Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

4

- Sử dụng phần mềm Crocodile Physics 605 tạo 15 bài thí nghiệm THPT.

- Đóng gói bài giảng theo chuẩn Scorm tích hợp lên LMS Moodle ( Learning

Management System).

- Tích hợp vào đĩa CD để học ngoại tuyến (off-line).



5



CHƯƠNG 1

THÍ NGHIỆM VẬT LÝ TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ

1.1. Phương pháp dạy học Vật lý.

Phương pháp dạy học là hình thức và phương thức hoạt động của giáo viên và

học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học. Hay

nói ngắn gọn phương pháp dạy học là con đường để đạt mục đích dạy học.

Để hoàn thiện các phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở

nhà trường thì người giáo viên phải vượt qua ba ràng buộc: mục đích dạy học, nội

dung dạy học và đối tượng dạy học. Như vậy phương pháp dạy học Vật lý chỉ khác

với phương pháp dạy học các bộ môn khác ở nội dung dạy học. Tính nội dung của

phương pháp dạy học đưa đến một yêu cầu: phương pháp dạy học phải làm nổi bật

nội dung mơn học, giúp học sinh tiếp cận chính những khoa học từ đó cấu tạo nên

mơn học.

Phương pháp dạy học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo

của học sinh; phù hợp với đặc trưng của môn học, đặc điểm đối tượng học sinh,

điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng

hợp tác, rèn luyện kỷ năng vận dụng kiến thước và thực tiển tác động đến tình cảm

đem lại niềm vui hứng thú và trách nhiệm của học sinh.

Do vậy, giáo viên Vật lý phải biết vận dụng tổng hợp về: Vật lý, Tâm lý học,

Lý luận dạy học hiện đại, Phương pháp dạy học Vật lý...để giải quyết những vấn đề

cụ thể trong quá trình tổ chức hoạt động nhận thức kiến thức Vật lý cho học sinh

phổ thông.

Giáo viên Vật lý cần nắm vững những phương pháp và kĩ năng cơ bản để

giảng dạy môn Vật lý ở trường phổ thông như: giảng dạy lý thuyết, rèn luyện kĩ

năng giải bài tập cho học sinh, tiến hành các bài thí nghiệm của giáo viên, tổ chức

và hướng dẫn học sinh tiến hành thí nghiệm thực hành.

Ngày nay Vật lý học ngày càng phát triển và có nhiều sự kiện mới được phát

hiện dẫn đến việc xây dựng những khái niệm mới, định luật mới và lý thuyết mới.

Trong q trình đó nội dung của môn học Vật lý cũng cần phải thay đổi kịp thời.



6

Vật lý trong các trường phổ thông chủ yếu là Vật lý thực nghiệm. Phương

pháp chủ yếu của nó chủ yếu là phương pháp thực nghiệm. Đó là phương pháp nhận

thức hiệu quả trên con đường đi tìm chân lý khách quan, là một dạng biến đổi khoa

học Vật lý sao cho phù hợp với trình độ học sinh, mục đích dạy học và điều kiện

của nhà trường.

Mặt khác, Vật lý học là một khoa học chính xác đòi hỏi vừa phải có khả năng

quan sát tinh tế khéo léo tác động vào tự nhiên khi làm thí nghiệm, vừa phải có tư

duy logic chặt chẽ, biện chứng, vừa phải trao đổi thảo luận để khẳng định chân lý.

Vì vậy, dạy học Vật lý phải đảm bảo có những phương tiện vật chất và tinh

thần cần thiết để học sinh có thể thực hiện được các hành động học tập. Phải đảm

bảo sự phát triển liên tiếp mâu thuẫn nội tại của môn học Vật lý mà việc giải quyết

chúng sẽ dấn đến kết quả là hình thành những kiến thức, kĩ năng, năng lực mới. Yêu

cầu này không chấp nhận lối “truyền thụ một chiều” rất phổ biến trong dạy học hiện

nay.

Như vậy, một mơn học có tính khoa học thực nghiệm như Vật lý thì thí

nghiệm đóng vai trong rất quan trọng.



1.2. Phân loại thí nghiệm Vật lý: có hai loại

- Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên: Do giáo viên tiến hành nhằm giới thiệu

một cách tương đối nhanh với học sinh các hiện tượng, các q trình và các quy luật

nghiên cứu.

