Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tôi dã tiến hành khảo sát và thực nghiệm ở lớp 5A đây là lớp học mà tôi được

nhà trường phân công trực tiếp giảng dạy.Tôi đã tiến hành khảo sát trong tuần 21

và tuần 22 năm 2018 với kết quả như sau:

Tổng Số:



Điểm: 9 -10:



Điểm 8-7:



Điểm 5-6:



Dưới 5:



Với kết quả khảo sát trên tôi thấy rằng:

- Chất lượng học sinh về mơn Khoa học còn rất thấp.

- GV chưa có kinh nghiệm khi dạy các dạng bài về Thí nghiệm - CM.

- Tỉ lệ học sinh đạt số bài khá, giỏi còn rất hạn chế.

- Kĩ năng làm các thí nghiệm của học sinh theo sự hướng dẫn của giáo viên còn

chưa tốt.

- Khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh còn hạn chế .

III.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Xuất phát từ những tồn tại của năm học trước và cơ sở thực trạng nói trên, việc

nghiên cứu đổi mới và dạy kiểu bài thí nghiệm chứng minh ở mơn khoa học trong

trường Tiểu học là một việc làm cần thiết nhằm khắc phục tháo gỡ dần từng bước

thực trạng nói trên nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy phát huy mọi đối tượng học

sinh trong lớp tham gia vào việc lĩnh hội tri thức.

Tơi mạnh dạn nghiên cứu tìm hiểu các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng

dạy và học môn khoa học trong trường Tiểu học kiểu bài thí nghiệm chứng minh

cho học sinh dựa trên phương pháp:

-Phương pháp phân tích tổng hợp: Đọc và nghiên cứu tài liệu khái quát thành

một số khái niệm và luận điểm chung.

-Phương pháp khảo sát, đánh giá .

-Xây dựng mơ hình nghiên cứu.

-Phỏng vấn, điều tra thực trạng.

-Lựa trọn phương pháp và nguyên tắc dạy phân môn khoa học kiểu bài thí

nghiệm chứng minh.

-Phương pháp thực nghiệm.

4



-Phương pháp tổng kết đánh giá, đúc rút kinh nghiệm.

- Phương pháp kiểm tra qua bài thi.

IV.NHỮNG CÔNG VIỆC THỰC TẾ ĐÃ LÀM:

Xuất phát từ những yêu cầu về phương pháp thí nghiệm chứng minh trong

quá trình thực hiện kinh nghiệm “ Sử dụng phương pháp thí nghiệm chứng minh

ở mơn khoa học Lớp 5 trong trường tiểu học ”.

Để đạt được những yêu cầu đó tơi đã tiến hành ở cả hai khâu: Soạn bài và

giảng bài trên lớp đây là hai khâu quan trọng của cả một quá trình lên lớp của

người giáo viên. Cụ thể:

1. Đối với việc soạn bài:

Việc soạn bài tuy chỉ là khâu chuẩn bị chi việc giảng bài mới trên lớp của

người giáo viên. Nhưng đây lại là một khâu quan trọng của quá trình lên lớp. Bài

soạn được chuẩn bị kĩ càng chu đáo, quan tâm đến các đối tượng học sinh, nó sẽ

quyết định rất lớn đến thành cơng của một giờ dạy. Nó cũng giống như sự chuẩn bị

kĩ càng cho một trận đánh trong quân sự... muốn trận đánh đó giành thắng lợi nó

phụ thuộc rất nhiều vào sự chuẩn bị của người chỉ huy. Do vậy quá trình soạn bài

của người giáo viên tôi đã đi theo các bước sau đây:

a). Bước thứ nhất:

Nhiệm vụ đầu tiên trong khâu soạn bài, tôi đã đi sâu vào nghiên cứu kĩ nội

dung kiến thức của bài học trong sách giáo khoa, sách hướng dẫn của giáo viên.

