Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ INCOTERMS VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG INCOTERMS TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ INCOTERMS VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG INCOTERMS TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

4

Thứ hai, Incoterms là tập qn thương mại, khơng có tính chất bắt buộc. Chỉ

khi nào các bên tham gia hợp đồng quy định sử dụng trong hợp đồng mua bán hàng

hóa thì nó mới trở thành điều kiện bắt buộc, ràng buộc nghĩa vụ, trách nhiệm của

các bên tham gia hợp đồng.

Thứ ba, các phiên bản ra đời sau khơng phủ nhận tính hiệu lực của các phiên

bản trước. Chính vì vậy, mà khi sử dụng thì cần phải ghi rõ áp dụng Incoterms phiên

bản nào để đối chiếu, để xác định trách nhiệm của các bên.

Thứ tư, Incoterms chỉ giải thích những vấn đề chung nhất có liên quan đến

việc giao hàng, như việc bên nào có nghĩa vụ thuê phương tiện vận tải hoặc mua

bảo hiểm, khi nào người bán giao hàng cho người mua và phân chia chi phí cho các

bên ra sao.

Song các vấn đề khác như giá cả, phương thức thanh toán, việc bốc, xếp, dỡ

hàng hóa, lưu kho, lưu bãi thì tùy theo vào thỏa thuận của các bên thể hiện trong

hợp đồng hoặc theo tập quán cảng, tập quán ngành kinh doanh, tập quán của nước

sở tại của các bên tham gia mua bán.

Thứ năm, hai bên mua bán có thể tăng giảm trách nhiệm, nghĩa vụ cho nhau

tùy thuộc vào vị thế mạnh (yếu) trong giao dịch nhưng không được làm thay đổi

bản chất điều kiện cơ sở giao hàng. Việc tăng, giảm trách nhiệm, nghĩa vụ (nếu có)

cần phải được cụ thể hóa trong hợp đồng mua bán.

Thứ sáu, Incoterms chỉ xác định thời điểm di chuyển rủi ro hàng hóa từ

người mua đến người bán chứ khơng xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng

hóa, cũng như hậu quả của việc vi phạm hợp đồng. Những vấn đề này thường được

quy định trong các điều khoản khác của hợp đồng hoặc trong luật điều chỉnh hợp

đồng. Các bên cũng cần biết rằng luật địa phương được áp dụng có thể làm mất hiệu

lực bất cứ nội dung nào của hợp đồng, kể cả điều kiện Incoterms đã được lựa chọn

trước đó.



5

1.2. Thực tiễn áp dụng Incoterms trong hoạt động xuất nhập khẩu của các

doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay phần lớn sử dụng Incoterms 2000 và

Incoterms 2010 cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp mình. Với các điều

kiện tron Incoterms, sử dụng điều kiện nào là do sự thỏa thuận của hai bên; phụ

thuộc vào hành trình, cơng cụ và phương thức vận tải. Các điều kiện trong

Incoterms hầu hết chưa được sử dung cho thương mại nội địa. Mức độ hiểu biết và

vận dụng của các doanh nghiệp còn khá hạn chế.

Đa số các doanh nghiệp Việt Nam lực chọn giá FOB khi xuất khẩu và giá

CIF khi nhập khẩu. Trong khi đó ở các nước phát triển thì người xuất khẩu khi xuất

khẩu hàng hóa ln tìm mọi cách để giao hàng với điều kiện giá CIF và mua hàng

theo giá FOB. Với việc lựa chọn các điều kiện thương mại như vậy sẽ có nhiều bất

lợi cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Đối với nhà nước sẽ thất thu ngoại tệ do xuất khẩu giá

thấp mà nhập khẩu giá cao, không tạo điều kiện gia tăng doanh số dịch vụ cho các

hãng tàu và hãng bảo hiểm của Việt Nam. Đối với các doanh nghiệp, việc lựa chọn

này làm giảm khả năng tự cân đối ngoại tệ do nhập khẩu chịu chi phí nhiều, xuất

khẩu thu giá thấp, doanh nghiệp bị động với phương tiện vận tải, gặp khó khăn

trong việc khiếu nại đòi bồi thường nếu xảy ra tranh chấp với các hãng tàu và bảo

hiểm nước ngồi.

