

sau:

 Thứ nhất, cùng cố ý gây ra thiệt hại, tức là có cùng ý chí, cùng nhau th ực hi ện



một hành vi hoặc là những người này khơng cùng ý chí nhưng đ ều có th ể nh ận

thức được hành vi đó là trái pháp luật, có th ể gây ra thi ệt hại nhưng vẫn th ực

hiện hành vi đó. Trường hợp này, nếu người bị gây ra thi ệt h ại khơng có l ỗi thì

đương nhiên những người gây ra thiệt hại phải bồi thường, còn trong trường

hợp người bị thiệt hại cũng có lỗi thì sẽ bồi thường thi ệt hại theo quy đ ịnh t ại

Điều 587 BLDS 2015.

 Thứ hai, cùng vô ý gây ra thiệt hại, trường hợp này nếu như người b ị thi ệt h ại



cũng có lỗi thì những người gây ra thiệt hại bồi thường theo quy định tại Đi ều

587 BLDS, nhưng nếu người gây ra thiệt hại hồn tồn khơng có l ỗi thì trách

nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng của những người cùng gây thi ệt

hại được xác định trong hai trường hợp liên đới bồi thường thiệt hại của chủ

sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ khi chủ sở hữu để người khác chiếm hữu sử

dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ và trách nhi ệm liên đ ới b ồi

thường thiệt hại của chủ sở hữu súc vật và người thứ ba khi họ cùng có l ỗi đ ể

súc vật gây thiệt hại cho người khác.

 Thứ ba, vừa cố ý vừa vô ý gây ra thiệt hại, trường hợp nay là g ộp lại gi ữa hai



trường hợp trên, hướng giải quyết sẽ tách ra thành từng bên có l ỗi vơ ý và có l ỗi

cố ý để giải quyết.



13



6. Thời hiệu khởi kiện.

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ th ể được quyền khởi ki ện đ ể yêu

cầu tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và l ợi ích h ợp pháp b ị xâm

hại; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi ki ện, tr ừ tr ường h ợp pháp

luật có quy định khác. Có một số bất cập vì nhiều trường hợp đến thời điểm bộ

luật dân sự 2015 có hiệu lực có thi hành thì quyền và l ợi ích h ợp pháp c ủa cá

nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích cơng cộng, l ợi ích của Nhà n ước b ị xâm ph ạm đã

quá 3 năm, tức là hết thời hiệu khởi kiện. Việc áp dụng thời hi ệu kh ởi ki ện là 3

năm đối với các tranh chấp, yêu cầu về dân sự đã được sửa đổi đ ể kéo dài th ời

hạn khởi kiện thêm 1 năm so với BLDS 2005, có lợi cho người bị hại.

7. Xác định thiệt hại.

Xác định thiệt hại được quy định tại mục 2 chương XX Bộ luật dân s ự

2015 có quy định các loại thiệt hại sau:

 Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm (Điều 589 BLDSnăm 2015): Thông thường, khi



tài sản bị xâm phạm, việc xác định thiệt hại thường dễ dàng hơn b ởi vì sự thi ệt

hại về tài sản thì ln ln được định giá một cách cụ thể, h ơn nữa thi ệt h ại v ề

tài sản phần lớn là sự mất mát, hư hỏng, hoặc tài s ản bị hủy ho ại nên th ường

có số liệu cụ thể.

 Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Điều 590 BLDS 2015): Khi xác đ ịnh thi ệt



hại do sức khỏe bị xâm phạm, Tòa án phải dựa vào các chứng từ do đương s ự

cung cấp để quyết định mức bồi thường. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy

định của pháp luật. Tuy nhiên có những khoản chi phí khơng th ể có hóa đ ơn

như: khoản chi phí th xe máy đưa người đi cấp cứu thường khơng có hóa đ ơn,

chứng từ nên khi xác định Hội đồng xét xử thường chỉ dựa vào thực tế chi phí

của người bị thiệt hại để xác định.

 Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm (Điều 591 BLDS 2015): Bao gồm chi phí

hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thi ệt hại trước khi

chết; Chi phí hợp lý cho việc mai táng; ti ền cấp dưỡng cho nh ững người mà



14



người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng và tiền bù đắp tổn thất tinh th ần cho

những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại.