Rồi tìm đọc các sách tham khảo những tài liệu có liên quan đến kiến thức của bài

học để bổ sung, cung cấp mở rộng cho bài giảng. Vì qua thực tế giảng dạy tôi thấy

một số kiến thức khoa học rất trừu tượng đối với học sinh. Do vậy người giáo viên

không nghiên cứu kĩ nội dung của bài sẽ dẫn tới lời của thầy giảng học sinh khơng

hiểu gì cả, xa rời thực tế. Đặc biệt nghiên cứu nội dung kiến thức bài học sẽ giúp

học sinh, giáo viên chuẩn các dụng cụ cần thiết cho bài học.

b) Bước thứ hai:



5



Tiếp đó giáo viên phải xác định rõ mục đích u cầu của bài để có định hướng

trong giảng dạy đặc biệt là kiến thức trọng tâm. Trong quá trình soạn bài giáo viên

phải xác định rõ xem phần nào là kiến thức trọng tâm cần truyền thụ trên lớp thì đi

sâu. Còn phần nào là kiến thức phụ, kiến thức minh hoạ thì có thể lướt qua. Vì nếu

giáo viên khơng xác định rõ xem phần nào là kiến thức trọng tâm cần truyền thụ,

giáo viên không trách khỏi những giờ dạy không thành công “ cháy giáo án ”

không khắc sâu kiến thức, dẫn tới học sinh chán học bộ mơn.

Ví dụ: Dạy bài 26 : Đá vôi.

GV xác định rõ kiến thức trọng tâm của bài học là:

- Phát hiện tính chất của đá vơi bằng cách thí nghiệm cọ sát 1 hòn đá cuội và 1

hòn đá vơi - nêu nhận xét .

- Đá vơi dùng để làm gì ?

- Hoặc ví dụ dạy bài 30: Cao su. Kiến thức trọng tâm là: Nêu được tính chất của

cao su,ứng dụng của cao su.

c). Bước thứ 3:

Đây là một trong những bước quan trọng nhất đó là bước người giáo viên

chuẩn bị các dụng cụ, vật liệu, các điều kiện thí nghiệm. Trên cơ sở kiến thức trọng

tâm đã được xác định, giáo viên phải biết lựa chọn các dụng cụ vật liệu cần thiết

cho giờ học. Đây là một trong những khâu quan trọng nhất của khâu soạn bài nếu

người giáo viên chuẩn bị chu đáo nó sẽ thu hút được sự chú ý của học sinh.Để cho

thí nghiệm thành cơng giáo viên phải làm đi, làm lại thí nghiệm đó nhiều lần trước

khi chuẩn bị dạy bài đó. Có như thế giáo viên mới hướng dẫn được học sinh làm

thành cơng thí nghiệm.

Chẳng hạn khi dạy bài 26: “ Đá vôi" Giáo viên và học sinh cần chuẩn bị như

sau ( Học sinh chuẩn bị theo nhóm ).

- Một hòn đá cuội, 1 hòn đá vơi.

- Một ít dấm chua hoặc a- xít lỗng.

- Hai khay nhỏ bằng nhựa hoặc thuỷ tinh.

6



d). Bước thứ tư:

Công việc cuối cùng của khâu soạn bài của giáo viên là khâu soạn giáo án .

Giáo án của người thầy lên lớp, nó giống như bản vẽ kĩ thuật của những nhà kĩ sư

xây dựng... Do đó trong giáo án của người giáo viên để dạy do giáo viên thiết kế

phải thể hiện rõ 5 bước của một quy trình lên lớp (tổ chức, kiểm tra bài cũ, giảng

bài mới, củng cố và hướng dẫn học sinh học ở nhà). Trong đó đặc biệt là giảng bài

mới , giáo án phải thể hiện rõ công việc của thầy và của trò; phương pháp thí

nghiệm chứng minh các dụng cụ, vật liệu, có hệ thống câu hỏi logic phù hợp với

từng đối tượng học sinh. Đặc biệt thông qua các thí nghiệm chứng minh có những

câu hỏi để phát huy tư duy sáng tạo của học sinh thích tìm tòi khám phát thế giới tự

nhiên.

2. Tiến trình bài giảng trên lớp:

Đây là một khâu quan trọng được tiến hành trên lớp khi đã được chuẩn bị kỹ

lưỡng ở khâu soạn bài đến việc xác định kiến thức trọng tâm , chuẩn bị các dụng

cụ, vật liệu cần thiết . Cụ thể :

a- Khâu kiểm tra bài cũ:

Khi kiểm tra bài cũ tôi thường kiểm tra bài học giờ trước. Sau đó tơi kiểm tra

sự chuẩn bị của học sinh(dụng cụ). Bước kiểm tra các dụng cụ đầu giờ học rất quan

trọng nếu các em đem thiếu một dụng cụ nào đó sẽ khơng làm được thí nghiệm

chứng minh ảnh hưởng rất lớn đến việc nắm kiến thức mới.