Các doanh nghiệp thường làm theo thói quan và tập quán kinh doanh đã có

từ trước. Đây là ngun nhân chính mà các doanh nghiệp ln lựa chọn giá FOB

khi xuất khẩu và giá CIF khi nhập khẩu. Chúng ta có thể phân tích một số ngun

nhân dẫn tới hiện tượng này:

Thiếu kiến thức và kinh nghiệm về vận tải bảo hiểm:

Nhiều nhà kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam chưa nắm vững nghiệp vụ

thuê tàu và bảo hiểm, họ cũng khơng có mối quan hệ với tất cả các hãng vận tải và

các công ty bảo hiểm, để lựa chọn người chuyên chở và có uy tín trên thị trường.

Đặc biệt khi hàng hóa có số lượng lớn phải thuê tàu chuyên để chở, nghiệp vụ thuê

tàu rất phức tạp, trình độ cán bộ của nhiều doanh nghiệp chưa thể đáp ứng được.



6

Hiểu sai về điều kiện FOB và CIF: theo điều kiện FOB thì việc giao hàng tại

cảng bốc hàng, còn theo điều kiện CIF thì việc giao hàng tận cảng đến cho người

mua chính. Vì vậy nhiều doanh nghiệp cho rằng “xuất FOB an tồn hơn và thanh

tốn nhanh hơn CIF và nhập CIF an tồn và được thanh tốn nhanh hơn FOB”.

Thực tế, theo Incoterms 2010, trong cả điều kiện FOB và CIF (kể cả CFR) người

bán chỉ chịu rủi ro và các phí tổn phát sinh liên quan đến hàng hóa cho đến khi hàng

qua lan can tàu tại cảng bốc hàng. Việc thanh tốn tiền hàng nhanh hay chậm hồn

tồn tùy thuộc vào quy định trong hợp đồng chứ không phụ thuộc vào điều kiện

FOB hay CIF.

Doanh nghiệp Việt Nam còn yếu thế trong giao dịch thương mại:

Do xuất FOB và bán CIF, các doanh nghiệp Việt Nam không phải thuê tàu và

mua bảo hiểm cho hàng hóa nên có thể tránh được những rủi ro như giá cước vận

chuyển tăng, phí bảo hiểm tăng, khơng th được tàu, tàu khơng phù hợp.. vì sợ

những rủi ro đó nên chúng ta nhượng lại việc thuê tàu và bảo hiểm cho khách hàng

nước ngoài.

Vốn của nhiều doanh nghiệp để xuất nhập khẩu một lô hàng là vốn đi vay từ

các ngân hàng, họ khơng đủ vốn để trả cước phí vận tải và bảo hiểm. Bên cạnh đó,

hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là nguyên liệu thô hoặc sơ chế có giá trị thấp

nên tỷ lệ cước phí so với tiền hàng khá lớn. Thông thường tiền cước vận chuyển

chiếm từ 7% đến 10% giá CIF của hàng hóa; tỷ lệ này thường cao hơn đối với hàng

hóa xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam do cồng kềnh và giá trị thấp.

Vận tải biển nước ta chưa đủ mạnh:

Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bảo hiểm và tầu chưa tận dụng được hết

khả năng vận tải. Quy mô hướng ra thị trường nước ngồi còn ít, cộng với hệ thống

quản lý yếu kém và thưa thớt. Giá cước vận tải so với mặt bằng là khá cao, mặc dù

có nhiều tàu đã sử dụng từ khá lâu và lạc hậu.

Luật liên quan Hàng Hải còn nhiều bất cập:

Tính đồng bộ, thống nhất giữa chính sách hàng hải với luật hàng hải và giữa

luật, chính sách của một số ngành, lĩnh vực liên quan với luật, chính sách vận tải



7

biển còn có bất cập, đang đòi hỏi cần được tiếp tục nghiên cứu đề xuất điều chỉnh

phù hợp. Hiện nay, hoạt động kinh tế hàng hải vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc

nên việc đề xuất sửa đổi hoặc ban hành mới một số cơ chế liên quan và nâng cao

năng lực cạnh tranh cũng đang là những yêu cầu bức thiết đối với doanh nghiệp.



