Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2: KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA NHÀ LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ

Chương 2: KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA NHÀ LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.1.2. Một số nguyên tắc giao tiếp

Nguyên tắc giao tiếp là những yêu cầu mang tính chỉ đạo, đinh hướng cho

hành vi, ứng xử thái độ trong quá trình trao đổi, tiếp xúc của nhà lãnh đạo, quản lý

nhằm đảm bảo hiệu quả của quá trình giao tiếp. Trong giao tiếp nhà lãnh đạo quản

lý cần tuân theo một số nguyên tắc sau:

- Luôn mỉn cười và thân thiện

Cười và chào đối tác một cách thân thiện, khi gặp đối tác của mình, khơng

nên giữ vẻ mặt nghiêm nghị mà hãy nở nụ cười và tiến lại gần chào họ một cách

thân thiện. Cách làm này sẽ giúp cho nhà lãnh đạo, quản lý lấy được cảm tình của

đối tác và cũng là cách giúp cho việc mở đầu cuộc trò chuyện sn sẻ.

Đối với cấp dưới hãy cho họ thấy mình là một người thân thiện. Đồng thời giữ

một thái độ tích cực và hứng khởi đối với cơng việc và cuộc sống. Thường xuyên

nở nụ cười, chính nguồn năng lượng toả ra giúp lôi kéo những người khác về phía

mình, nụ cười chân thật làm cho cấp dưới có cảm giác than thiện, được trọng thị,

nó sẽ khiến cho họ cảm thấy được chòa đón, an tâm hơn và để lại trong lòng mình

một cảm giác nồng ấm. nụ cười có tác dụng to lớn nhưng phải đúng lúc.

- Cân nhắc lời nói của mình

Chú ý đến nội dung và cách thức mình nói chuyện để tránh làm người khác

hiểu lầm. Lời nói là biểu hiện của trí thơng minh và sự chín chắn khơng phân biệt

độ tuổi. Do đó, chẳng ai đánh giá cao ý kiến của một người nói trước rồi mới suy

nghĩ.

- Nhớ tên nhân viên (đối tượng giao tiếp)

Xưng tên cá nhân là một trong những âm thanh ngọt ngào nhất mà nhân viên

muốn được nghe từ sếp mình. Việc xưng hơ bằng tên riêng trong cuộc nói chuyện

với khách sẽ cho thấy nhà lãnh đạo quản lý nhìn nhận họ với một tư cách một cá

nhân nói riêng chứ khơng phải đối tượng chung chung, qua đó thể hiện sự tơn

trọng đối với họ.

- Hãy truyền đi thông điệp với nhân viên khi tiếp xúc: họ là người quan

9



trọng

Nhân viên biết rằng, trong tổ chức, cơ quan có rất nhiều người nhưng họ chỉ

thực sự gắn bó với tập thể nếu nhà lãnh đạo, quản lý khiến họ cảm thấy mình thực

sự quan trọng. Hỏi nhân viên về một vấn đề nào đó, họ sẽ có những ý kiến các

nhân, và nếu được hỏi vào tời điểm thích hợp, theo những cách thích hợp họ sẽ

cảm thấy thủ trưởng thực sự quan tâm đến câu trả lời, sẽ cố gắn suuy nghĩ để đáp

lại sự tin tưởng đó.

Nhà lãnh đạo, quản lý khơng nên tỏ ra sẵn sang tranh luận, cướp lời khẳng

định hơn thiệt với nhân viên khi xảy ra bất đồng. việc cần thiết và là nhiệm vụ của

họ là phải lắng nghe, cảm ơn và tìm cách khắc phục thiếu sót ngay sau đó nếu có

thể. Hãy coi trọng ý kiến của nhân viên, đùng bao giờ nói họ lầm lẫn. hãy để họ nói

thỏa thích những cái mà họ muốn nói.