- Thí nghiệm do học sinh thực hiện: Do học sinh tiến hành dưới sự tổ chức và

hướng dẫn của giáo viên để hình thành kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho bản thân.



1.3. Các chức năng của thí nghiệm trong dạy học Vật lý.

1.3.1. Chức năng của thí nghiệm theo quan điểm nhận thức.

- Thí nghiệm là phương tiện của việc thu nhận tri thức.

- Thí nghiệm là phương tiện để kiểm tra tính đúng đắn của tri thức thu được.

- Thí nghiệm là phương tiện để vận dụng tri thức đã thu được vào thực tiễn.

- Thí nghiệm là một bộ phận của các phương pháp nhận thức.



7

1.3.2. Chức năng của thí nghiệm theo quan lý luận dạy học.

- Thí nghiệm có thể được sử dụng ở tất cả các giai đoạn khác nhau của q

trình dạy học.

- Thí nghiệm góp phần phát triển tồn diện của học sinh.

- Thí nghiệm góp phần đơn giản hố các hiện tượng và q trình Vật lý.

- Thí nghiệm là phương tiện góp phần quan trọng vào việc giáo dục kĩ thuật

tổng hợp cho học sinh.

- Thí nghiệm là phương tiện kích thích học tập của học sinh.

- Thí nghiệm là phương tiện tổ chức các hình thức hoạt động của học sinh.

Như vậy, trong dạy học Vật lý thí nghiệm là phần khơng thể thiếu và cần phải

vận dụng nó vào q trình dạy học một cách hiệu quả hơn.



1.4. Vai trò của thí nghiệm trong tổ chức hoạt động nhận thức cho học

sinh

Vật lí học là một khoa học thực nghiệm, tuy nhiên trong tự nhiên và kĩ thuật, rất

ít các hiện tượng, q trình vật lí xảy ra dưới dạng thuần khiết nên muốn nhận thức

được đối tượng vật lí, chúng ta phải tác động vào đối tượng, hiện thực khách quan

một cách có chủ định và hệ thống. Đó chính là q trình làm TN vật lí.

Thí nghiệm vật lí có thể được sử dụng ở tất cả các giai đoạn khác nhau của

quá trình dạy học: đề xuất vấn đề nghiên cứu, hình thành kiến thức kĩ năng mới,

củng cố kiến thức, kĩ năng đã thu được và kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng của

HS.

Ở giai đoạn định hướng mục đích nghiên cứu để xây dựng bài học, thí

nghiệm vật lí được sử dụng để đề xuất vấn đề cần nghiên cứu. Đặc biệt có hiệu

quả là việc sử dụng thí nghiệm vật lí để tạo tình huống có vấn đề. Trong giai

đoạn hình thành kiến thức mới, thí nghiệm sẽ cung cấp một cách có hệ thống

các cứ liệu thực nghiệm, để từ đó khái quát hóa quy nạp, kiểm tra được tính

đúng đắn của giả thuyết hoặc hệ quả logic rút ra từ giả thuyết đã đề xuất, hình

thành kiến thức mới. Trong giai đoạn củng cố kiến thức, kĩ năng của HS làm thí

nghiệm vật lí có vai trò khơng những kiểm tra kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mà còn

đánh giá khả năng tự học, sáng tạo của HS trong q trình thí nghiệm . TN đóng



8

một vai trò hết sức quan trọng, là phương tiện của việc thu nhận tri thức. Nhưng vẫn

còn những khó khăn và hạn khi sử dụng TN và các phương tiện dạy học truyền

thống trong tổ chức hoạt động nhận thức cho HS. Cụ thể là ở phổ thơng thiếu những

TN định lượng với độ chính xác cao, do hạn chế về thời gian trong khuôn khổ tiết

học, do hiện tượng khảo sát quá phức tạp, không dễ gì đơn giản hóa được, hay các

hiện tượng vật lí xảy ra quá nhanh hoặc quá chậm, tính trực quan một số TN chưa

cao gây khó khăn cho việc quan sát, thu thập số liệu... Vì vậy, việc nghiên cứu khai

thác, sử dụng TN với sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học hiện đại là cần thiết để

tổ chức hoạt động nhận thức cho HS có hiệu quả hơn.



