Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

A: khẩu phần căn bản cho giai đoạn 0- 3 tuần tuổi.

B: khẩu phần căn bản cho giai đoạn 3- 6 tuần tuổi.

TĂ căn bản giảm chuẩn: dưỡng chất được giảm 5%.

Enzyme phytase 4200U được bổ sung vào thức ăn với liều lượng là 125g/tấn

TA.

3.3. ĐỐI TƯỢNG THÍ NGHIỆM

Nguồn gốc: đàn gà Cobb 500 do công ty Emivest cung cấp, có xuất xứ từ Mỹ

và được nhập vào Việt Nam vào năm 1994 với gà giống bố mẹ.

Tất cả gà thí nghiệm đều đã được chủng ngừa đầy đủ các bệnh theo quy trình

của trại.

3.4. ĐIỀU KIỆN THÍ NGHIỆM

3.4.1. Chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi

Gà được nuôi trong chuồng lồng có sàn lưới, bao quanh chuồng được đóng

bằng những song tre, nắp chuồng bên trên. Kích thước mỗi ơ chuồng 0,7x 1,5m nền

lưới cách nền đất 0,8m, mỗi ô chuồng nuôi 10 con.

Các chuồng lồng được đặt sát nhau và xếp thành hai dãy song song. Ba lơ thí

nghiệm đều có số chuồng ni được phân bố đều ở hai dãy, đảm bảo độ đồng đều về

tiểu khí hậu.

Xung quanh chuồng được làm cỏ, rải vôi trước khi nuôi. Chuồng được dọn vệ

sinh, phun thuốc sát trùng hai lần và bỏ trống một tuần trước khi nuôi. Trước đầu

chuồng có hố sát trùng bằng vơi, trước khi vào chuồng đều thay dép và đi qua hố .

Khi trời lạnh thì có bạt bao quanh, khi thời tiết trở nên ấm hơn thì bạt được

cuốn lên cao để tránh nóng cho gà.

3.4.2. Qui trình chăm sóc và ni dưỡng

Chuẩn bị trong ngày nhập gà: kiểm tra nhiệt độ chuồng úm 350C. Mỗi

chuồng úm 10 gà con. Gà con sau khi chuyển về được cân từng con bằng cân nhỏ với

sai số là 1g, sau đó gà được phân lơ và đưa vào mỗi ô chuồng tương đương nhau.

Úm gà con: Nguyên lý úm gà là đảm bảo nguồn nhiệt như dùng gà mẹ ấp ủ cho

gà con, nếu để gà con trong tuần đầu thiếu nhiệt, gà sẽ yếu dần, tỉ lệ chết cao, nhất là

dễ mắc bệnh ascites (báng nước). Dùng chụp úm gà phía dưới đèn tròn 75W và nâng

dần độ cao của bóng đèn lên theo sự phát triển của gà. Tuần đầu úm gà ở 350C, tuần

16



Hình 3.1: Chuồng gà bố trí thí nghiệm



Hình 3.2: Gà 6 ngày tuổi



• Ni dưỡng và chăm sóc gà

Sau khi bắt gà về khoảng ba giờ, ta rải một nhúm nhỏ thức ăn đã trộn sẵn theo

công thức trên giấy lót sàn chuồng, gần vị trí đặt máng để gà tập mổ thức ăn trước. Sau

đó cho ăn trong máng nhựa hình chữ U nhỏ (dài 40cm, rộng 8cm) đặt bên trong

chuồng. Sau ba tuần đổi cho ăn 2 máng chữ U lớn (dài 70cm, rộng 10cm).

Giai đoạn đầu để tăng cường sức đề kháng của gà, chúng tôi bổ sung vào nước

Baytril để tăng khả năng tiêu hóa của gà con, Multivitamin và Lactobac-C tạo pH tốt

trong đường tiêu hóa, giảm tiêu chảy. Khi gà lớn 4- 5 tuần cho gà uống thêm thuốc

Hepanol để cải thiện, tăng cường chức năng gan, thận, ruột và loại thải các độc tố

trong giai đoạn sản xuất cao độ hay khi thay đổi khẩu phần. Máng uống được rửa và

thay nước 3- 4 lần trong ngày.

