Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các phương pháp nhân giống truyền thống.

Các phương pháp nhân giống truyền thống.

Tải bản đầy đủ - 0trang



chế:

nguyên

phân

- Đặc điểm của cơ thể con: giống hoàn toàn cơ thể mẹ ( hình dạng, năng

suất,

phẩm

chất...)



Nhân

giống



tính

nhân

tạo:

Là sự sinh sản, trong đó con người chủ động nhân lên hoặc tạo ra cơ thể

mới từ một bộ phận cắt rời của cơ thể bố hoặc mẹ. Các dạng sinh sản vơ

tính nhân tạo gồm: chiết, ghép, giâm. Dựa vào đặc điểm phát triển của

từng cây mà người ta sẽ chọn các bộ phận thích hợp của cây đó để nhân

lên

tạo

ra

đời

con.

*



sở

sinh

học

của

phương

pháp

Theo viện sĩ Maximop, mỗi bộ phận của cây, ngay đến mỗi tế bào, đều

có tính độc lập về mặt sinh lí rất cao. Chúng có khả năng khơi phục lại

các cơ quan, bộ phận không đầy đủ và trở thành một cá thể mới hoàn

chỉnh. Trong cơ thể thực vật, nước và các chất khống hồ tan được vận

chuyển từ rễ lên lá theo mạch gỗ, còn các sản phẩm hữu cơ sản xuất ở lá

được chuyển xuống gốc (rễ, củ, … ) theo mạch rây. Khi ta cắt đứt con

đường vận chuyển theo mạch rây, các sản phẩm hữu cơ sẽ tập trung ở

các tế bào vỏ của phần bị cắt (phía trên ). Các chất hữu cơ này cùng với

chất điều hoà sinh trưởng Axin nội sinh (được tổng hợp ở ngọn cây

chuyển xuống) sẽ kích thích sự hoạt động của tượng tầng và hình thành

mơ sẹo, rồi sau đó hình thành rễ từ mơ sẹo ở chỗ bị cắt, khi gặp điều

kiện

thuận

lợi.

Quá trình hình thành rễ bất định này có thể chia làm ba giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Tái phân chia tượng tầng (mô phân sinh bên)

Giai

đoạn

2:

Xuất

hiện

mầm

rễ

- Giai đoạn 3: Sinh trưởng và kéo dài của rễ, rễ đâm qua vỏ ra ngoài.



*

-



tạo:

Chiết

Chiết cành là phương pháp nhân giống vơ tính cây trồng bằng cách

cho một cành hay một đoạn cành ra rễ trên cây, sau đó tách khỏi cây mẹ,

đem

trồng

thành

cây

mới.

dễ sống, dễ làm cây con khỏe, mọc nhanh nhưng nhân được ít cây, tốn

cơng tốn của

Quy trình chiết cành:



-



Các



hình



thức



nhân



giống







tính



nhân



Ghép

Là tách rời một mắt ghép, một chồi non vừa lú ra ở nách lá hoặc một

đoạn thân non của cây có những đặc tính nổi bật đặt vào một cây khác



đặc

tính

sống

khỏe



phát

triển

tốt.

Ở thực vật ghép cây là một kĩ thuật quan trọng trong nghề làm vườn,

trong đó một phần (cành ghép) của một cá thể này được đem phối hợp

(ghép áp, ghép nối, ghép nêm, ghép dưới vỏ gần gốc) với một phần cây

khác (gốc ghép) có thể cùng loài hoặc khác loài .Sau một thời gian chỗ

ghép sẽ liền lại và gốc ghép sẽ nuôi cành ghép lớn lên thành một cá thể

mới mang đặc tính chung của hai cá thể gốc ghép và cành ghép

Ghép cành:



Ghép mắt:



Giâm

Giâm cành là phương pháp dùng một đoạn của cành gọi là “hom” giâm

cho ra rễ thành cây con. Sự thành công của một cành giâm phụ thuộc rất

nhiều yếu tố như tình trạng dinh dưỡng của cây mẹ, tuổi của cành dâm,

ẩm độ, nhiệt độ và bản chất của môi trường cắm hom.

Cành nên lây trên các cây mẹ tốt, tuổi từ 10-15 năm trở lại. Cây mẹ sống

trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng thường cho hom ra rễ dễ hơn.