- Tơn trọng nhân viên dưới quyền trong giao tiếp

Không phải bất kỳ nhà lãnh đạo nào trong lãnh đạo quản lý cũng có thái độ

tơn trọng với nhân viên. Có khơng it người tỏ thái độ hách dịch đối với cấp dưới.

thái độ đó mang lại những ảnh hưởng xấu đến danh dự và uuy tín của họ. Do vậy

tôn trọng đối tượng giao tiếp dù ở mức độ nào, cấp nào trong q trình giải quyết

cơng việc, nhà lãnh đạo quản lý cần thể hiện:

+ có thái độ bình đẳng, tạo điều kiện để nhân viên bộc lộ, thể hiện nhu cầu,

thái độ của mình. Khơng nên áp đặt lấn át họ trong quá trình giao tiếp.

+ chú ý lắng nghe, không cắt ngang, không tỏ thái độ phản ứng ngay khi họ

có ý kiến trái ngược với mình (nhất là trong các buổi họp, hội nghị).

+ trang phục, cách ăn mặc lịch sự, hài hòa, phù hợp với hình dáng, hồn

cảnh. Đó cũng là một cách biểu hiện gây cảm tình vầ tạo ấn tượng tốt cho việc thiết

lập mối quan hệ tiếp theo.

+ sử dụng ngôn ngữ văn bản trang trọng, không hách dịch, không lạm ngôn,

loạn ngôn, nên dung những từ phù hợp với tính chất cơng việc, những thuật ngữ

chun mơn, chun ngành.

10



+ hành vi cử chỉ trong quá trìn giao tiếp phải phù hợp, lịch thiệp, có văn hóa,

thể hiện trong tư thế ngồi, đứng, các động tác tay, chân, nét mặt…

- Thấy được ưu điểm của người khác

Hãy tìm ra ưu điểm của những người cùng làm việc với mình và giúp họ

thấy điều đó. Đừng tiếc lời ngợi khen và khuyến khích người khác. Nói lời cảm ơn

khi ai đó giúp đỡ mình. Và hãy để đồng nghiệp thấy họ được chào đón khi gọi điện

đến hay ghé vào văn phòng của mình. Nhớ cư xử với người khác theo cách mà bạn

muốn họ đối với mình.

- Đừng tiếc lời khen ngợi

Trong giao tiếp ứng xử, để tạo sự thân thiện, tin tưởng thì việc biết khen

ngợi, động viên, khích lệ người khác đúng lúc, đúng chỗ sẽ đem lại hiệu quả bất

ngờ. Tổng thống Abraham Lincoln đã từng đúc kết: “Ai cũng muốn được người

khác khen mình”. Đó là tâm lý phổ biến của con người. Nhưng khen cũng phải

khen đúng, phải thật, phải từ tâm, chân thành, không vụ lợi, khơng xỏ xiên mới là

người trung thực, có nhân cách.

Trong cuộc sống, chúng ta nên biết động viên, khích lệ nhau. Khích lệ đúng

lúc, đúng người thì chúng ta có thể nhìn thấy những điểm mạnh, sở trường của họ.

Sếp biết quan tâm, khích lệ nhân viên thì sẽ tạo động lực làm việc cho họ. Sự thành

công hội tụ từ những điều nhỏ nhất là vậy.

- Biết lắng nghe, kiên nhẫn, chờ đợi, biết tìm hiểu điểm tương đồng, mối

quan tâm chung để hợp tác.

Hợp tác để cùng có lợi mang lại lợi ích cho cả hai bên tham gia. Trong quá

trình giao tiếp, nhà lãnh đạo, quản lý phải học cách lắng nghe tích vực, chăm chỉ,

kiên nhẫn, khơng ngắt lời, tách lời người đang nói. Lắng nghe tạo họ cảm thấy

được đề cao và được quan tâm.