Sau ba ngày lấy giấy lót sàn ra và rải một lớp trấu mỏng dưới sàn, rải vôi sống

1 lần trong tuần để hút ẩm và giảm bớt mùi hôi của phân gà. Do giai đọan này gà còn

nhỏ, đi phân ít nên cuối giai đoạn úm phân sẽ được hốt đi cùng toàn bộ chất độn

chuồng cũ. Giai đoạn sau đó mỗi tuần chúng tơi sẽ hốt phân và thay mới toàn bộ chất

độn chuồng, rải vôi sống 2 lần/ tuần để hút ẩm và giảm bớt mùi hôi của phân gà.

Gà con 0-2 tuần tuổi cho ăn thức ăn đều đặn 4 lần/ ngày. Từ tuần thứ ba trở đi

cho ăn 3 lần/ ngày. Mỗi sáng rửa bình nước và pha nước mới cho gà uống, cho gà ăn.

17



Hình 3.3: Chuẩn bị nước cho gà

• Cơng tác thú y

Gà ni thí nghiệm được chủng ngừa đầy đủ các bệnh thường gặp, theo quy

trình của trại.

Trong q trình thí nghiệm, mỗi ngày gà được theo dõi, phát hiện bệnh và bệnh

được gửi mẫu chẩn đoán bệnh tại Bệnh viện Thú y trường Đại học Nông Lâm

TP.HCM và được điều trị theo quy trình của trại.

Chuồng trại được quét dọn hằng ngày, hố sát trùng được thay mỗi tuần. Thường

xuyên phát quang bụi rậm, khai thông cống rãnh.

3.4.3. Thức ăn thí nghiệm

Khi xây dựng khẩu phần cho gà con dựa vào tiêu chuẩn cụ thể theo từng giai

đoạn phát triển đảm bảo gà tăng trọng cao tương ứng cho từng giống.

Thường trộn thức ăn trong tuần, tránh dự trữ lâu thức ăn sẽ biến chất, mốc, xuất

hiện độc tố, nấm mốc rất hại cho đàn gà.

Liều lượng và cách bổ sung: chúng tôi tự pha trộn thức ăn theo cơng thức riêng

của lơ gà thí nghiệm giảm chuẩn, bổ sung enzyme phytase 4200U với liều lượng

125g/tấn thức ăn. Lúc đầu trộn đều sẵn các thực liệu với nhau trước, sau đó tách riêng

một phần nhỏ thức ăn trộn đều enzyme phytase. Tiếp sau xem phần thức ăn đã trộn

phytase như một phần thực liệu, ta trộn đều đồng nhất với phần thức ăn còn lại. Cuối

cùng cân thức ăn vào từng bao riêng cho mỗi ô chuồng với khối lượng mỗi bao như

nhau.



18



Bảng 3.2: Công thức thức ăn của gà thí nghiệm ( tỉ lệ %)

Giai đoạn gà con 0-3 tuần tuổi



Giai đoạn gà giò 4-6 tuần tuổi



(khẩu phần A)



(khẩu phần B)



Nguyên liệu thức

ăn (%)



Lô I

(ĐC)



Lô III

Lô II



(giảm

chuẩn)



Lô I

(ĐC)



Lô III

Lô II



(giảm

chuẩn)



Bắp vàng



72,260



72,260



63,300



77,808



77,808



70,64



Bột cá 55



25,880



25,880



12,670



20,704



20,704



10,136



Khô đậu nành 46



0,640



0,640



22,990



0,512



0,512



18,392



Lysine- HCl



0,350



0,350



0,200



0,280



0,280



0,160



Premix



0,250



0,250



0,250



0,200



0,200



0,200



DL-Methionine



0,180



0,180



0,220



0,144



0,144



0,176



L-Threonine



0,140



0,140



0,020



0,112



0,112



0,016



Muối ăn



0,110



0,110



0,250



0,088



0,088



0,200



0,100



0,100



0,100



0,080



0,080



0,080



0,090



0,090



0,010



0,072



0,072



0,008



Chorine chloride

60

L-Tryptophan



Bảng 3.3: Thành phần hóa học thức ăn gà thí nghiệm (theo tính tốn)



Chỉ tiêu dinh dưỡng



Giai đoạn gà con 0-3 tuần



Giai đoạn gà giò 4-6 tuần



tuổi



tuổi



Lơ I

(ĐC)



