Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ngành: Quản lý thị trường BĐS



SVTH: Võ Đình Thảo Nguyên



đang sống tại các chung cư. Thị phần căn hộ chung cư ở Hàn Quốc đã từ 13,5% trong

năm 1985 tăng đến 37,5% trong năm 1995 và 53% trong năm 2005. Tại Nhật Bản, đất

nước vốn có truyền thống sống trong loại nhà riêng lẻ, nay cũng chứng kiến sự nổi lên

của những tòa cao ốc chung cư ở các đơ thị, với số lượng căn hộ chung cư chiếm 20%

thị trường nhà ở. (Theo Korea Times). Trong khi đó, sống trong các ngôi nhà kiểu biệt

thự lại là sự lựa chọn ưa thích của khách thuê phương Tây. Mặt khác, thu nhập của

người phương Tây cũng thường cao hơn người châu Á nên họ có thể dễ dàng thuê

những căn biệt thự với giá rất cao như hiện nay.



Loại nhà ở

60

49



50



%



40



36



33

26



30



19 18 18



20



10



10



20



17



23 23



9

0



0

Người châu Á

Căn hộ dịch vụ

Nhà phố



Người châu Âu

Căn hộ cho thuê

Phòng cho thuê



0



Người châu Mỹ & Úc

Biệt thự



(Nguồn: Tính tốn tổng hợp)

Hình 2.2 Sự lựa chọn loại nhà ở của người nước ngồi phân nhóm theo quốc tịch

2. Giới tính

Từ kết quả tại hình 2.3, ta thấy tỷ lệ nam sang nước ngoài sinh sống chiếm đa

số, trong 138 người nước ngồi có đến 98 người là nam chiếm tỷ lệ 71%. Điều này

được giải thích bởi đặc tính hướng ngoại, thích phiêu lưu, mạo hiểm và dễ thích nghi

với cuộc sống mới ở nam giới nhiều hơn ở giới nữ. Mặc khác nam cũng là người ít bị

vướng bận, ràng buộc với gia đình hơn nữ giới nên dễ dàng làm việc nơi xa hơn nữ.

Do vậy nam sẽ là đối tượng chính trong các chương trình quảng bá nhà ở cho người

nước ngồi th.



27



Ngành: Quản lý thị trường BĐS



SVTH: Võ Đình Thảo Ngun



Giới tính

71%



29%



Nam



Nữ



(Nguồn: Tính tốn tổng hợp)

Hình 2.3 Tỷ lệ nam/nữ

Theo kết quả khảo sát, xu hướng lựa chọn loại hình nhà ở của nam và nữ đều

tương đối như nhau. Vì vậy mặc dù số lượng người nước ngoài là nam tại TP. HCM

nhiều hơn nữ, nhưng các nhà đầu tư vẫn nên phát triển đa dạng các loại hình nhà ở.



Giới tính

40



%



30



30



20



27



27,5

23



22,5



22,5

17,5



17



10



10



3



0

Nam

Căn hộ dịch vụ



Nữ



Căn hộ cho th



Biệt thự



Nhà phố



Phòng cho th



(Nguồn: Tính tốn tổng hợp)

Hình 2.4 Sự lựa chọn nhà ở của người nước ngồi phân nhóm theo giới tính

3. Hơn nhân

Số lượng người nước ngồi tại TP. HCM chưa lập gia đình và đã có gia đình là

tương đương nhau. Điều này sẽ tạo nên sự đa dạng về nhu cầu nhà ở dành cho người

nước ngoài.



28



Ngành: Quản lý thị trường BĐS



SVTH: Võ Đình Thảo Ngun



Hơn nhân



49%



51%



Độc thân



Đã kết hơn



(Nguồn: Tính tốn tổng hợp)

Hình 2.5 Tỷ lệ kết hơn của người nước ngồi tại TP. HCM

Nhóm người độc thân thường có xu hướng chọn những căn nhà phố riêng rẽ

(chiếm tỉ lệ 30% trong số những người độc thân), hoặc những căn hộ chung cư gồm cả

căn hộ dịch vụ (27%) và căn hộ cho thuê (21%). Trong khi đó, những người đã lập gia

đình sẽ chọn nhà ở là biệt thự (chiếm tỉ lệ 40.3% trong số những người đã kết hôn) hay

căn hộ dịch vụ (28.4%), do họ cần khoảng không gian rộng vừa dùng để ở cho cả gia

đình và cả sân vườn dành cho trẻ em vui chơi.