Trong giao tiếp khi gặp nhưng xung đột, bất đồng quan điểm, nhà lãnh đạo,

quản lý phải bình tĩnh phân tích các khía cạnh, giải thích có lý có tình vì lợi ích

chung để thuyết phục đối tượng hiểu đúng về những vấn đề cần giải quyết. không

11



vội vàng kết luận ngay khi chưa có đủ căn cứ. Sự chờ đợi trong giao tiếp chính là

khoảng thời gian để các bên hiểu nhau. Đồng thời trong giao tiếp nhà lãnh đạo

quản lý phải biết đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân, khơng vì ỷ lại vào

chức vụ quyền hạn của mình để tự ch mình quyền muốn nói gì thì nói. Khơng áp

đặt, áp chế người dưới quyền, khơng tranh quyền lợi về mình mà vi phạm quyền

lợi của người khác.

- Đảm bảo sự hài hòa về mặt lợi ích giữa các bên tham gia giao tiếp

Nguyên tắc này dựa trên một thực tế có tính qui luật về mặt tâm lý của con

người. Bất kỳ ai, khi thực hiện các quan hệ giao tiếp đều mong muốn, tin tưởng

hoặc hy vọng rằng thông qua việc giao tiếp có thể đạt được một lợi ích nào đó cho

mình hoặc cho chủ thể mà mình đại diện. Lợi ích mà con người hướng tới có thể là

vật chất (tiền bạc, tài sản...) cũng có thể là lợi ích tinh thần (trình bày ức chế, mong

được chia sẻ và cảm thông, hoặc một đề nghị ghi nhận một sự đóng góp của bản

thân cho tập thể, cho xã hội…).

Có thể nói, hầu như khơng một ai thực hiện giao tiếp lại không muốn, hoặc

không hy vọng rằng sẽ đạt được mục đích đã đặt ra, ngay cả khi chính bản thân

chúng ta biết rằng để đạt được lợi ích đó là hết sức khó khăn. Xuất phát từ tâm lý

này, đối tác khi giao tiếp với chúng ta thường ít chuẩn bị tâm lý cho những yêu

cầu, đề nghị của họ khi không được đáp ứng, những mong muốn của họ không

được chia sẻ và cảm thông.

Khi không đạt được những điều như đã dự định, đối tác thường có những

phản ứng ở những mức độ khác nhau (có thể bực tức, buồn bã, chán nản, mất lòng

tin, tỏ thái độ bất hợp tác thậm chí lăng nhục, chửi bới...). Những phản ứng này dù

ở mức độ nào đi chăng nữa thì đều khơng có lợi cho 2 phía. Chính vì vậy, một

ngun tắc cơ bản trong giao tiếp là phải cố gắng đảm bảo sự hài hòa về lợi ích của

hai bên tham gia giao tiếp.

Nguyên tắc này đòi hỏi những người trực tiếp giao tiếp với đối tác phải chú

ý những điểm cơ bản như sau:

12



+ Hiểu tâm lý của đối tác, dành thời gian để tìm hiểu mục đích của đối

tượng giao tiếp, đồng thời trong hoạt động giao tiếp này, mình cần đạt được mục

đích gì.

+ Trong trường hợp lợi ích của đối tượng giao tiếp không được thỏa mãn,

cần phải tỏ thái độ cảm thơng, chia sẻ chứ khơng thể có thái độ hiếu thắng hoặc thờ

ơ.

* Một số quy tắc trong giao tiếp thành công:

- Muốn lấy mật đừng phá tổ ong. ” Không phê phán, không kết tội, không

than phiền “.

- Hãy khen ngợi người khác một cách trung thực và thật lòng.

- Gợi lên ý thích làm điều chính bạn đề nghị.

-Để đi đến đâu cũng được đón tiếp niềm nở : ” Hãy thực lòng quan tâm đến

người khác”.

- Để đây thiện cảm ban đầu, bạn nên luôn nở nụ cười.

- Bạn nên nhớ tên một người vì nó có tầm quan trọng lớn đối với người đó.

- Bạn nên lắng nghe, khích lệ người khác nói về bản thân họ.

- Hãy nói với người đối thoại về điều mà họ quan tâm.

- Làm cho người khác thấy tầm quan trọng của họ và làm điều ấy thật lòng.

- Trành những cuộc cãi cọ là cách duy nhất để chiến thắng.

- Hãy tôn trọng ý kiến người đối thoại.