Ví dụ: Trước khi chuyển sang học bài mới bài 26: “Đá vơi ” khi kiểm tra bài

cũ giáo viên có thể đặt câu hỏi:

- Nhơm có tính chất gì? Nêu 1 số đò vật làm bằng nhơm.

b -Trong bước giảng bài mới:

Đây là một nội dung quan trọng nhất, chiếm một thời gian dài nhất trong cả

một quy trình lên lớp của người giáo viên. Để dạy tốt kiểu bài phương pháp thí

nghiệm chứng minh tơi đã đi theo các bước sau đây:

*Bước 1:

7



Giáo viên nêu mục đích của thí nghiệm.

Chẳng hạn khi dạy bài26: “ Đá vơi”:

Mục đích của thí nghiệm 1: Chứng minh đá vơi khơng cứng lắm.

-Hoặc mục đích của thí nghiệm 2 trong bài là: Chứng minh dưới tác dụng của a-xít

thì đá vơi sủi bọt.

*Bước 2: Chuẩn bị các dụng cụ, vật liệu.

Giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị các d/ cụ, vật liệu, các điều kiện t/ nghiệm.

Ví dụ khi dạy bài 26: "Đá vơi".

u cầu học sinh chuẩn bị : 1 hòn đá cuội, 1 hòn đá vơi, 1 ít dấm chua, 2

khay nhỏ.

*Bước 3: Cách làm thí nghiệm giáo viên nêu cách làm thí nghiệm.

-Thực hiện thao tác nào? Trên vật gì?

-Quan sát dấu hiệu gì? Trên vật nào? Bằng giác quan nào?

Ví dụ khi dạy bài 30 : “ Cao su":

Giáo viên hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm :

- Ném một quả bóng cao su xuống sàn nhà.

- Kéo căng 1 dây cao su.

- HS quan sát và nêu nhận xét.

*Bước 4: Tiến hành thí nghiệm.

- Học sinh được bố trí, lắp ráp các dụng cụ thí nghiệm theo các bước đã

vạch ra.

- Học sinh làm thí nghiệm có thể theo nhóm, cá nhân.Tuỳ từng thí nghiệm,

tuỳ trình độ học sinh giáo viên có thể, thể hiện vai trò của mình trong dạy học theo

phương pháp thí nghiệm ở các mức độ khác nhau.

Chẳng hạn:

-Thí nghiệm khó làm giáo viên làm mẫu , hướng dẫn học sinh làm theo.

-Hoặc giao nhiệm vụ, giúp đỡ học sinh từng bước tiến hành thí nghiệm.



8



-Hoặc giáo viên giao nhiệm vụ, học sinh tự làm, theo dõi và hướng dẫn kịp

thời nếu giáo viên thấy cần thiết.

*Bước 5: Phân tích kết quả và kết luận.

Sau khi học sinh làm thí nghiệm yêu cầu phân tích kết quả và rút ra kết luận.

Giáo viên dùng hệ thống câu hỏi để học sinh nêu kết quả của thí nghiệm. Từ kết

quả của thí nghiệm giáo viên gợi mở để học sinh biết cách so sánh, suy luận, khái

quát để rút ra kết luận.

c. Khâu củng cố và hướng dẫn học sinh học bài ở nhà:

Thông thường trong giờ dạy và học khoa học trong trường Tiểu học khâu củng cố

và hướng dẫn thường bị coi nhẹ. Song thực tế chất lượng đào tạo trong nhà trường

Tiểu học không đơn thuần chỉ dựa vào các phương pháp dạy của thầy mà còn phụ

thuộc vào phương pháp học tập của học sinh. Đối với môn khoa học khi giáo viên

dạy dùng phương pháp thí nghiệm chứng minh để dạy những kiểu bài đó thì khâu

củng cố của giáo viên cũng dựa trên cơ sở đó.