Lơ II



Lô III



Lô I

(ĐC)



Lô II



Lô III



Chất khô (%)



86,95



86,95



86,83



86,85



86,85



86,77



ME (Kcal/kg)



3200



3200



3050



3220



3220



3102



Béo thô(%)



5,27



5,27



4,00



4,83



4,83



3,87



Xơ thô(%)



1,63



1,63



2,79



2,21



2,21



3,10



Protein thơ(%)



21,00



21,00



22,89



18,5



18,5



20,10



19



Lysine (%)



1,50



1,50



1,45



1,25



1,25



1,22



Methionine (%)



0,68



0,68



0,65



0,58



0,58



0,56



Met.+Cys. (%)



0,94



0,94



0,92



0,83



0,83



0,56



Threonin (%)



0,95



0,95



0,9



0,82



0,82



0,79



Tryptophan(%)



0,27



0,27



0,25



0,23



0,23



0,21



Calcium (%)



1,32



1,32



0,74



1,07



1,07



0,60



Phospho TS(%)



0,86



0,86



0,64



0,74



0,74



0,56



Phospho HD(%)



0,67



0,67



0,39



0,55



0,55



0,33



NaCl(%)



0,35



0,35



0,34



0,60



0,60



0,43



Sodium(%)



0,15



0,15



0,15



0,21



0,21



0,17



Chloride(%)



0,55



0,55



0,51



0,68



0,68



0,58



Trong q trình thí nghiệm, các loại thực liệu dùng trong thức ăn lô giảm chuẩn

được mua nhiều lần trên thị trường nên thành phần hóa học thức ăn biến động khơng

đồng nhất.

Bảng 3.4: Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng mẫu thức ăn thí nghiệm

Chỉ tiêu (%)



Lơ I



Lơ II



Lơ III



Vật chất khơ



87,76



87,91



87,78



Protein



19,39



18,92



20,04



Béo



3,81



3,87



2,27







1,7



1,62



2,6



KTS



8,21



7,8



6,48



Kết quả được phân tích ở phòng phân tích mẫu thuộc bộ môn Dinh Dưỡng,

khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại Học Nông Lâm, TP.HCM.

3.5. CÁC CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP THEO DÕI

3.5.1. Tăng trọng

Cân trọng lượng gà lúc 1 ngày tuổi bằng cân nhỏ có độ chính xác 1g, lúc 21

ngày tuổi dùng cân 2kg có sai số cho phép là 5g, và lúc 42 ngày tuổi (xuất chuồng)

20



bằng cân 5kg với sai số 10g. Khi gà 3 tuần tuổi trở lên đã phân biệt được giới tính thì

cân riêng từng con, phân biệt trống mái. Ta tính trọng lượng trung bình của các gà

trống, trọng lượng trung bình của các gà mái có trong ơ chuồng, sau đó tính trọng

lượng trung bình chung của cả ơ chuồng.

Cân gà vào lúc sáng sớm, trước khi cho ăn. Cân từng con gà lúc mới nhập về,

lúc 21 ngày tuổi và lúc 42 ngày tuổi. Theo dõi các chỉ tiêu tăng trọng sau:

• Trọng lượng tích lũy hay trọng lượng sống (TTTL)(g/con): là trọng lượng

bình qn của gà ở mỗi lơ qua từng giai đoạn

• Tăng trọng tuyệt đối (TTTĐ)(g/con/ngày)= (trọng lượng cuối kỳ - trọng

lượng đầu kỳ)/ (tổng số ngày con nuôi)

Tăng trọng tuyệt đối: là số kg thể trọng tăng được trong giai đoạn theo dõi được

tính trên một đơn vị thời gian

Trọng lượng đầu kỳ: là trọng lượng của gà thí nghiệm ở đầu mỗi giai đọan, tính

bằng gram.Trọng lượng cuối kỳ: là trọng lượng của gà thí nghiệm ở cuối mỗi giai

đọan, tính bằng gram

Tổng số ngày con nuôi: là (tổng số ngày nuôi x tổng số con nuôi) ở mỗi giai

đoạn

3.5.2. Sự sử dụng thức ăn

Thức ăn tiêu thụ bình quân: thức ăn tiêu thụ được tính trong thí nghiệm bao

gồm lượng thức ăn gà ăn vào và lượng thức ăn rơi vãi mà thực tế khơng xác định được

riêng biệt. Do đó lượng thức ăn tiêu thụ được tính bằng cách cân lượng thức ăn còn lại

sau 21 ngày, 42 ngày (cân cùng lúc với ngày cân trọng lượng gà). Từ đó tính lượng

thức ăn tiêu thụ bình quân và hệ số chuyển biến thức ăn của gà trong từng giai đọan

theo cơng thức sau.