- Nếu bạn có sai lầm, hãy sẵn sàng và dũng cảm nhận sai lầm.

- Bạn hãy mở đầu giao tiếp một cách thân mật.

- Nêu lên những câu hỏi làm người ta trả lời ngay là đúng.

- Hãy để người đối thoại của bạn nói thật thoải mái.

- Hãy để người đối thoại nghĩ rằng ý kiến nêu ra là của họ.

- Thực lòng nhìn sự việc trên quan điểm của người khác.

- Hãy vui vẻ tiếp nhận những ý kiến và ý muốn của người khác.

- Hãy gợi lên tình cảm cao thượng của người đối thoại.

13



- Hãy trình bày những ý kiến của mình bằng hình ảnh nêu bật vào trí tưởng

tượng của người khác.

- Để khơi dậy một quyết tâm : “Hãy đưa ra một lời thách thức”

- Nếu cần sửa chữa lỗi lầm thì hãy bắt đầu bằng những lời khen thật lòng

- Để sửa chữa người khác mà họ khơng ghét mình : ” Hãy nhận xét sai sót,

lỗi lầm một cách gián tiếp”.

- Nêu sai lầm của mình trước khi sửa chữa sai lầm của người khác.

- Gợi ra những vấn đề thay cho mệnh lệnh trực tiếp.

- Khích lệ lòng tự trọng của người đối thoại: “Hãy để cho người đối thoại

mát mặt”.

- Khích lệ người khác bằng cách :” Khen ngợi sự tiến bộ nhỏ nhất và mọi sự

tiến bộ, Hãy nhiệt tình và đừng dè sẻn lời khen.”

- Động viên người khác vươn lên bằng cách tặng người ta một tiếng tốt đáng

có.

- Tạo điều kiện để người khác tiến bộ bằng cách khuyến khích . Hảy làm

như sai sót có vẻ như dễ sửa chữa.

- Làm cho người khác vui sướng thực hiện điều bạn gợi ý.

2.2. Một số kỹ năng giao tiếp của nhà lãnh đạo quản lý.

2.2.1. Kỹ năng tạo lập mối quan hệ

Mối quna hệ xã hội là cầu nối giữa nhà lãnh đạo, quản lý (chủ thể giao tiếp)

với nhân viên trng tập thể, cơ quan hay đối tác (đối tượng giao tiếp) nhằm mục

đích tìm kiến sự chia sẻ, hợp tác. Đây cũng là phương tiện để nhà lãnh đạo, quản lý

tìm được tiếng nói chung. Khi đã thiết lập được mối quan hệ tốt, các bên tham gia

giao tiếp tạo được cảm giác về sự thân thiết, an toàn để trao đổi ý kiến đặc biệt là

các bất đồng. Nhưng các mối quan hệ khơng phải có sẵn, đòi hỏi nhà lãnh đạo,

quản lý phải tạo lập. Việc tạo ra và duy trì mối quan hệ với các đối tượng khác

14



nhau đòi hỏi nhà lãnh đạo quản lý rèn luyện những kỹ năng nhất định sau:

- Quan sát đối tượng: Phải chủ động quan sat đối tượng nhằm đo lường và

nhận định tâm trạng, cảm xúc, hành vi của họ. Khi quan sát cần chú ý: phong thái,

tư thế (thoải mái, khép nép hay khúm núm, sợ sệt trước mình); nét mặt: bình

thường hay tỏ ra sợ hãi, lo sợ; ánh mắt: nhìn lên nhìn xuống hay lơ đãng; cách ăn

mặc, cử chỉ điệu bộ.

- Tạo lập được khoảng cách khi nói chuyện, không nên quá gần cũng không

nên quá xa.

- Tập trung chú ý tới đối tượng trong quá trình giao tiếp, khiến họ cảm nhậ

được tầm quan trọng của mình.

- Phải có tài điều tiếp trong giao tiếp. Điều tiếp để lập sự tin tưởng hoặc củng

cố mối quan hệ, bao gồm những hành động khi ta điều chỉnh hành vi của đối tác

một cách tế nhj, tinh tế.