Sau đây là một trong những giáo án cụ thể minh hoạ cho những việc làm trên:



Bài 30:Cao su

 , Mục tiêu

Sau bài học, HS biết:

- Làm thực hành để tìm ra tính chất của cao su.

- Kể tên các vật liệu dùng để chế tạo cao su.

- Nêu tính chất, cơng dụng và cách bảo quản các đồ dùng bằng cao su.

, Đồ dùng dạy- học

- Hình trang 62,63 SGK.

- Sưu tầm một số đồ dùng bằng cao su như quả bóng, dây chun, mảnh xăm, lốp,..

, Hoạt độngdạy- học

1, KT: (5’)

- Nêu tính chất và cơng dụng của thủy tinh

2, Bài mới

a, Giới Thiệu Bài (1’)

b, Hoạt động1: (15’)Thực hành

*Mục tiêu: HS làm thực hành để tìm ra

9



tính chất đặc trưng của cao su

*Cách tiến hành:

Bước 1: Làm việc theo nhóm

Bước 2: Làm việc cả lớp



- Các nhóm làm thực hành theo chỉ

dẫn trang 63 SGK.

- Đại diện một số nhóm báo cáo kết

quả làm thực hành của nhóm mình.

- HS trả lời



- Ném quả bóng cao su xuống sàn nhà,

ta thấy quả bóng như thế nào?

- Kéo căng sợi dây cao su. Khi buông

tay sợi dây cao su như thế nào?

- HS trả lời

Kết luận:

Cao su có tính đàn hồi

c, Họat động2:(15’) Thảo luận

*Mục tiêu: Giúp HS:

- Kể được tên các vật liệu được dùng để

chế tạo cao su.

- Nêu được tính chất, cơng dụng và

cách bảo quản các đồ dùng bằng cao su.

*Cách tiến hành :

Bước 1: Làm việc cá nhân

- HS đọc nội dung trong mục Bạn cần

Bước 2 : Làm việc cả lớp

biết trang 63 SGK để trả lời các câu

GV gọi một số HS lần lượt trả lời từng

hỏi cuối bài .

câu hỏi :

- Có mấy loại cao su? Đó là những loại

nào ?

- HS trả lời

- Ngồi tính đàn hồi tốt, cao su còn có - HS trả lời

tính chất gì ?

- HS trả lời

- Cao su được sử dụng để làm gì ?

- Hs trả lời

Nêu cách bảo quản đồ dùng bằng cao su.

3, Củng cố dặn dò(3’)

Về bảo quản đồ dùng bằng cao su nnhư điều đã học

IV.KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC:

Sau khi vận dụng kinh nghiệm này vào thực tế giảng dạy, tôi đã thực hiện,

thực nghiệm . Kết quả việc áp dụng kinh nghiệm:

“ Sử dụng phương pháp thí nghiệm chứng minh ở môn khoa học Lớp 5

trong trường tiểu học ”.

Tôi đã tién hành khảo và đạt được một số kết quả sau:

Đề bài:

Câu 1. Nêu ví dụ chứng tỏ khơng khí chuyển động tạo thành gió?

10



Câu 2.Ngun nhân nào gây ra gió trong tự nhiên?

Câu 3 . Giải thích hiện tượng : Khơng khí lạnh ở phía Bắc nước ta gây ra gió

mùa Đơng Bắc?

Sau khi chấm bài kết quả kiểm tra lớp 5 A cho thấy:

Tổng



XLGiỏi

XLKhá

XLTrung bình XL Yếu

Số bài %

Số bài %

Số bài %

số bài Số bài %

33

15

45% 13

39% 5

16% 0

0%

Qua các số liệu trên, tôi thấy rằng số bài của các em điểm khá giỏi tăng lên

rõ rệt khơng còn số bài học sinh đạt điểm yếu, chất lượng đã được nâng cao. Chứng

tỏ kinh nghiệm đã có hiệu quả trong giảng dạy, học sinh nhớ bài lâu hơn, kĩ năng tư

duy tốt hơn. Đặc biệt là phần kĩ năng qua kiểm tra vấn đáp các em diễn đạt mạch

lạc hơn, tự tin chính xác hơn. Riêng bản thân tôi khi dạy bài : “ Kiểu bài thí nghệm

chứng minh ” bằng phương pháp thí nghiệm trong giảng dạy giáo viên mất ít thời

gian thuyết trình, bài giảng thu hút sự chú ý của học sinh. Các hoạt động dạy và học

của thầy và trò diễn ra nhẹ nhàng, hiệu quả. Học sinh hứng thú học tập khơng áp

đặt phát huy được tính tự học tự chủ của học sinh .