• Thức ăn tiêu thụ bình quân (g/con/ngày) = (lượng thức ăn tiêu thụ của lơ)/

(số gà ngày trong lơ)

• Hệ số chuyển biến thức ăn (HSCBTA) (kg thức ăn/ kg tăng trọng) = tổng

lượng thức ăn tiêu thụ trong giai đoạn theo dõi /tổng tăng trọng trong giai đoạn theo

dõi

Hệ số chuyển biến thức ăn là lượng thức ăn tiêu thụ để tăng (sản xuất) 1kg

trọng lượng

21



• Tỷ lệ ni sống (%) = (số gà cuối kỳ của lô)/ (số gà đầu kỳ của lơ) x 100

Trong đó tổng số gà còn sống cuối kỳ = tổng số gà đầu kỳ - (số gà chết + số gà

loại thải)

Gà loại thải dựa trên ngoại hình biểu hiện khơng tăng trọng, bệnh trong thời

gian dài. Những con chết hoặc loại thải sẽ được cân và ghi lại cân trọng, ngày loại thải.

3.5.3. Các chỉ tiêu mổ khảo sát

Gà đến giai đoạn kết thúc thí nghiệm (6 tuần tuổi) được cân và tính trọng lượng

bình qn cuối thí nghiệm. Sau đó chọn mỗi lơ 3 trống, 3 mái có trọng lượng trung

bình tương đương với trọng lượng trung bình của lơ để tiến hành mổ khảo sát phần

thân thịt. Trình tự mổ khảo sát được tiến hành như sau:

Cân trọng lượng sống của gà (cân từng con)

Trọng lượng tiết: tiết được lấy bằng cách cắt động mạch cổ cho tiết chảy ra hết,

sau đó cân lại được trọng lượng sau cắt tiết để được trọng lượng tiết

Trọng lượng tiết (g) = trọng lượng sống – trọng lượng sau cắt tiết



Hình 3.4: Cân gà kết thúc thí nghiệm

• Tỉ lệ tiết (%) = (trọng lượng tiết /trọng lượng sống ) x 100

Trọng lượng lông: gà sau khi được cắt tiết sẽ được nhúng nước nóng để nhổ bỏ

lơng và lớp sừng mọc ở da chân cho sạch và cân lại, được trọng lượng sau khi nhổ

lông

Trọng lượng lông (g) = trọng lượng sống – trọng lượng sau nhổ lơng

• Tỉ lệ lơng (%) = (trọng lượng lông / trọng lượng sống) x100

22



Trọng lượng quày thịt: bắt đầu cắt từ sau xoang bụng đi theo đường chỗ xương

ức, bỏ lòng, đầu, cổ, chân, chỉ để lại da cổ.

• Tỉ lệ quầy thịt (%) = (trọng lượng quầy thịt/ trọng lượng sống) x 100

Trọng lượng ức: phần thịt ngực được cắt gọn theo đường chéo của xương ức từ

phía sau về hai phía trước, cắt ngang phần xương khớp của xương cánh.

• Tỉ lệ ức (%) = (trọng lượng ức/ trọng lượng sống) x 100

Trọng lượng đùi: đùi được tách khỏi thân ở chỗ khớp hơng.

• Tỉ lệ đùi (%) = (trọng lượng đùi/ trọng lượng sống) x100

3.5.4. Kết quả lượng Phospho trong xương đùi

Đùi gà sau khi mổ khảo sát được lóc hết thịt nhưng chú ý vẫn giữ lại phần

xương sụn. Xương đùi được sấy khơ sau đó đem phân tích chỉ tiêu phospho tại bộ môn

Dinh Dưỡng khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm TP. HCM.

3.5.5. Kết quả lượng Phospho trong phân

Mẫu phân được lấy vào ngày thứ 42, lấy ngẫu nhiên, riêng biệt mỗi lơ 6 mẫu.