Hom lấy trên cành không quá già mà cũng không quá non, tốt nhất là lấy

các cành đâm ra ở đợt gần nhất. Có đường kính từ 0,5 -1 cm (tùy loại).

Cành được cắt thành từng đoạn ngắn 10-30 cm để làm hom, mỗi hom có

ít nhất 2-5 lá hau 2-3 mầm ngủ, chân hom được cắt theo một mặt

nghiêng, có thể rạch thêm 2-4 đường dọc ở chân hom dài 0,5 cm để kích

thích hom thành lập mô sẹo giúp ra rễ tốt.



* Ưu điểm và nhược điểm của các phương pháp giâm, chiết, ghép

- Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp giâm cành:

+

Hệ

số

nhân

cao

+ Cây con giữ nguyên đặc tính di truyền của bố mẹ

+

Cây

sớm

ra

hoa,

kết

quả

+ Cần chăm sóc chu đáo trong thời gian đưa từ vườn ươm vào sản xuất

đại

trà.

- Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp chiết cành

+ Cây con giữ nguyên đặc tính di truyền của bố mẹ

+ Thời gian có cây giống nhanh, cây sớm ra hoa, kết quả

+

Cây

thấp,

tán

gọn

+ Hệ số nhân thấp

Ưu

điểm

nhược

điểm

của

ghép

gốc:

+ Cây ghép sinh trưởng phát triển tốt nhờ sự phát triển, hoạt động tốt

của bộ rễ gốc ghép , khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai

cao

hơn

cây

chiết.

+ Cây ghép giữ được các đặc tính của giống muốn nhân (cây mẹ).

+

Hệ

số

nhân

giống

cao.

+ Giống làm gốc ghép sớm cho ra hoa kết quả vì mắt ghép chỉ tiếp tục

giai

đoạn

phát

dục

của

cây

mẹ..



+ Giống làm gốc ghép phải có khả năng tiếp hợp tốt với thân cành ghép;

gốc

ghép

phải

khỏe,

khơng

bị

sâu

bệnh.

+ Việc chăm sóc cây ghép mất nhiều công sức. Vậy nên thường chỉ các

vườn ươm mới nhân giống bằng phương pháp này.

2.

Nhân

giống

hữu

tính

Là kiểu sinh sản trong đó có sự hợp nhất của giao tử đực và giao tử cái

tạo nên hợp tử phát triển thành cơ thể mới.

- Có q trình hình thành và hợp nhất của giao tử đực và giao tử cái

- Có sự trao đổi và tái tổ hợp của 2 bộ gen.

- Ln gắn liền với q trình giảm phân tạo giao tử.

- Bao gồm : Quá trình hình thành hạt phấn và túi phơi, thụ phấn và thụ

tinh, hình thành hạt, quả.Có những cách thụ phấn chính như sau:

a) Tự thụ phấn: Là cách thụ phấn cho một hoa bằng hạt phấn của chính

nó, hay của một hoa khác trên cùng một cành, một cây, hoặc trong cùng

một dòng đã được nhân giống vơ tính. Sự tự thụ phấn có ưu điểm là cơ

chế của chúng rất đơn giản, không đòi hỏi một sự thích nghi đặc biệt nào

và do đó cách thụ phấn khá đảm bảo, sự tự thụ phấn có thể xảy ra với

mọi

điều

kiện

thời

tiết.

Nhược điểm của sự tự thụ phấn là cả 2 giao tử tham gia vào quá trình

sinh sản đều thuộc cùng một cây và phát triển trong cùng một hoa. Vì

vậy những đặc điểm di truyền của chúng mang tính chất đơn điệu, các

thể hệ con cái sinh ra từ sự tự thụ phấn ít có sự biến đổi và ít có sự mềm

dẻo về sự thích nghi.

Người ta mở rộng khái niệm tự thụ phấn giữa các cá thể của cùng một

loài tự nhiên sang cả việc tự thụ phấn của các giống đã được lai

tạo.Trong trường hợp đầu, con cái phép tự thụ phấn ấy thường ít khác

biệt nhau. Còn trường hợp sau khơng ai có thể dự đốn nổi mức độ sai

khác của chúng. Để phân biệt trường hợp này, người ta gọi là sự tự thụ

phấn ở cây lai.



b) Giao phấn (thụ phấn chéo): Là quá trình hạt phấn của hoa này rơi vào

núm nhụy của hoa khác.Sự giao phấn xảy ra bắt buộc đối với hoa đơn

tính và cả với những hoa lưỡng tính khi nhị và nhụy khơng chín cùng

một

lúc.