V.BÀI HỌC KINH NGHIỆM :

Việc đổi mới phương pháp giảng dạy là một trong những nhiệm vụ trọng tâm

của người giáo viên trong sự nghiệp trồng người. Đặc biệt trong tình hình chung

của đất nước đang thực hiện sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước.

Người giáo viên có thực hiện tốt cơng tác đổi mới phương pháp giảng dạy trong

quá trình soạn giảng thì mới truyền thụ kiến thức trọng tâm cho học sinh.

Phương pháp thí nghiệm chứng minh phục vụ cho: “ Quy trình dạy kiểu bài thí

nghiệm chứng minh ở mơn khoa học trong trường Tiểu học ” nhằm phát huy tư

duy sáng tạo cho học sinh. Đây là một phương pháp đặc thù của bộ mơn nó phù

hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh, giúp các em dễ hiểu bài, dễ nhớ, nhớ lâu

kiến thức. Nó được dùng vào các bước giảng dạy:

-Dùng để kiểm tra bài cũ.

11



-Dùng để giúp học sinh phát hiện ra kiến thức mới, để rèn luyện kĩ năng cho

học sinh so sánh, phân tích, tổng hợp, rút ra kiến thức. Đây chính là phương pháp

rèn luyện cho học sinh thói quen tự học các em được thực hành làm thí nghiệm để

chống lối học chay, học vẹt.

-Dùng để củng cố và hướng dẫn học sinh về nhà học bài và làm bài giúp các

em khắc sâu kiến thức, nhớ kiến thức lâu hơn.

Sau khi nghiên cứu tìm hiểu rồi tiến hành thực nghiệm và giảng dạy tại

trường Tiểu học đi đến kinh nghiệm trên.

*Đối với giáo viên:

-Phải hiểu rõ chức năng nhiệm vụ của phân mơn khoa học để có các hình

thức tổ chức và phương pháp dạy học cho phù hợp tránh dạy nhồi nhét, áp đặt, mất

hứng thú cho học sinh trong giờ học.

-Giáo viên phải tự trau dồi cho mình có những kiến thức vững chắc, ngơn

ngữ phải chuẩn xác, diễn đạt rõ ràng, mạch lạc, trong sáng.

-Xác định rõ mục tiêu của tiết dạy để chuẩn bị bài một cách chu đáo và đầy

đủ các phương tiện dạy học phục vụ cho bài dạy. ở mỗi bài dạy giáo viên phải xác

định được: Bài dạy cần những gì ? Và dạy như thế nào ? Để tiết dạy nhẹ nhàng tự

nhiên và hiệu quả. Từ đó biết lựa chọn phương pháp và cách thức tổ chức mỗi phần

của bài học cho phù hợp. Trên cơ sở đó, xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với

từng loại đối tượng học sinh trong lớp giúp các em dễ tìm được kiến thức bài học.

-Biết phân loại đối tượng học sinh trong lớp để có biện pháp bồi dưỡng giúp

đỡ đối với mọi sự cố gắng của các đối tượng học sinh trong lớp.

-Biết lựa chọn hệ thống phương pháp và các hình dạy học phù hợp với nội

dung bài dạy và đối tượng học sinh trong lớp tạo nên sự hoạt đồng bộ giữa thầy và

trò, tạo sự hứng thú học tập của học sinh một cách tự nhiên, thoải mái để đạt được

yêu cầu đó giáo viên cần phải biết khai thác vốn kiến thức của học sinh vào việc

xây dựng kiến thức bài học.

*Đối với học sinh:

12



-Phải tích cực học tập, chuẩn bị bài trước khi đến lớp.

-Đầy đủ sách giáo khoa và đồ dùng học tập của mơn học.

-Phải tích cực tham gia luyện tập làm các thí nghiệm chứng minh để nắm

chắc kiến thức.