Việc xác định khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt

hại có nghĩa vụ cấp dưỡng khơng có căn cứ cụ thể nên khi áp dụng pháp lu ật có

sự khơng thống nhất. Thơng thường, để đưa ra mức cấp dưỡng này, Tòa án

thường dựa vào hồn cảnh kinh tế gia đình cũng như mức thu nhập bình quân

để quyết định. Một số trường hợp, khi xét xử Hội đồng xét xử lại dựa vào m ức

lương tối thiểu để xác định mức cấp dưỡng, có trường hợp thì l ại xác định mức

cụ thể. Để pháp luật được áp dụng thống nhất cần cụ thể hóa khoản ti ền c ấp

dưỡng hoặc đưa ra các căn cứ để xác định khoản tiền bồi thường này.

 Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (Đi ều 592 BLDS 2015)



bao gồm: Chi phí hợp lý để hạn chế khắc phục thi ệt hại và thu nh ập th ực t ế b ị

mất hoặc bị giảm sút. Tùy từng trường hợp ngoài vi ệc buộc ch ấm d ứt hành vi

vi phạm, xin lỗi, cải chính cơng khai, Tòa án quyết định người gây thi ệt h ại do

hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín phải bồi th ường m ột khoản ti ền

bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị xâm phạm nhưng không v ượt quá

mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

 Việc xác định tổn thất về tinh thần thường khơng có c ơ sở, các tòa án th ường

dựa vào thực tế sự việc để quyết định nên thường mỗi tòa đưa ra một h ướng

giải quyết khác nhau. Nhiều thẩm phán cũng thừa nhận, việc tính tổn th ất tinh

thần trong từng vụ việc là khác nhau. Ví dụ như một nghệ sỹ bị đánh đến cụt

tay, mù mắt khơng thể tiếp tục nghề nghiệp của mình thì dù có áp dụng đ ến

mức tối đa bồi thường tổn thất cũng chưa tương xứng với những gì họ ph ải

chịu đựng. Một bé gái bị hiếp dâm làm cho hoảng loạn đến phát điên thì b ồi

thường đến bao nhiêu cũng sẽ là khơng đủ... Do đó, quy ết định ở mức nào, bao

nhiêu do tòa án quyết định trên cơ sở các chứng cứ có được và s ự công tâm c ủa

thẩm phán.

8. Thời hạn bồi thường.

Thời hạn bồi thường là khoảng thời gian mà người được bồi thường do

tính mạng sức khỏe bị xâm hại. Thời hạn bồi thường được xác định dựa vào

khả năng người bị thiệt hại tạo được thu nhập hay khơng? Sau khi đã ổn đ ịnh

được sức khỏe có phải cấp dưỡng nữa khơng, có phải hồi phục về tinh th ần



15



nữa không? Căn cứ vào khả năng lao động của họ để xác đ ịnh th ời h ạn đ ược

hưởng.

Chương II

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG.



1. Môi trường và ô nhiễm môi trường



Môi trường là hệ thuống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác

động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (Khoản 1 Đi ều 3

luật Bảo vệ môi trường năm 2014).

Ơ nhiễm mơi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không

phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi tr ường gây ảnh

hưởng xấu đến con người và sinh vật (Khoản 8 Đi ều 3 luật Bảo vệ môi

trường).

2. Hành vi gây ô nhiễm môi trường.



Hành vi gây ô nhiễm môi trường là hành vi gây ra sự bi ến đổi nhất định

về bản chất tự nhiên của môi trường sống. Những hành vi vi phạm pháp lu ật

bảo vệ môi trường rất đa dạng và phong phú.

 Những hành vi vi phạm pháp luật về môi trường:

1) Vi phạm các quy định về đánh giá tác động môi trường hoặc yêu cầu ghi l ại

phiếu thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường.

2) Vi phạm các quy định về bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên.

3) Vi phạm các quy định vệ sinh công cộng.

4) Vi phạm các quy định về bảo đảm và sử dụng các chất dễ gây ô nhi ễm; vi ph ạm

các quy định về phòng chống sự cố mơi trường trong tìm ki ếm, thăm dò khai

thác vận chuyển giầu khí; thăm dò khai thác hầm mỏ…

Như vậy, hành vi gây ô nhiễm môi trường

nhân tác động đến các yếu tố



là hành vi của tổ chức cá



tự nhiên, yếu tố vật chất nhân tạo bao quanh



con người, làm biến đổi các thành phần, tính chất của các y ếu t ố đó, gây h ại

đến sự phát triển và tồn tại bình thường của con người, tự nhiên.

a.



Bồi thường thiệt hại do hành vi ô nhiễm môi tr ường.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×