1.5. Thí nghiệm đối với q trình tổ chức hoạt động tự học

Tự học là tự tìm tòi, tự đặt câu hỏi, tự tìm hiểu để nắm được vấn đề, hiểu sâu

hơn. Như vậy tự học giúp cho HS thu nhận kiến thức và vận dụng kiến thức để rèn

luyện kỷ năng sâu sắc hơn, HS nhớ lâu kiến thức này lâu hơn. Trong thời đại khoa

học công nghệ phát triển như vũ bão và cùng với nó là sự bùng nổ thơng tin, việc tự

học có vai trò vơ cùng quan trọng. Tự học được xem là “chìa khóa vàng” giúp cho

HS đã và đang bước vào thiên niên kỷ mới với trình độ khoa học-cơng nghệ hiện

đại. Việc tự học giúp HS không ngừng nâng cao hiểu biết, cập nhật tri thức, phát

huy được năng lực của bản thân trong học tập và sáng tạo.

Thí nghiệm vật lý là phương tiện để kiểm tra kết quả tự học. Thí nghiệm được

sử dụng để phát hiện và khắc phục các quan niệm sai lầm của HS. Bởi như chúng ta

biết rằng, HS trước khi đến trường, trước giờ học đã có những hiểu biết, những

quan niệm về các hiện tượng, khái niệm và q trình vật lí sắp được nghiên cứu

trong giờ học. Song đa số những hiểu biết, quan niệm ấy có thể sai lệch ra khỏi bản

chất vật lí hoặc nó khơng có đủ các cơ sở để hiểu những vấn đề sẽ nghiên cứu trong

giờ học.



1.6. Một số giải pháp nhằm nâng cao việc sử dụng thí nghiệm và PTDH

hiện đại trong hoạt động tự học.

Qua kết quả điều tra trên cùng với những nhận định ban đầu về thực trạng dạy

học có sử dụng thí nghiệm và PTDH hiện nay, chúng tôi đề xuất một số giải pháp

nhằm nâng cao việc sử dụng thí nghiệm và PTDH trong dạy học vật lí như sau:



9

- Bên cạnh việc tăng cường đầu tư, trang bị và hiện đại hóa cơ sở vật chất (thí

nghiệm và PTDH hiện đại) của nhà nước thì mỗi giảng viêncần quan tâm nhiều hơn

tới việc tự nghiên cứu thiết kế, khai thác và sử dụng các thí nghiệm đơn giản, thí

nghiệm vui để phục vụ cho dạy học. Muốn vậy, các cấp quản lí giáo dục cần phải

đẩy mạnh phong trào thi đua tự sáng chế các đồ dùng dạy học.

- Khai thác và phân loại TNVL để thuận tiện trong việc sử dụng dạy học.

- Để tăng thêm hiệu quả của việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học, giảng

viêncần lưu ý đến việc sử dụng các thiết bị hỗ trợ như: máy vi tính, đèn chiếu

projector, internet, website học tập…

- Cần có kế hoạch mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn GV sử dụng các thiết bị thí

nghiệm và phương tiện dạy học hiện đại.

- Các trường phổ thông cần đẩy mạnh phong trào đổi mới PPDH gắn liền với

việc nghiên cứu sử dụng các TN theo các chiến lược DH hiện đại.

Như vậy, với sự hỗ trợ của máy vi tính và các phương tiện dạy học khác, sẽ làm

tăng tính trực quan của TN vật lí. Sự hỗ trợ đó góp phần giúp cho TN làm tốt hơn các

chức năng của mình trong tổ chức hoạt động nhận thức cho HS. Bên cạnh đó, trực

quan hóa TN tạo điều kiện cho HS dễ nắm bắt hiện tượng, quá trình diễn ra trong TN,

kích thích hứng thú học tập của các em.



1.7. So sánh thí nghiệm ảo và thí nghiệm thật trong dạy học Vật lý.

1.7.1. Khái niệm.

- Thí nghiệm thật: là các thí nghiệm mà các thao tác được thực hiện bằng các

dụng cụ thí nghiệm thật cùng với các thiết bị đo kèm theo.