Sau đó, phân được đem sấy khơ và gửi phân tích chỉ tiêu phospho tại bộ môn Dinh

dưỡng khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm TP. HCM.

3.5.6. Hiệu quả kinh tế

Giữa các lơ thí nghiệm có sự khác biệt về tăng trọng, hiệu quả sử dụng thức ăn

của gà, về đơn giá thức ăn của từng lơ, còn các chi phí khác là như nhau. Vì vậy việc

đánh giá hiệu quả kinh tế sẽ chỉ dựa trên sự khác biệt về chi phí thức ăn cho sự tăng

trọng của gà ở các lô. Lấy kết quả lô I làm lơ đối chứng và so sánh với hai lơ thí

nghiệm còn lại.

• Chi phí thức ăn cho tăng trọng (đ/kg) = HSCBTĂ x đơn giá thức ăn.

Gà thí nghiệm được nuôi bằng thức ăn khác nhau trong giai đoạn gà con (1-21

ngày tuổi) và giai đoạn gà giò (22- 42 ngày tuổi) nên đơn giá thức ăn được tính theo

từng giai đoạn ứng với tăng trọng từng giai đoạn nuôi. Giá nguyên liệu được lấy ở một

thời điểm (tháng 11/2008)

3.6. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU

Tất cả số liệu thu thập được xử lý bằng Excel và phần mềm thống kê sinh học

Minitab 14.12



23



Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Sau thời gian tiến hành và theo dõi thí nghiệm từ 03/11/2008 đến 15/12/2008

chúng tôi thu được một số kết quả như sau:

4.1. TRỌNG LƯỢNG TÍCH LŨY (TLTL)

Bảng 4.1: Trọng lượng tích lũy bình qn qua 42 ngày ni

Ngày tuổi



Lô I (n = 8 ô)



Lô II (n=8 ô)



Lô III (n=8 ô)



(80 gà)



(80 gà)



(80 gà)



P



1



47,35 ± 1,61



47,28 ± 1,01



47,04 ± 1,13



> 0,05



21



836,48a ± 44,47



850,74ab ± 39,94



894,18b ± 39,86



< 0,05



42



2193,61± 110,07



2208,89 ± 81,33



% so với lơ I



100



100,70



2200,68 ± 117,94 > 0,05

100,32



Kí tự a, b: Trong cùng một hàng, sự sai khác giữa các giá trị trung bình có một

chữ cái khác nhau chỉ sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P < 0,05.

Trọng lượng gà lúc 1 ngày tuổi ở lô I là 47,35g, lô II là 47,28g và lô III là

47,04g, độ lệch chuẩn khoảng 1,01- 1,61. Qua xử lý thống kê, sự khác biệt về trọng

lượng ban đầu khơng có ý nghĩa thống kê với P> 0,05. Từ kết quả trên cho thấy: gà

đồng đều nhau về trọng lượng từ lúc bắt đầu thí nghiệm.

Sau 21 ngày ni thí nghiệm, trọng lượng tích lũy (trọng lượng sống) của gà ở

lô III cao nhất, kế đến là lô II và thấp nhất là lô I. Kết quả phân tích thống kê cho thấy

sự khác biệt này có ý nghĩa với P<0,05. So sánh kết quả giữa các lô ta thấy chỉ có

TLTL bình qn của gà lơ III khác biệt có ý nghĩa so với lơ I, còn TLTL bình qn của

gà ở các cặp lơ so sánh còn lại đều khác biệt khơng có ý nghĩa.

Sự khác biệt này có thể giải thích do giai đoạn này gia cầm còn non, bộ máy

tiêu hóa đang hồn thiện, đòi hỏi thức ăn dễ tiêu. Enzyme phytase giúp tăng khả năng

tiêu hóa các nguyên liệu, phân giải các phytin trong thức ăn, giải phóng P, các acid

24



amin, từ đó tăng khả năng tiêu hóa P, protein. Điều này phù hợp với nghiên cứu của

Rojas và Scott (1969) bằng các thí nghiệm invitro cho rằng phytase đã phân giải cả

dây nối giữa phytase và những hợp chất khác như protein, nhờ vậy tỉ lệ tiêu hóa của

protein thức ăn tăng lên và làm tăng giá trị ME của TĂ (trích từ Đỗ Hữu Phương,

2004).