Khác với sự tự thụ phấn, trong trường hợp giao phấn các giao tử được

hình thành ở những hoa khác nhau và thường ở những cây khác nhau

nên chúng có sự khác nhau về chất, chúng đảm bảo cho thế hệ con cháu

có sức sống cao hơn về chất, kết hợp được những đặc tính tốt của cơ thể

bố



mẹ.

Tính biến dị cá thể của chúng biểu hiện rõ ràng hơn và dễ dàng thích

nghi với những biến đổi của điều kiện sống. Giá trị sinh học của sự giao

phấn còn thể hiện ở chỗ: tuyệt đại đa số cây mọc tự nhiên đều thích nghi

theo lối thụ phấn này và có những thích nghi rất đa dạng với việc giao

phấn. Như vậy, sự giao phấn có ưu thế hơn so với sự tự thụ phấn, tuy

nhiên nó có một nhược điểm cơ bản là không phải lúc cũng thực hiện

được, vì còn phụ thuộc vào các điều kiện bên ngồi, đơi khi là ngẫu

nhiên trong đó các tác nhân truyền phấn rất quan trọng.

*Các

tác

nhân

giúp

cho

sự

giao

phấn:

Hiện tượng giao phấn được thực hiện nhờ một trong các tác nhân sau

đây:

- Thụ phấn nhờ gió: những cây có kiểu thụ phấn nhờ gió là cây có hoa

tương đối nhỏ, bao hoa tiêu giảm, hoặc hong có vòng bao hoa. Số lượng

hoa trong cụm hoa nhiều và lượng hạt phấn trong mỗi hoa cũng rất

nhiều, nhỏ, nhẹ, đơi khi mang thêm túi khí để dễ bay xa (hạt phấn

Thông). Cấu tạo của bộ nhị cũng thích với việc dễ dàng phát tán hạt

phấn (bao phấn lắc lư ở các cây họ Lúa (Poaceae); bộ nhuỵ cũng có cấu

có các vòi nhuỵ rất dài, x rộng, có lơng).

- Thụ phấn nhờ nước: hình thức này thường gặp ở những cây mọc chìm

trong nước, có hoa nở dưới nước. Cấu tạo của bộ nhị và bộ nhuỵ cũng



thích nghi theo lối thụ phấn này. Ví dụ: Rong mái chèo (Vallisneria

spiralis) có hoa đơn tính khác gốc. Hoa đực đựng trong một cái bọc

chung khi chín sẽ đứt cuống nổi lên mặt nước. Hoa cái có cuống dài,

lúc đầu xoắn lại, khi nở thì cuống hoa duỗi thẳng ra để đưa hoa lên

c) Sinh sản bằng bào tử:

Đây là một hình thức sinh sản ở rêu, dương xỉ. Trong sinh sản bằng bào

tử, cơ thể mới được phát triển từ bào tử, bào tử lại hình thành trong túi

bào tử từ thể bào tử.

Thể bào tử được sinh ra từ hợp tử và mang các túi bào tử. Lúc chín, các

túi bào tử của thực vật có lá, phát tán các bào tử giảm nhiễm và chúng

nẩy mầm tạo ra ngun tản lưỡng tính hoặc đơn tính. Nó cũng giống như

túi bào tử của thể sinh túi của ngành Rêu. Chu trình phát triển cá thể của

chúng là lưỡng di truyền nhưng thể bào tử chiếm ưu thế (Lưỡng – Đơn

bội)

I -Nhân giống in vitro:

1. Định nghĩa:

Nuôi cấy mô tế bào thực vật (nuôi cấy in vitro) là phạm trù khái niệm để

chỉ chung cho tất cả các loại ni cấy ngun liệu thực vật hồn tồn

sạch các vi sinh vật trên môi trường dinh dưỡng nhân tạo trong điều kiện



trùng

2. Các phương pháp:

1/ Nuôi cấy mô:

a/ Mẫu trực tiếp tạo chồi và cây hồn chỉnh:

b/ Mẫu mơ phát sinh callus và callus tạo chồi:

c/ Mẫu mô phát sinh phơi soma và phơi thu được từ cây hồn chỉnh:

