Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ghi nhận kết quả trọng lượng bình quân thu được qua các tuần tuổi cho thấy

gà ở lơ III có tốc độ sinh trưởng tốt hơn 2 lơ còn lại.

Bảng 4.1. Trọng lượng bình qn



của 3 lơ gà thí nghiệm qua 8 tuần tuổi





Tuần



F



TSTK



t̉i



I



II



III



n (con)



120



120



120



1 ngày



(g)



35,5c



38,4b



43,0a



tuổi



SD (g)



0,7



0,6



1,0



CV (%)



1,92



1,68



2,39



n (con)



120



120



120



(g)



184,3c



190,3b



195,8a



SD (g)



8,5



8,8



9,7



CV (%)



4,59



4,60



4,96



n (con)



120



120



120



(g)



502,7b



518,4b



538,3a



SD (g)



62,4



59,9



61,6



CV (%)



12,41



11,55



11,45



n (con)



120



120



120



(g)



998,8b



1022,4ab



1062,6a



SD (g)



137,9



176,7



141,2



CV (%)



13,8



17,3



13,3



n (con)



120



120



120



(g)



1502,8b



1539,3ab



1590,1a



SD (g)



209,4



207,5



208,6



CV (%)



13,9



13,5



13,1



2



4



6



8



***



***



**



**



**



Ghi chú: Các số trung bình cùng 1 hàng có ký tự khác nhau chỉ sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê; **: khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01; ***: khác biệt có ý nghĩa thống

kê với p < 0,001.



22



Trọng lượng bình qn của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi, ở tất cả các lô,

đều tuân theo quy luật sinh trưởng chung của gia cầm, tăng dần qua các tuần tuổi.

Theo Hồ Thanh Tùng (2011), khảo sát của ảnh hưởng bổ sung chế phẩm

polyenzim – VEM – K đến tăng trọng của gà Lương Phượng cho trọng lượng bình

quân lúc 8 tuần tuổi cao nhất là 1.507g/con và thấp nhất ở lô đối chứng là 1.400

g/con. So với kết quả của chúng tơi thì kết quả của Hồ Thanh Tùng thấp hơn.

Kết quả khảo sát của chúng tôi cũng cao hơn kết quả của Trần Đình Trí

(2009), khảo sát ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm BIO_FEED trên sự tăng

trọng của đàn gà Lương Phượng ở các mức lần lượt là 0; 2; 3 và 4‰ cho trọng

lượng bình quân 8 tuần tuổi cao nhất là 1.407,7 g/con và lô đối chứng thấp nhất là

1.401,2 g/con.; kết quả của Triệu Thị Phương (2009), khảo sát ảnh hưởng của chế

phẩm Multi I đến tăng trọng của đàn gà Lương Phượng từ 2 – 10 tuần tuổi ở cá mức

0; 0,05; 0,1 và 0,2% có trọng lượng bình quân lúc 8 tuần tuổi cao nhất là 1.477

g/con và thấp nhất ở lô đối chứng là 1.375 g/con; kết quả của Phan Thị Kim Yến

(2009), khảo sát ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm VEM.K đến mức tăng trọng

của gà Lương Phượng từ 2 – 10 tuần tuổi ở các mức 0; 6; 9 và 12 ml/kg thức ăn cho

trọng lượng bình quân 8 tuần tuổi cao nhất là 1.593 g/con và thấp nhất ở lô đối

chứng 1.402 g/con; và kết quả của Nguyễn Dương Trọng (2006), nghiên cứu sử

dụng chế phẩm tự nhiên thay thế kháng sinh trong chăn ni gà Lương Phượng có

trọng lượng bình quân lúc 8 tuần tuổi cao nhất là 1.329,2 g/con và thấp nhất ở lô đối

chứng 1.262,9 g/con.