2.2.2. Kỹ năng lắng nghe

Trong cuộc sống hàng ngày, lắng nghe giúp xây dựng và phát triển quan hệ.

Trong giao tiếp, ai cũng thích được người khác lắng nghe, đặc biệt là phụ nữ. Phụ

nữ thường sống tình cảm và thích giãi bày. Nếu bạn biết lắng nghe, ủng hộ và

khích lệ đúng cách, cuộc nói chuyện sẽ trở nên thoải mái, say sưa. Như vậy, lắng

nghe giúp chúng ta hiểu nhau để thân thiết, gắn bó và tin tưởng hơn.

Lắng nghe đóng vai trò rất quan trọng trong cơng việc. Muốn thành công

trong bất cứ ngành nghề nào cũng phải biết lắng nghe, đặc biệt là làm lãnh đạo.

Lắng nghe giúp ta học hỏi kinh nghiệm, thấu hiểu tâm tư tình cảm, tính cách, sở

thích, thói quen của đồng nghiệp, nhân viên, đối tác và những người xung quanh.

Từ đó tạo sự gắn kết, hợp tác và tăng hiệu quả công việc.

Để hình thành được kỹ năng giao tiếp nhà lãnh đạo, quản lý khơng chỉ biết

nói, sử dụng lời nói để truyền đạt thông tin đến đối tác, nhất là đến nhân viên trong

cơ quan, đồng thời cần phải rèn luyện kỹ năng lắng nghe.

15



Kỹ năng lắng nghe là tập trung cao độ để nghe và hiểu người đối thoại với

mình. Nghe khơng chỉ bằng tai mà bằng cả các giác quan, vận dụng tất cả giác

quan cần thiết để nghe có hiệu quả nhất. Nhà lãnh đạo, quản lý thêt hện sự tập

trung cao độ đến đối tượng, chú ý đến những điều họ nói, những cử chỉ mà họ thể

hiện trong khi nói, quan sát mọi hành vi, ứng xử, theo dõi các diễn biến tâm lý của

họ.

Lắng nghe để hiểu và tiếp thu những gì đối tác đang trình bày theo quan

điểm, cách nghĩ của họ. Đối tác sẽ cố gắng thể hiện hoặc mô tả một cách chính xác

cái mà họ đang trình bày với các nhà lãnh đạo, quản lý. Đó có thể là ý kiến, ý

tưởng và xen lẫn cảm xúc về vấn đề mà họ đang quan tâm tại thời điểm đó. Khi

lắng nghe, nhà lãnh đạo, quản lý cố gắng quan sát những biểu hiện của đối tượng

một cách chính xác và làm sang tỏ để hiểu ý nghĩa của nó.

Khi lắng nghe nhà lãnh đạo, quản lý cần đến những kỹ thuật sau:

- Nghe khơng chỉ bằng tai mà còn bằng mắt; im lặng nghe họ trình bày. Đưa

ra những câu hỏi hợp lý, đúng lúc; biết tóm tắt những thơng tin họ trình bày.

- Cần thể hiện thái độ sẵn sang hiểu và tiếp thu thông tin.

2.2.3. Kỹ năng lắng nghe hiệu quả

Song song với chu trình lắng nghe, chúng ta cần thực hành và sử dụng một

số kỹ năng để lắng nghe hiệu quả hơn.

- Nghe xong rồi hãy nói

Khi hai người tranh nhau nói hoặc chỉ chờ người kia kết thúc để mình nói thì

kết quả là cả hai đều không nghe được ý kiến của nhau. Những người còn lại rất

khó chịu vì họ cũng chẳng nghe được gì. Khơng khí buổi nói chuyện trở nên rất

căng thẳng. Người thực sự khôn ngoan họ không cãi lộn. Họ nói hoặc họ nghe, họ

quả quyết hoặc họ tìm hiểu sâu hơn. Khi lắng nghe, bạn muốn hỏi hay phát biểu ý

kiến thì hãy để người nói trình bày xong ý đó, rồi đề nghị giải thích hoặc trình bày

quan điểm của mình. Nếu bạn sợ mình quên mất ý đó thì hãy ghi ra giấy. Ví dụ:

16



“Xin lỗi, anh vừa nói về chế độ tiền thưởng. Tơi chưa rõ lắm, anh làm ơn nói kỹ

hơn”.