- Thí nghiệm ảo: là các thí nghiệm mà thao tác với dụng các dụng cụ thí

nghiệm chỉ được thực hiện trên máy vi tinh.

1.7.2. So sánh thí nghiệm ảo và thí nghiệm thật.

Thí nghiệm ảo hay thí nghiệm thật thì cũng đều được xếp vào loại thí

nghiệm trực quan, cùng làm sáng tỏ lý thuyết Vật lý, gây hứng thú học tập cho học

sinh, giáo dục tính tò mò khoa học, làm cho học sinh nhận thức kiến thức dễ dàng

hơn, kiến thức thu được của các em rõ ràng và sâu sắc. Tuy nhiên mỗi phương pháp

đều có ưu và nhược điểm riêng.



10

 Những ưu điểm của thí nghiệm ảo so với thí nghiệm thật:

- Thí nghiệm thật tại lớp cho học sinh quan sát thì hầu như các dụng cụ thí

nghiệm đều có kích thước khá nhỏ, lớp đơng, phòng học rộng. Như vậy thí nghiệm

thì khơng phải tất cả các học sinh trong lớp đều có thể quan sát dễ dàng được. Trong

khi đó thí nghiệm ảo được thực hiện trên màn chiếu rộng, và màn chiếu này được

đặt ỏ vị trí sao cho tất cả học sinh trong lớp có thể nhìn rõ tất cả những gì thực hiện

trên đó, đồng thời dụng cụ thí nghiệm có thể thay đổi kích cỡ cho đủ lớn để cho cả

lớp đều có thể quan sát rõ ràng kể cả các em ngồi ở cuối lớp.

- Với các thí nghiệm thật một số dụng cụ thí nghiệm có thể xảy ra cháy nổ, hư

hỏng, ảnh hưởng sức khoẻ con người nhưng với thí nghiệm ảo thì các thí nghiệm

hồn tồn an tồn, dể xử lí.

- Thí nghiệm ảo có thể dể dàng mơ phỏng nhanh, sinh động, chính xác, thẩm

mỹ, hiệu quả đại đa số hiện tượng Vật lý ngay cả những thí nghiệm ma thí nghiệm

thật khơng thực hiện được.

- Với một số thí nghiệm thật phức tạp đòi hỏi các dụng cụ thí nghiệm cồng

kềnh, nặng thì việc vận chuyển và ứng dụng rất khó khăn. Còn thí nghiệm ảo thì các

dụng cụ có sẵn, đầy đủ trong các phần mềm thí nghiệm ảo.

- Chi phí đầu tư cho thí nghiệm ảo là ít và được sử dụng lâu dài hơn so với thí

nghiệm thật.

 Những ưu điểm của thí nghiệm thật so với thí nghiệm ảo.

Nếu có điều kiện thực hiện thành cơng thì thí nghiệm thật vẫn mang lại hiệu

quả sư phạm cao hơn; kĩ năng cũng như kiến thức Vật lý hình thành ở học sinh chắc

chắn hơn.



1.8. Thực trạng nghiên cứu và sử dung thí nghiệm Vật lý ảo.

Nhìn chung, việc giảng dạy Vật lý hiện nay chưa thể hiện được tốt các đặc

trưng của môn học, rất nhiều giáo viên chưa tận dụng được các phương tiện thí

nghiệm hiện để tăng hiệu quả giờ dạy.

Thực tế cho thấy rằng: số giáo viên phổ thông biết sử dụng thí nghiệm ảo vào

dạy học Vật lý là không nhiều. Nguyên nhân là: nhiều giáo viên thiếu kiến thức tin

học và thiếu sự quan tâm đến sự có mặt của thí nghiệm ảo; đại đa số các phần mềm



11

thí nghiệm hiện có đều được viết băng tiếng nước ngồi nên các giáo viên cũng gặp

nhiều khó khăn trong việc tìm hiểu và sử dụng nó cho hiệu quả.

Tuy nhiên, đã có khơng ít các nhà giáo dục coi việc kiểm tra tình hình giáo

dục các phương tiện thí nghiệm ảo ở trường phổ thông như một khâu tất yếu để

đánh giá chất lượng dạy học. Việc này tạo ra yêu cầu và động lực để các giáo viên

quan tâm nhiều hơn đến việc sử dụng các thí nghiệm ảo.