8



CHƯƠNG 2: MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA INCOTERMS 2010 SO VỚI

CÁC BẢN INCOTERMS TRƯỚC ĐÓ

2.1. Tổng quan về Incoterms 2010

Incoterms 2010 được ICC xuất bản tháng 09/2010 với 11 quy tắc và chính

thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2011. Nền kinh tế toàn cầu đã mở ra cơ hội to lớn

chưa từng thấy để doanh nghiệp tiếp cận tới các thị trường khắp nơi trên thế giới.

Hàng hoá được bán ra ở nhiều nước hơn, với số lượng ngày càng lớn và chủng loại

đa dạng hơn. Khi khối lượng và tính phức tạp của bn bán quốc tế tăng lên, và nếu

hợp đồng mua bán hàng hố khơng được soạn thảo một cách kỹ lưỡng thì khả năng

dẫn đến sự hiểu nhầm và tranh chấp tốn kém cũng tăng lên.

Incoterms, quy tắc chính thức của ICC về việc sử dụng các điều kiện thương

mại trong nước và quốc tế, tạo điều kiện cho thương mại quốc tế phát triển. Việc

dẫn chiếu Incoterms 2010 trong hợp đồng mua bán hàng hoá sẽ phân định rõ ràng

nghĩa vụ tương ứng của các bên và làm giảm nguy cơ rắc rối về mặt pháp lý.

Kể từ khi Incoterms được ICC soạn thảo năm 1936, chuẩn mực về hợp đồng

mang tính tồn cầu này thường xun được cập nhật để bắt kịp với nhịp độ phát

triển của thương mại quốc tế. Incoterms 2010 có tính đến sự xuất hiện ngày càng

nhiều khu vực miễn thủ tục hải quan, việc sử dụng thông tin liên lạc bằng điện tử

trong kinh doanh ngày càng tăng, mối quan tâm cao về an ninh trong lưu chuyển

hàng hoá và cả những thay đổi về tập quán vận tải. Incoterms 2010 cập nhật và gom

những điều kiện “giao hàng tại nơi đến”, giảm số điều kiện thương mại từ 13 xuống

11, trình bày nội dung một cách đơn giản và rõ ràng hơn. Incoterms 2010 cũng là

bản điều kiện thương mại đầu tiên đề cập tới cả người mua và người bán một cách

hoàn tồn bình đẳng.

11 điều kiện Incoterms 2010 được chia thành hai nhóm riêng biệt:

Các điều kiện áp dụng cho mọi phương thức vận tải:

 EXW: Giao tại xưởng

 FCA: Giao cho người chuyên chở

 CPT: Cước phí trả tới



9











CIP: Cước phí và bảo hiểm trả tới

DAT: Giao tại bến

DAP: Giao tại nơi đến

DDP: Giao hàng đã nộp thuế



Các điều kiện áp dụng cho vận tải đường biển và đường thủy nội địa:











FAS: Giao dọc mạn tàu

FOB: Giao lên tàu

CFR: Tiền hàng và cước phí

CIF: Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí



2.2. Incoterms và các lần ban hành sửa đổi

 Incoterms 1936

Incoterms 1936 chủ yếu giải thích những điều kiện sử dụng phương thức vận

tải đường bộ và đường thuỷ. Trên thực tế, Incoterms 1936 không được các nhà kinh

doanh thừa nhận và sử dụng rộng rãi vì khơng giải thích hết được những tập quán

thương mại quan trọng.

Ban hành với 07 điều kiện giao hàng:

- EXW (Ex Works) – Giao tại xưởng

- FCA (Free Carrier) – Giao cho người chuyên chở

- FOT/FOR (Free on Rail/Free on Truck) – Giao lên tàu hỏa

- FAS (Free Alongside Ship) - Giao dọc mạn tàu

- FOB (Free On Board) – Giao lên tàu

- C&F (Cost and Freight) – Tiền hàng và cước phí

- CIF (Cost, Insurance, Freight) – Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí

 Incoterms 1953

Ban hành với 09 điều kiện giao hàng:

07 điều kiện giao hàng tương tự như Incoterms 1936.

Bổ sung thêm 02 điều kiện:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ INCOTERMS VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG INCOTERMS TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×