- Gác các việc khác lại

Hành động như vậy thể hiện mình sẵn sàng lắng nghe. Khi không phải chú ý

đến các hoạt động khác nữa thì ta sẽ tập trung và chú ý hơn đến người nói và nội

dung trình bày, hiệu quả lắng nghe sẽ cao hơn.

- Hồi đáp để ủng hộ người nói

Hồi đáp tích cực sẽ truyền cảm hứng và gây hưng phấn cho người nói.

Người nói sẽ đem hết tâm huyết để truyền đạt cho ta. Hồi đáp trong lắng nghe cần

lưu ý: Hãy dừng lại một chút trước khi hồi đáp, làm như vậy sẽ giúp chúng ta

không phản ứng trước ý kiến của người nói và giúp người nói có thời gian kết thúc

ý kiến của mình.

- Nhìn vào người nói

Nếu bạn chưa có thói quen nhìn vào người nói khi lắng nghe, thì bạn hãy tập

ngay bây giờ. Có những điều ngơn ngữ khơng thể diễn tả, nhưng khi nhìn vào mắt,

khn mặt, cử chỉ của người nói ta có thể cảm nhận được.

Trong giao tiếp, người nói như cái gương của người nghe và ngược lại. Hãy

nhìn vào sự thể hiện bên ngồi của người nói, ta sẽ biết ta đang nghe như thế nào.

“Nhìn mặt mà bắt hình dong”. Hãy nhìn vào người nói để lắng nghe cả những điều

khơng nói. Điều này đặc biệt quan trọng khi các bạn lắng nghe phụ nữ. Phụ nữ

thường nói bóng gió xa xơi, thậm chí nói ngược.

Nếu chỉ ghi nhận đầy đủ thông tin họ cung cấp bạn sẽ không bao giờ hiểu

hết ý họ muốn nói "cái nói ra và cái định nói ra". Để hiểu được ‘ngầm ý” trong lời

nói của họ bạn phải nhìn vào mắt. Như vậy, để lắng nghe thực sự, chúng ta khơng

chỉ dùng tai mà còn dùng mắt. “Mắt là cửa sổ của tâm hồn” nhìn vào mắt của

người nói để cảm nhận được cái “từ” sâu xa trong lời nói cũng là để thấu hiểu được

tâm hồn họ.

- Khơng nên ngắt lời người nói khi chưa thực sự cần thiết

17



Đặc biệt, đừng vội vàng tranh cãi hay phán xét về những gì đang được trình

bày. “Lời chưa nói ra ta là chủ nó, lời nói ra rồi nó là chủ ta”. Nếu bạn ý thức rõ về

điều này thì bạn sẽ cẩn thận hơn khi đưa ra ý kiến hồi đáp. Có người trình bày theo

cách quy nạp từ chi tiết đến tổng quan, có người trình bày theo cách diễn dịch từ

tổng quan đến chi tiết. Chỉ lắng nghe hết ta mới hiểu đầy đủ ý người nói muốn nói.

- Nhắc lại và diễn giải nội dung

Tốc độ nghe của ta gấp 4 lần tốc độ nói. Vì vậy, nếu ta khơng tập trung thì sẽ

rất hay nghĩ sang việc khác. Để tránh điều này chúng ta hãy diễn giải lại ý người

nói theo cách hiểu của ta. Làm như vậy, giúp tư duy của chúng ta luôn tập trung

vào vấn đề đang lắng nghe. Đặc biệt, não của chúng ta làm việc bằng hình ảnh và

khái niệm, vì vậy khi nghe chúng ta hãy hình dung, diễn giải theo khung cảnh

trong đầu thì sẽ giúp ta nhớ lâu hơn.