1.9. Chuẩn SCORM

1.9.1. SCORM là gì?

SCORM (The Sharable Content Object Reference Model) do U.S.Department

of Defense (DoD) phát triển đầu tiên. E-Learning có nội dung được phát triển trên

nhiều nền khác nhau, sử dụng nhiều chuẩn và đặc tả khác nhau và gây nên những

khác biệt trên những hệ thống không tương thích. DoD liên kết chặt chẽ cùng các

kỹ sư kỹ thuật E-Learning Aviation Industry CBT Committee (AICC) phát triển

trong thập kỷ trước.

Kết quả là mơ hình tham khảo thực nghiệm chung được Advance Distributed

Learning (ADL) xuất bản, đó là sự nỗ lực cộng tác giữa chính phủ, ngành cơng

nghiệp và giới học viện được bảo trợ bởi Office of the Secretary of Defence. Chuẩn

SCORM là trọng tâm trên sự cho phép plug-and-play thao tác giữa các thành phần,

khả năng truy cập và khả năng dùng lại của nội dung học tập Web-based , với mục

đích tốt nhất của sự bảo đảm cơ hội cao nhất cho chất lượng giáo dục và đào tạo,

đáp ứng nhu cầu của từng cá nhân, phân phát có hiệu quả mọi nơi mọi lúc.

Dựa trên cơ sở tiêu chuẩn công nghệ đã được thừa nhận bao gồm XML và

JavaScript, SCORM trở nên bền vững, trên thực tế tiêu chuẩn công nghệ ELearning ngày nay đã được bao quát rộng và được hỗ trợ bởi các tập đoàn hàng đầu

thế giới, các trường đại học, hệ thống nhà cung cấp và các đại lý.

SCORM là một mơ hình tham khảo các chuẩn kĩ thuật, các đặc tả và các

hướng dẫn có liên quan đưa ra bởi các tổ chức khác nhau dùng để đáp ứng các yêu

cầu ở mức cao của nội dung học tập và các hệ thống thơng qua các đặc tính sau:

- Tính truy cập được (Accessibility): Khả năng định vị và truy cập các nội

dung giảng dạy từ một nơi ở xa và phân phối nó tới các vị trí khác.



12

- Tính thích ứng được (Adaptability): Khả năng cung cấp các nội dung

giảng dạy phù hợp với yêu cầu của từng cá nhân và tổ chức.

- Tính kinh tế (Affordability): Khả năng tăng hiệu quả và năng suất bằng

cách giảm thời gian và chi phí liên quan đến việc phân phối các giảng dạy.

- Tính bền vững (Durability): Khả năng trụ vững với sự phát triển của sự

phát triển và thay đổi của công nghệ mà không phải thiết kế lại tốn kém, cấu hình

lại.

- Tính linh động (Interoperability): Khả năng làm cho các thành phần giảng

dạy tại một nơi với một tập công cụ hay nền (platform) và sử dụng chúng tại một

nơi khác với một tập các công cụ hay nền.

- Tính tái sử dụng (Reusability): Khả năng mềm dẻo trong việc kết hợp các

thành phần giảng dạy trong nhiều ứng dụng và nhiều ngữ cảnh khác nhau.

1.9.2. Vì sao lại dùng chuẩn Scorm

Lợi ích của mơ hình SCORM đã được đông đảo cộng đồng E-Learning thừa

nhận. Bằng chứng là càng ngày càng nhiều plateform E-Learning tuyên bố hỗ trợ

SCORM. Mặt khác, chúng ta nhận thấy Internet thực sự đã và đang là một kho nội

dung vô tận. Rất dễ tìm được các nội dung cho việc học từ xa trên Internet. Ngày

càng nhiều Đại học và các giáo sư cơng bố các bài giảng của mình lên Internet cho

cộng đồng tự do truy nhập và tham khảo. Tuy nhiên phần lớn các bài giảng này đều

chỉ là những trang HTML hoặc slide, hồn tồn khơng theo một chuẩn nào của dạy

học từ xa. Việc tích hợp chúng lên một hê LMS do đó rất khó khăn.