Việc so sánh trọng lượng gà Lương Phượng qua các thí nghiệm khác nhau

của nhiều tác giả có kết quả khác biệt chỉ mang tính tương đối vì gà ni thí nghiệm

được bắt từ những trại khác nhau, có thể đã bị lai tạp nhiều giống, có trọng lượng

ban đầu khơng bằng nhau, hơn nữa việc chăm sóc, ni dưỡng, điều kiện chuồng

trại, ảnh hưởng của thời tiết lên các thí nghiệm là hoàn toàn khác nhau.

Như vậy, trong suốt 8 tuần khảo sát, chúng tơi nhận thấy trọng lượng ban đầu

có ảnh hưởng lên tăng trọng của gà thí nghiệm mà yếu tố này lại bị quyết định bởi

trọng lượng trứng giống khi đem vào cho ấp nở.



23



4.2. Tăng trọng ngày

Tăng trọng ngày là chỉ tiêu đặc trưng cho tốc độ sinh trưởng. Nó được thể

hiện bằng sự tăng lên về khối lượng trong một đơn vị thời gian giữa hai lần khảo

sát.

Tăng trọng ngày của 3 lô gà thí nghiệm ni trong giai đoạn 0 – 8 tuần tuổi

tính trung bình được trình bày qua bảng 4.2 và biểu đồ 4.1

Bảng 4.2. Tăng trọng ngày của 3 lơ gà thí nghiệm





Tuần tuổi

I



II



III



0–2



10,63



10,85



10,91



2–4



22,74



23,44



24,46



4–6



35,44



36,00



37,45



6-8



36,00



36,92



37,68



(g/con/ngày)



26,20b



26,80ab



27,63a



SD (g/con/ngày)



12,05



12,28



12,74



CV (%)



45,99



45,83



46,12



F



**



Ghi chú: Các số trung bình cùng 1 hàng có ký tự khác nhau chỉ sự khác biệt rất có

ý nghĩa thống kê; **: khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.

Dựa vào bảng 4.2 cho thấy tăng trọng ngày của 3 lô tăng dần qua các tuần

tuổi và đạt cao nhất ở giai đoạn 6 – 8 tuần tuổi. Cao nhất ở lô III là 27,63

g/con/ngày, kế đến lô II là 26,80 g/con/ngày và thấp nhất ở lô I là 26,20 g/con/ngày.

Qua xử lý thống kê cho thấy, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P < 0,01.

Kết quả của chúng tơi cao hơn của Nguyễn Dương Trọng (2006) có tăng

trọng ngày lô thấp nhất là 24,7 g/con/ngày và cao nhất là 25,7 g/con/ngày; cao hơn

của Trần Hòa Bình (2001) có kết quả tăng trọng ngày thấp nhất là 21,31 g/con/ngày

và cao nhất là 21,59 g/con/ngày. Tuy nhiên kết quả của chúng tơi lại thấp hơn của

Vũ Đình An (2009) có tăng trọng ngày từ 29,1 – 31,1 g/con/ngày.



24



Có sự khác biệt trên có lẽ do một vài yếu tố khách quan như khí hậu, thời

tiết, chuồng trại, cách chăm sóc, ni dưỡng và khẩu phần ăn khác nhau.



Biểu đồ 4.1. Tăng trọng ngày của 3 lơ gà thí nghiệm qua các tuần tuổi

4.3. Thức ăn tiêu thụ

Thức ăn tiêu thụ nhiều hay ít còn phụ thuộc vào chất lượng thức ăn cũng như

tình trạng sức khỏe của gà, cách chăm sóc quản lý...

Kết quả thí nghiệm cho thấy diễn biến tiêu thụ thức ăn của gà thí nghiệm

theo độ tuổi xảy ra tương tự như diễn biến về tăng khối lượng tuyệt đối của mỗi lơ

gà thí nghiệm. Điều này phù hợp với nhu cầu thức ăn thoả mãn cho nhu cầu sinh

trưởng và duy trì của chúng.

Thức ăn tiêu thụ được trình bày qua bảng 4.3

Qua giai đoạn khảo sát chúng tôi thấy tiêu thụ thức ăn hàng ngày của lô II là

cao nhất (66,5 g/con/ngày), kế đến là lô III (66,4 g/con/ngày) và thấp nhất là lô I

(62,4 g/con/ngày). Sự khác biệt giữa 3 lô về thức ăn tiêu thụ không có ý nghĩa thống

kê với P > 0,05.



