Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.1: Minh họa bảng giá hợp đồng tương lai chỉ số VN30

Bảng 2.1: Minh họa bảng giá hợp đồng tương lai chỉ số VN30

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tuy nhiên, một tuần sau mở cửa, số tài khoản tính đến ngày 17/8/2018 đã vọt

lên trên con số 5.400. Thơng tin từ Trung tâm lưu ký chứng khốn ngày 18/8/2018

cho biết, hiện đã có 5.430 tài khoản sẵn sàng giao dịch phái sinh. Như vậy so với

ngày đầu tiên mở cửa thị trường, số tài đã tăng gấp đôi chỉ trong vòng 6 ngày.

Thanh khoản của thị trường phái sinh cũng gia tăng nhanh chóng. Ngày đầu tiên thị

trường chỉ giao dịch 36,5 tỷ đồng giá trị cả 4 kỳ hạn hợp đồng. Ngày 17/8, giá trị

giao dịch đã vọt lên con số trên 178,8 tỷ đồng giá trị giao dịch, tăng gần 5 lần. Tính

đến 10h30 của phiên sáng ngày 18/8, giá trị giao dịch trên thị trường phái sinh đã

đạt trên 97 tỷ đồng. Đặc biệt kỳ hạn ngắn nhất là Hợp đồng tháng 9, đáo hạn ngày



U







21/9/2017 đã giao dịch hơn 1.070 hợp đồng. Tổng số lượng hợp đồng giao dịch cho



TẾ



H



4 kỳ hạn là 1.300 hợp đồng.



Sự sơi động trên thị trường chứng khốn phái sinh ngày càng gia tăng khi vào



N

H



thời điểm tròn 1 tháng chứng khoán phái sinh đi vào hoạt động, con số thống kê



KI



từ Trung tâm lưu ký chứng khoán đã chỉ rõ con số hợp đồng hiện nay đã lên đến





C



85.641 hợp đồng, tương ứng giá trị giao dịch 6.450 tỷ đồng. Tính bình qn, khối



H



lượng giao dịch đạt 4.078 hợp đồng/phiên, giá trị giao dịch bình quân theo quy mô



Đ



ẠI



danh nghĩa đạt 307,1 tỷ đồng/phiên.



N



G



Tiếp đến, sau hơn 4 tháng đi vào hoạt động, thị trường phái sinh đã có bước







tăng trưởng tốt và ổn định. Tính đến hết ngày 15/12/2017, tổng khối lượng giao dịch



TR



Ư



(KLGD) đạt 946.326 hợp đồng, tổng giá trị tính theo quy mơ danh nghĩa hợp đồng

đạt hơn 81 nghìn tỷ đồng. Bình quân khối lượng giao dịch đạt 10.399 hợp

đồng/phiên, giá trị giao dịch đạt gần 900 tỷ đồng/phiên, tăng tương ứng xấp xỉ 21 và

24 lần so với phiên giao dịch đầu tiên. Giao dịch trên thị trường tập trung vào các hợp

đồng ngắn hạn, phù hợp với thông lệ quốc tế. Như vậy, thanh khoản thị trường phái

sinh từ ngày đầu thành lập đến nay đã tăng mạnh, đặc biệt, có những phiên tổng

KLGD đã đạt tới con số gần 28.000 hợp đồng/phiên – đây là một con số rất lớn.



48



Ngoại trừ một số thị trường đặc biệt phát triển (Nhật Bản khoảng 1 triệu hợp đồng),

thì ở một số thị trường trong khu vực, KLGD bình quân/phiên cũng chỉ dao động từ

130 nghìn đến 150 nghìn hợp đồng/phiên. Do vậy, việc đạt con số gần 28 nghìn hợp

đồng/phiên chỉ trong vòng 4 tháng thị trường khai mở là một con số thực sự ấn

tượng. Ngoài ra, cứ mỗi một tuần lại có một kỷ lục được phá vỡ; có nghĩa là KLGD

tuần sau ln vượt KLGD của tuần trước đó. Điều này thể hiện rất rõ xu hướng đi

lên của thanh khoản trong thị trường chứng khốn phái sinh.

Bên cạnh đó, dòng tiền vào thị trường cũng rất tích cực, khi hợp đồng mở (OI)







tháng sau luôn gấp đôi tháng trước. Tính đến 15/12/2017, khối lượng OI của tồn



U



thị trường đạt 6.796 hợp đồng gấp 34 lần so với phiên giao dịch đầu tiên. Điều này



TẾ



H



khơng chỉ chứng minh dòng tiền tham gia ngày càng lớn, mà còn thể hiện được sự



N

H



năng động hơn của nhà đầu tư trên thị trường chứng khốn.



KI



Về quy mơ, trong khoảng 4 tháng đầu, tổng giá trị giao dịch danh nghĩa của thị





C



trường phái sinh đạt 70 nghìn tỷ đồng; trong khi con số này trên thị trường UPCoM

là 24 nghìn tỷ đồng và hai sàn cổ phiếu niêm yết HOSE và HNX là 450 nghìn tỷ



ẠI



H



đồng. Như vậy, giá trị giao dịch danh nghĩa của thị trường phái sinh đã vượt thị



Đ



trường UPCoM và bằng gần 1/6 thị trường cổ phiếu niêm yết. Điều này cho thấy



N



G



sức hút dòng tiền của thị trường phái sinh là rất tích cực.