Qua bảng 4.1 ta cũng nhận thấy: TLTL bình qn giai đoạn đầu của gà lơ II tuy

có cao hơn lơ I nhưng sự khác biệt này khơng có ý nghĩa. Do khẩu phần lơ II đầy đủ

dưỡng chất, gia cầm không cần tận dụng các dưỡng chất được phân giải thêm nên

cũng không làm cải thiện nhiều về tăng trọng.

Đến giai đoạn 42 ngày tuổi: TLTL bình qn ở ba lơ I, II, III lần lượt là

2193,61g; 2208,89g; 2200,68g với độ lệch chuẩn khoảng 81,33- 117,94g. Qua đó ta

thấy TLTL bình qn của gà lơ II là cao nhất, kế đến là lô III và lô I. Nhưng sự khác

biệt này không rõ rệt và không có ý nghĩa về mặt thống kê với P> 0,05.

Kết quả của chúng tôi cao hơn của Nguyễn Thị Hảo (2001) thí nghiệm trên

giống gà cơng nghiệp lúc 6 tuần tuổi đạt trọng lượng bình quân là 2074 g/con; Bùi Thị

Lệ Quyên (2003) cho kết quả trọng lượng gà lúc 6 tuần tuổi đạt 1822,5 g/con; Đặng

Thụy Tường Vy thử nghiệm ảnh hưởng của việc sử dụng axit formic và enzyme

phytase thay thế toàn bộ hoặc một phần kháng sinh trong thức ăn gà thịt công nghiệp

(2004) đã cho kết quả trọng lượng trung bình qn 6 tuần ở lơ đối chứng là 1994

g/con, lơ có bổ sung enzyme phytase là 1947g/con. Thí nghiệm sử dụng enzyme tiêu

hóa Allzyme SSF trong thức ăn gà thịt của Nguyễn Kim Thuận (2005) cho kết quả

trọng lượng tích lũy 6 tuần tuổi của lơ đối chứng là 2129 g/con, lơ có bổ sung enzyme

là 2191 g/con. Sự chênh lệch này có thể do khác biệt về giống gà, điều kiện thí nghiệm

và khẩu phần thức ăn.

Nhìn chung, qua 6 tuần thí nghiệm chúng tơi nhận thấy TLTL của gà giữa các

lơ thí nghỉệm khác biệt có ý nghĩa ở giai đoạn 3 tuần đầu (P<0,05). Các tuần sau đó

TLTL của gà khơng có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê (P>0,05



25



(gram) 2500



2193,61



2208,89



2200,68



2000



1500



1000



836,48



850,74



894,18



500

47,35 47,28



47,04



0

1



21

Lô I



Lô II



42



Lô III



(ngày tuổi)



Biểu đồ 4.1: Trọng lượng tích lũy bình qn của gà qua các giai đoạn tuổi (g/con)

4.2. TĂNG TRỌNG TUYỆT ĐỐI (TTTĐ)

Bảng 4.2.Tăng trọng tuyệt đối của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (g/con/ngày)

Ngày tuổi



Lô I



Lô II



Lô III



P



1- 21



36,80a ± 1,64



37,93ab ± 1,77



39,52b ± 1,22



<0,01



21- 42



61,50 ± 4,33



62,65± 7,69



60,62 ± 5,17



>0,05



1- 42



49,03 ± 2,82



50,13 ± 3,27



49,63 ± 2,25



>0,05



% so với lơ I



100



102,24



101,22



Kí tự a, b: trong cùng một hàng, sự sai khác giữa các giá trị trung bình có một

chữ cái khác nhau chỉ sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê với P<0,05.

Ở giai đoạn 1-21 ngày tuổi: TTTĐ của ba lô lần lượt từ cao đến thấp là lô III

(39,52g/con/ngày), lô II (37,93g/con/ngày) và lô I (36,80g/con/ngày), độ lệch chuẩn

trong khoảng 1,22- 1,77g/con/ngày. Sự khác biệt này rất có ý nghĩa với P<0,01. Đồng

thời nếu so sánh theo từng lô ta thấy TTTĐ của lơ III khác biệt có ý nghĩa thống kê so

với lơ I, còn TTTĐ lơ II khơng khác biệt có ý nghĩa so với lơ I và lô III.



26



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×