-Tích cực huy động vốn kiến thức của mình tham gia vào quá trình học tập,

Xây dựng kiến thức bài học.

-Cần phát huy tính chủ động sáng tạo trong hoạt động học, mạnh dạn phát

biểu ý kiến xây dựng bài để rèn luyện cho mình phương pháp học tập tích cực và

bản lĩnh tự tin, biết ứng xử thông minh đúng đắn với mơi trường xung quanh.

VI.PHẠM VI ÁP DỤNG :

“ Quy trình dạy kiểu bài thí nghiệm chứng minh ở mơn khoa học trong trường

Tiểu học ”có thể áp dụng đối với tất cả các đối tượng học sinh ở các trường.

- Có thể áp dụng cho các thầy cơ giáo được phân công giảng dạy trong trường Tiểu

học. Để áp dụng tốt kinh nghiệm này giáo viên cần lưu ý một số điểm sau:

1. Khâu soạn bài:

Yêu cầu giáo viên phải hết sức chu đáo trong khâu chuẩn bị từ việc nghiên

cứu nội dung kiến thức đến việc xác định kiến thức trọng tâm và chuẩn bị các dụng

cụ, vật liệu, các điều kiện cần thiết cho thí nghiệm thì bài giảng mới tập trung và có

hiệu quả cao.

2. Khâu giảng dạy của giáo viên:

Giáo viên phải tận dụng triệt để phương pháp thí nghiệm chứng minh trong

quy trình dạy kiểu bài thí nghiệm chứng minh ở phân mơn khoa học. Sử dụng triệt

để phương pháp thí nghiệm chứng minh ở mọi bước lên lớp. Vì theo tơi khơng có

phương nào để học sinh dễ phát hiện kiến thức, nắm được kiến thức nhanh nhất

bằng phương pháp trực quan bằng thí nghiệm học sinh được thực hành.

3. Học sinh:



13



Một yếu tố không kém phần quan trọng để đề tài thành công đó là học sinh.

Các em phải có hứng thú học tập bộ mơn từ đó mới tính tò mò, sáng tạo trong việc

chủ động nắm kiến thức của học sinh.

C.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:

I.KẾT LUẬN:

Qua việc nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi nhận thấy việc nâng cao chất lượng

cho đội ngũ giáo viên là một vấn đề rất quan trọng trong mỗi nhà trường. Nó có tác

dụng vơ cùng to lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt

trong thời đại hiện nay sự nghiệp giáo dục ngày càng được Đảng và nhà nước quan

tâm . Do vậy từ người cán bộ quản lí đến các đồng chí giáo viên trong nhà đều phải

xác định rõ nhiệm vụ chính trị của mình trên mặt trận giáo dục đó là phải ra sức

học tập để khơng ngừng nâng cao trình độ văn hố, trình độ chuyên môn nghiệp vụ

cho bản thân. Đồng thời phải chú trọng làm tốt cơng tác chăm sóc và giáo dục cho

các em những nhân cách ban đầu của con người mới xã hội chủ nghĩa đáp ứng với

thời đại công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

Trên đây là một số kinh nghiệm của tơi trong q trình:

“ Sử dụng phương pháp thí nghiệm chứng minh ở mơn khoa học Lớp 4

trong trường tiểu học ”.

.Qua nhiều năm làm công tác giảng dạy tôi tự nhận ra một bài học là khơng

có một phương pháp nào là tốt nếu như khơng có sự chuẩn bị của thầy và trò. Thầy

phải đầu tư nghiên cứu bài dạy chu đáo cẩn thận. Trò phải đọc và chuẩn bị bài thật

tốt có như vậy mới đạt được kết quả tốt trong học tập:

II.NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN KIẾN NGHỊ:

Để có được những tiết dạy thành công trong sự nghiệp trồng người theo tôi

việc sử dụng phương pháp thí nghiệm khi dạy kiểu bài thí nghiệm chứng minh có

tác dụng rất lớn, rất thiết thực. Nhưng hiện nay phương pháp dạy ở các trường việc

sử dụng phương pháp thí nghiệm còn rất hạn chế nên nhiều tiết học còn dạy chay

đối với các mơn trong đó có mơn tự nhiên và xã hội.

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×