Động cơ thúc đẩy chúng tơi xây dựng một quy trình để có thể chuyển đổi từ

một khóa học trên internet sang một gói SCORM là nhằm tận dụng được những tài

ngun vơ tận này trên Internet. Những nội dung sau khi chuyển đổi sẽ trở nên độc

lập và chia sẻ được giữa các hệ thống E-Learning với nhau.



1.10. Hệ thống quản lý học tập Moodle

- Moodle cung cấp cho người sử dụng những module theo ba dạng các module

tạo tài nguyên tĩnh như các chức năng soạn thảo văn bản, hiển thị các thư mục, ...

các module tạo tài nguyên tương tác với các nội dung học như các bài tập, bài thi,



13

kiểm tra đánh giá, ... các module tạo tài nguyên tương tác với người khác như chat,

forum, bảng thuật ngữ, wiki, ...

- Moodle là một hệ thống tổng thể về E-Learning, trong đó có tích hợp module

thi trắc nghiệm cho phép kết hợp cả dạy, học và thi. Moodle đã đáp ứng những tiêu

chí giáo dục mới mà từ trước tới nay chưa từng có: Có thể học mọi nơi, học mọi

lúc, học theo sở thích, học mềm dẻo và mở, học suốt đời …

- Moodle giúp quản lý quá trình học tập của từng người học, của từng khố

học, giúp cho các học viên làm việc theo nhóm, tăng cường sự trao đổi kiến thức

giữa Giảng viên và học viên.… Một thành phần quan trọng nữa của hệ thống ELearning là hệ thống quản lí nội dung học tập (LCMS: Learning Content

Management System) cho phép tạo và quản lý nội dung học tập.

- Moodle cung cấp các công cụ làm bài giảng (authoring tools) một cách sinh

động, dễ dùng, và đầy đủ thiết bị đa phương tiện. Điều quan trọng hơn là, hệ thống

này đã được thế giới chuẩn hố nên các bài giảng có thể trao đổi với nhau trên toàn

thế giới cũng như giữa các trường học ở Việt Nam.

Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN đã xây dựng được hệ thống học tập

moodle. Sau hơn 2 năm vận hành ổn định, hệ thống đã và đang phát huy tính tiện

ích của mình. Cụ thể đã có những khoa quan tâm hơn như khoa Sinh – Môi trường,

khoa Giáo dục Chính trị, khoa Lý, Khoa Văn… một số trang web cá nhân sử dụng

Moodle hiệu quả như Website Đánh giá Chất lượng (www.ued.edu.vn/dgcl), Phòng

giáo trình (www.ued.edu.vn/phonggiaotrinh).

Đây chính là bước cơ bản đầu tiên khi nói đến E-Learning bởi vì cho đến bây

giờ Moodle vẫn là sự lựa chọn tốt nhất cho hệ thống quản lý học tập vì tính ổn định

và tiện ích của nó.

- Những yếu tố cơ bản để áp dụng LMS Moodle

+ Cơ sở hạ tầng





Hệ thống máy chủ được trang bị tạm đáp ứng nhu cầu thi trắc nghiệm



và quản lí.





lý các trang web học tập.







Máy tính phục vụ nhu cầu học tập và tổ chức thi cử



14

+ Giảng viên và sinh viên

Một hệ thống học tập đạt hiệu quả, phải có những con người biết khai

thác và sử dụng hệ thống đó:





Đội ngũ cán bộ, giảng viên phải là những người tâm huyết, yêu nghề



có tinh thần cầu tiến, đặc biệt là lớp cán bộ, giảng viên năng động, ham học

hỏi và có trình độ, thể hiện qua việc tiếp cận hệ thống Moodle đây chính là

thế mạnh của việc triển khai LMS.





Chuyển biến nhận thức mới là tầm quan trọng, cán bộ, giảng viên phải



thấy được những lợi ích của E-Learning mang lại và đã có nhu cầu tạo bài

giảng qua mạng





Bên cạnh đội ngũ cán bộ, giảng viên một yếu tố khơng thể khơng nói



đến đó là Sinh viên vì đây chính là đối tượng thụ hưởng.





Đội ngũ quản trị mạng có trình độ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nội dung nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×