25



Thức ăn tiêu thụ từ tuần thứ 6 đến tuần thứ 8 ở lô II cao nhất có lẽ do số gà

trống ở lô II nhiều (trống chiếm 48,97% cả đàn) , trong khi đó, lô I tỷ lệ trống chiếm

40% và lô III là 44,30%.

Theo Nguyễn Dương Trọng (2006), mức tiêu tốn thức ăn khi nghiên cứu sử

dụng chế phẩm tự nhiên thay thế kháng sinh trong chăn nuôi gà Lương Phượng từ

21,5 - 23,3 g/con/ngày. Kết quả này thấp kết quả khảo sát của chúng tôi.

Bảng 4.3. Thức ăn tiêu thụ của 3 lơ gà thí nghiệm nuôi trong giai đoạn 0 – 8 tuần

tuổi



Tuần tuổi





I



II



III



0–2



18,97



20,04



20,43



2–4



47,08



49,75



51,44



4–6



81,99



85,33



86,28



6-8



101,63



110,86



107,38



(g/con/ngày)



62,40



66,50



66,40



SD (g/con/ngày)



36,70



39,80



38,30



CV (%)



58,82



59,91



57,71



F



ns



Ghi chú: ns là khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

4.4. Hệ số chuyển biến thức ăn

Chi phí thức ăn trong chăn nuôi chiếm khoảng 70% giá thành sản phẩm . Do

đó hiệu quả sử dụng thức ăn sẽ quyết định hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi . Hệ số

chuyển biến thức ăn là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng thức ăn của con giống



,



nếu chỉ số này càng thấp thì mang lại hiệu quả kinh tế càng cao.

Kết quả của hệ số chuyển biến thức ăn được trình bày qua bảng



4.4 và biểu



đồ 4.2

HSCB TA qua 8 tuần khảo sát cao nhất là lô II (2,34 kg), kế đến là lô III

(2,28 kg) và thấp nhất là lô I (2,25 kg). Tuy nhiên qua xử lý thống kê, sự khác biệt

này khơng có ý nghĩa với P > 0,05.



26



Theo Viện Chăn Nuôi (2002), gà Lương Phượng ở 70 ngày tuổi tiêu tốn

TĂ/kg TT là 2,4 – 2,6, so với kết quả này thì kết quả của chúng tơi thấp hơn.

Kết quả của chúng tơi cũng thấp hơn của Trần Đình Trí (2009), nuôi gà

Lương Phượng với khẩu phần bổ sung chế phẩm BIO_FEED đã cho thấy tiêu tốn

TĂ/kg TT cao nhất là 3,46 kg và thấp nhất là 2,93 kg.

Theo Phan Thị Kim Yến (2009), khảo sát ảnh hưởng của việc bổ sung chế

phẩm VEM.K đến mức tăng trọng của gà Lương Phượng từ 2 – 10 tuần tuổi cho

tiêu tốn TĂ/kg TT lần lượt là 3,07; 2,88; 2,79 và 2,65 kg, kết quả này cũng cao hơn

kết quả khảo sát của chúng tôi.



Biểu đồ 4.2. Hệ số chuyển biến thức ăn



27



Bảng 4.4. HSCB TA của 3 lơ gà thí nghiệm nuôi trong giai đoạn 0 – 8 tuần tuổi





Tuần tuổi



I



II



III



0–2



1,79



1,85



1,87



2–4



2,07



2,12



2,10



4–6



2,31



2,37



2,30



6-8



2,82



3,00



2,85



(g/con/ngày)



2,25



2,34



2,28



SD (g/con/ngày)



0,44



0,49



0,42



CV (%)



19,59



21,11



18,29



F



ns



Ghi chú: ns là khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

4.5. Tỷ lệ nuôi sống

Tỷ lệ nuôi sống đánh giá khả năng thích nghi với môi t rường của đàn gà và

trình độ kỹ thuật chăm sóc của người chăn nuôi. Mặt khác chỉ tiêu này cũng phần

nào ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.

Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm được trình bày qua bảng 4.5.

Tỷ lệ nuôi sống ở tuần tuổi thứ 8 của gà Lương Phượng ở các lô I, II và III

lần lượt là 98,33%; 98,67% và 99,33%. Kết quả khảo sát của chúng tôi thấp hơn kết

quả khảo sát của Phan Thị Kim Yến có tỷ lệ ni sống các lơ đều là 100%.

So với kết quả khảo sát của Nguyễn Dương Trọng, tỷ lệ ni sống tích lũy

của các lơ lần lượt là 99,2%; 100%; 99,2% và 100% thì kết quả khảo sát của chúng

tôi cũng thấp hơn.



28



Bảng 4.5. Tỷ lệ nuôi sống





Chỉ tiêu

Số gà nuôi đầu kỳ (con)

Số gà chết (con)

Số gà còn sống cuối kỳ (con)

Tỷ lệ nuôi sống (%)



I



II



III



300



300



300



5



4



2



295



296



298



98,33



98,67



99,33



P



> 0,05



4.6. Các chỉ tiêu chất lượng thịt

Kết quả một số chỉ tiêu chất lượng quầy thịt được trình bày qua bảng 4.6 và

biểu đồ 4.3 và 4.4

4.6.1. Tỷ lệ quầy thịt

Tỷ lệ quầy thịt trung bình cao nhất là lơ III (73,62%) và thấp nhất là lơ I

(68,36%). Khơng có sự khác biệt về tỷ lệ quầy thịt giữa 3 lô với P > 0,05.

Theo Trần Quang Thành (2005), tỷ lệ quầy thịt của gà Lương Phượng lúc 70

ngày tuổi là 66,3%. So với kết quả này thì kết quả khảo sát của chúng tôi cao hơn.

Kết quả khảo sát của chúng tôi cũng cao hơn của Hồ Thanh Tùng (2011), tỷ

lệ quầy thịt cao nhất là 70% và thấp nhất là 67,64%.

4.6.2. Tỷ lệ ức

Tỷ lệ ức cao nhất là lô III (20,17%) và thấp nhất là lô I (18,78%). Qua xử lý

thống kê, sự khác biệt này khơng có ý nghĩa với P > 0,05.

So với kết quả tỷ lệ ức theo báo cáo của Đỗ Minh Khương (2011) dao động

trong khoảng 18,63 – 20,0% thì kết quả của chúng tơi có phần cao hơn.

4.6.3. Tỷ lệ đùi

Tỷ lệ đùi cao nhất là ở lô III (32,92%), kế đến là lô II (31,94%) và thấp nhất

là lô I (31,29%). Sự khác biệt về tỷ lệ đùi giữa 3 lô là có sự khác biệt về mặt thống

kê với P < 0,05.



29



4.6.4. Tỷ lệ mỡ bụng

Tỷ lệ mỡ bụng cao nhất là lô III (2,26%), kế đến là lô I (2,11%) và thấp nhất

là lô II (2,08%). Qua xử lý thống kê, sự khác biệt này khơng có ý nghĩa với P >

0,05.

Theo Bùi Thị Kim Phụng (2009), đã khảo sát ảnh hưởng của chế phẩm tỏi –

nghệ - gừng và rau muống trong thức ăn đến năng suất, phẩm chất quầy thịt và sức

sống của đàn gà Lương Phượng từ 1 – 12 tuần tuổi cho kết quả tỷ lệ mỡ bụng cao

nhất là 1,55% và thấp nhất là 0,95%. So với chúng tơi thì kết quả này thấp hơn.



Hình 4.1. Đùi và ức gà trống của 3 lơ



Hình 4.2. Đùi gà trống và mái của 3 lô



mổ khảo sát lúc 8 tuần tuổi



mổ khảo sát lúc 8 tuần tuổi



30



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×