Ư







Và một điều đặc biệt hơn nữa khi so sánh về con số nhà đầu tư giữa thị trường



TR



cơ sở và phái sinh. Tính tới thời điểm hiện tại, số lượng tài khoản nhà đầu tư phái

sinh đạt khoảng hơn 14 nghìn tài khoản, chỉ chiếm 0,8% so với tổng số tài khoản

nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán (khoảng hơn 1,9 triệu tài khoản), nhưng lại

chiếm khoảng 14,5% giá trị giao dịch danh nghĩa tồn thị trường cổ phiếu (70/480

nghìn tỷ đồng).

Ơng Nguyễn Thành Long – Chủ tịch Hội đồng quản trị Sở giao dịch chứng

khoán Hà Nội (HNX) cho biết: “Qua theo dõi và quan sát thị trường, cứ tuần nào thị

trường cơ sở và VN-Index biến động mạnh, thì khối lượng giao dịch trên thị trường

phái sinh cũng rất lớn. Mặc dù chưa phản ánh được tất cả, nhưng điều này phần nào



49



cho thấy, phái sinh đã và đang dần trở thành cơng cụ phòng ngừa rủi ro cho nhiều

nhà đầu tư đang tham gia giao dịch. Bởi bản chất hai thị trường này là có tính liên

thơng, tỷ lệ thuận với nhau về mặt diễn biến. Tôi cho rằng, đây là vai trò của phái

sinh, khi góp phần giảm bớt biến động mạnh trên thị trường cơ sở. Tuy nhiên, đây

là thị trường mới, do đó vẫn phải cần thêm thời gian để khẳng định được vai trò

phòng ngừa rủi ro của mình. Khi thị trường đủ mạnh số lượng nhà đầu tư tham gia,

đặc biệt là nhà đầu tư tổ chức, thì vai trò này sẽ được thể hiện rõ nét hơn.”

2.2 Kết quả thực nghiệm







2.2.1 Dữ liệu nghiên cứu



H



U



2.2.1.1 Nguồn dữ liệu



TẾ



Số liệu sử dụng trong bài nghiên cứu là chuỗi chỉ số VN30 và giá hợp đồng



N

H



tương lai VN30 theo thời gian với tần suất phút trong ngày được thu thập trong



KI



khoảng thời gian từ ngày 07/09/2017 đến ngày 07/03/2018. Dữ liệu được cung cấp





C



bởi Công ty Cổ phần Chứng khốn Sài Gòn SSI.



H



Về thời gian giao dịch, thị trường chứng khoán phái sinh mở cửa trước thị



ẠI



trường cơ sở 15 phút và đóng cửa khi kết thúc cùng thị trường cơ sở. Vì thế, trong



Đ



khoảng thời gian từ 9:00 – 9:15, chỉ số VN30 sẽ khơng có dữ liệu vì thị trường chưa



N



G



giao dịch trong khi giá hợp đồng tương lai VN30 có dữ liệu (1). Ngồi ra, trên thực







tế, sẽ có sự đột biến trong bậc nhảy thời gian giữa chỉ số VN30 và giá hợp đồng



TR



Ư



tương lai VN30, dẫn đến tồn tại điểm thời gian, chỉ số VN30 có dữ liệu nhưng giá

hợp đồng tương lai VN30 khơng có dữ liệu hoặc ngược lại (2).

Nếu theo nguồn dữ liệu gốc ban đầu, ta có số mẫu quan sát như sau:

Chỉ số VN30

Số mẫu quan sát



22.517



50



Giá hợp đồng tương lai

VN30

29.218



Tuy nhiên, dữ liệu dùng để phân tích mối quan hệ giữa chỉ số giá VN30 và giá hợp

đồng tương lai VN30 là dữ liệu chuỗi thời gian nên cần phải loại trừ các trường hợp

(1) và (2) đã đề cập ở trên. Sử dụng phần mềm Excel với tính năng của hàm Vlook

và chức năng Filter, ta được dữ liệu chuỗi thời gian với số mẫu quan sát đồng nhất

là 21.690.

Hai số liệu sau khi đã qua q trình xử lý này cũng chính là hai biến sẽ được

tiến hành nghiên cứu trong bài luận.

• Ft: Giá hợp đồng tương lai VN30



U







• St: Chỉ số giá VN30



H



2.2.1.2 Thống kê mơ tả



TẾ



Đầu tiên, để có cái nhìn tổng quát về đặc tính của hai biến, bài nghiên cứu sẽ



N

H



phân tích sơ bộ các đặc trưng kỹ thuật của dãy số liệu thu thập được thông qua các



KI



đại lượng như trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất,





C



hệ số bất đối xứng và hệ số nhọn. Kết quả thống kê mô tả hai biến được trình bày



H



trong bảng sau:



Đ



ẠI



Bảng 2.2: Thống kê mơ tả dữ liệu



Ft



21690



926548.7



St



21690



Median



Maximum



Minimum



Std. Dev.



Skewness



Kurtosis



940300.3



1126100.



764800.0



112012.1



0.169653



1.657977



925.9350



1118.080



775.8100



109.1159



0.251294



1.694695



G



Mean



TR



Ư







N



N



923.9240



(Nguồn: Trích xuất từ kết quả xử lý dữ liệu bằng phần mềm Eview)

Dựa trên kết quả thống kê mơ tả, có thể thấy rằng độ lệch chuẩn (Std. Dev.),

hay nói cách khác là mức độ phân tán giữa giá trị thực tế và giá trị trung bình của

chuỗi giá hợp đồng tương lai VN30 và chuỗi chỉ số giá VN30 là tương đối nhỏ,

tương ứng là 112012.1 và 109.1159



51



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.1: Minh họa bảng giá hợp đồng tương lai chỉ số VN30

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×