- Tìm ra ý chính

Sau mỗi buổi nói chuyện thường có rất nhiều thơng tin. Người thơng minh

khơng nhớ tất cả các chi tiết mà họ chắt lọc và tìm ra ý chính để ghi nhớ. Não

chúng ta làm việc bằng những liên kết các thông tin, khi ta nhớ được ý chính thì

những thơng tin bổ trợ xung quanh sẽ theo đó mà tái hiện lại.

- Hỏi để làm rõ vấn đề

Trong giao tiếp và lắng nghe, nếu chúng ta chưa hiểu, thay vì ậm ừ cho qua

chuyện, hãy đặt câu hỏi để làm rõ. Điều này khơng khiến người nói khó chịu mà

ngược lại họ rất vui vì biết rằng ta thực sự muốn hiểu và ta đang cho họ một cơ hội

để thể hiện rõ hơn ý tưởng họ đang trình bày.

- Nỗ lực và tập trung

Độ chú ý của chúng ta trong mỗi cuộc giao tiếp phụ thuộc rất nhiều yếu tố

như: Thái độ, sức khỏe, mơi trường, người nói, nội dung... Khi chúng ta mệt mỏi,

buồn chán là những lúc chúng ta dễ mất tập trung nhất. Trong những trường hợp đó

để tập trung hơn chúng ta có thể làm như sau: Ngồi 1/3 ghế phía trước; khơng tựa

lưng vào ghế; người hơi nghiêng về phía trước; khơng chống tay hay tỳ ngực lên

18



bàn. Với tư thế như vậy cùng với các kỹ năng khác sẽ giúp chúng ta tập trung hơn

vào lắng nghe.

2.2.4. Kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ

Để truyền đạt thông điệp một cách đầy đủ nhất, nhà lãnh đạo,quản lý cần sử

dụng hành vi phi ngôn ngữ, đây là cách làm tăng kênh giao tiếp giữa các cá nhân:

- Giao tiếp bằng mắt

Ánh mắt được xem là cửa sổ của tâm hồn. ánh mắt phản ánh tâm trạng,

những xúc cảm, tình cảm của con người như vui, buồn, tức giận, sợ hãi, lo lắng

hay yên tâm. ánh mắt cũng có thể cho ta biết mong muốn, ý nghĩ của người đối

thoại. Điều này giúp điều chỉnh dòng chảy thơng tin. Nó khiến cho người nghe cảm

thấy thích thú và người nói trở nên đáng tin cậy hơn. Người biết sử dụng “Giao

tiếp bằng mắt” sẽ mở ra một dòng chảy của thông tin và truyền tải đến người nghe

sự quan tâm, thích thú, ấm áp, và tin tưởng.

- Biểu cảm trên khn mặt

Mỉm cười là một tín hiệu mạnh mẽ truyền hạnh phúc, thân thiện, ấm áp, và

thích thú. Vì vậy, mọi người sẽ cho rằng mình thân thiện, ấm áp và gần gũi hơn nếu

mình cười thường xuyên. Nụ cười có tính lan truyền và khiến cho mọi người có

cảm xúc tích cực. Họ sẽ cảm thấy thoải mái hơn khi ở xung quanh mình và muốn

lắng nghe mình nói nhiều hơn.

- Cử chỉ

Nếu khi nói chuyện khơng sử dụng cử chỉ, người lãnh đạo, quản lý có thể bị

coi là nhàm chán và cứng nhắc. Một phong cách nói sinh động sẽ thu hút sự chú ý

khiến cho câu chuyện trở nên thú vị và dễ hiểu hơn.

-Tư thế

Nhà lãnh đạo truyền tải nhiều thông điệp thông qua cách họ nói chuyện và di

chuyển. Đứng thẳng và hướng cơ thể về phía người nghe sẽ khiến nhà lãnh đạo

quản lý trở nên gần gũi và thân thiện. Nên nhớ rằng sự gần gũi và tương tác sẽ tăng

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2: KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA NHÀ LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×