2/ Vi nhân giống quan tự dưỡng:



III/ Quy trinh nhân giống in vitro:

1/ Nuôi cấy mô:



Bước 1: Chuẩn bị mẫu nuôi cấy:

- Mẫu được thu ở các cây được chọn lọc:

+ Sạch bệnh, đặc biệt là bệnh virus và ở giai đoạn sinh trưởng

mạnh



+ Có thể trồng cây lấy mẫu trong điều kiện thích hợp với chế độ

chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hiệu quả trước khi lấy mẫu sẽ làm giảm

tỉ lệ mẫu nhiễm, tăng khả năng sống và sinh trưởng của mẫu

Bước 2: Xây dựng hệ thống nuôi cấy vô trùng

- Vệ sinh khu nuôi cấy.

- Khử trùng bề mặt mẫu vật và chuẩn bị môi trường nuôi cấy

- Cấy mẫu vô trùng vào môi trường nhân tạo trong ống nghiệm hoặc

bình ni. * Phương pháp lấy mẫu và chuẩn bị môi trường tùy thuộc vào

ý muốn:

+ Mẫu trực tiếp tạo chồi và cây hồn chỉnh: Mơ sẹo, cơ quan sinh

sản, chổi ngủ. Môi trường : MS + BAP

+ Mẫu mô phát sinh callus và callus tạo chồi: Callus ( mô sẹo ) là

khối tế bào không có tổ chức hình thành từ các mơ và các cơ quan phân

hóa dưới các điều kiện đặc biệt ( có vết thương và xử lý chất điều hòa

sinh trưởng ). Môi trường: MS + 2,4-D ( Tạo callus ) MS + BAP ( Tạo

chồi từ callus )

+ Mẫu mô phát sinh phôi soma và phôi thu được từ cây hồn

chỉnh: Hạt. các tế bào sinh dưỡng. Mơi trường: MS

- Các mẫu nuôi cấy nếu không bị nhiễm khuẩn, nấm hoặc virus sẽ được

lưu lại trong phòng với điều kiện nhiệt độ, ánh áng phù hợp. Sau một



thời gian nuôi cấy, từ một mẫu nuôi cấy ban đầu xuất hiện các cụm tế

bào và cơ quan ( chồi, cụm chồi, rễ) hoặc phơi vơ tính có đặc tính gần

như phơi hữu tính. Giai đoạn hai thường yêu cầu từ 2-12 tháng hoặc ít

nhất 4 lần cấy chuyển.

* Đưa mẫu vật vào nuôi cấy vô trùng phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Tỷ lệ nhiễm thấp

- Tỷ lệ sống cao

- Tốc độ sinh trưởng nhanh

=> Kết quả bước cấy gây này phụ thuộc rất nhiều vào cách lấy mẫu.

Quan trọng nhất là đỉnh sinh trưởng, chồi nách, đoạn hoa tự, đoạn

thân, mảnh lá, rễ... Chọn đúng phương pháp khử trùng sẽ đưa lại tỷ lệ

sống cao và môi trường dinh dưỡng thích hợp sẽ đạt tốc độ sinh

trưởng nhanh

Bước 3: Nhân nhanh số lượng chồi: Môi trường bổ sung BAP

- Thành phần và điều kiện môi trường phải đạt điều kiện tối ưu hóa

nhằm đạt mục đích nhân nhanh

- Trong giai đoạn này cần nghiên cứu các tác nhân kích thích cơ quan,

đặc biệt là chồi như :

+ Bổ sung bổ hợp phytohormone mới (tăng cytokin giảm axin).

Tăng tỷ lệ auxin/cytokinin sẽ kích thích mơ phát triển tạo rễ và ngược lại

sẽ kích thích phát sinh chồi.

+ Tăng cường thời gian chiếu sáng 16 giờ/ngày, tối thiếu 1000lux.

Trong thời gian ni cấy người ta nhận thấy khó có thể tách biệt ảnh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các phương pháp nhân giống truyền thống.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×