Hôn nhân

45



40,3



40

35



%



30



30



27



25

20

15



28,4



21

14



13,4



16,4



8



10

5



1,5



0

Độc thân

Căn hộ dịch vụ



Căn hộ cho th



Đã kết hơn

Biệt thự



Nhà phố



Phòng cho th



(Nguồn: Tính tốn tổng hợp)

Hình 2.6 Lựa chọn nhà ở của người nước ngồi phân theo tình trạng kết hơn



29



Ngành: Quản lý thị trường BĐS



SVTH: Võ Đình Thảo Nguyên



4. Nghề nghiệp

Theo thống kê của Bộ Xây dựng, trong khoảng 81.000 người nước ngoài vào

Việt Nam làm ăn, sinh sống, có khoảng 25.000 người vào đầu tư, khoảng 1.600 người

vào làm việc cho các cơ quan đại diện nước ngoài, các tổ chức quốc tế, và gần 54.000

người nước ngoài vào làm trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, thể dục thể thao, đặc biệt

là trong lĩnh vực kinh tế.



%



Nghề nghiệp

45

40

35

30

25

20

15

10

5

0



41

33



33



30

25 25

20 20



19

14



13

6



3



1

Người làm việc trong

lĩnh vực kinh tế & NGO



Căn hộ dịch vụ



Căn hộ cho thuê



17



Giáo viên



Biệt thự



Sinh viên/Nghiên cứu

sinh

Nhà phố



Phòng cho thuê



(Nguồn: Tính tốn tổng hợp)

Hình 2.7 Lựa chọn loại nhà ở của người nước ngồi phân nhóm theo nghề nghiệp

Những người làm trong lĩnh vực kinh tế có xu hướng chọn các căn hộ dịch vụ

và biệt thự để ở. Còn nhà phố là sự lựa chọn mong muốn đối với các thầy cô giáo (với

tỉ lệ 41% trong tổng số giáo viên) và sinh viên (với tỉ lệ 30%). Như vậy đa số những

người thuê nhà ở chất lượng cao đều là những người đã có cơng việc làm tốt. Dường

như những người còn đang đi học hoặc khơng làm việc trong lĩnh vực kinh tế có thu

nhập khơng cao nên họ chỉ cần một nơi để ở sau một ngày học tập và làm việc.

5. Thời gian đã sống tại Việt Nam

Theo kết quả khảo sát, số đông người nước ngoài tại TP. HCM chỉ mới sinh

sống ở đây dưới 1 năm, chiếm tỉ lệ 45%. Nguyên nhân có thể là do chính sách làm

việc của các doanh nghiệp nước ngồi thường xun hốn chuyển nhân viên, đồng

thời mức độ đầu tư của nhiều cơng ty còn đang trong giai đoạn tìm hiểu, và có thể

trong tương lai nếu việc đầu tư đạt kết quả tốt sẽ giữ chân được những nhân viên chủ

lực (hiểu biết nhiều về thị trường Việt Nam) lâu hơn. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có

lượng lớn người nước ngồi đã sinh sống tại Việt Nam trên 2 năm, lượng người này

chiếm 36%, tập trung ở những doanh nghiệp, tổ chức có sự hợp tác, đầu tư lâu dài tại Việt Nam.

30



Ngành: Quản lý thị trường BĐS



SVTH: Võ Đình Thảo Nguyên



Thời gian sống ở VN

36%



19%

45%



<1 năm



1 - 2 năm



> 2 năm



(Nguồn: Tính tốn tổng hợp)

Hình 2.8 Thời gian đã sinh sống tại Việt Nam của người nước ngoài

6. Thời hạn cư trú tại Việt Nam

Mặc dù số đơng người nước ngồi chỉ mới đến TP. HCM sinh sống chưa lâu,

nhưng có đến 76% người nước ngoài xác định sẽ cư trú tại Việt Nam dài hạn (trên 1

năm). Đây khơng chỉ là tín hiệu tốt chứng tỏ nền kinh tế đang phát triển, thu hút được

khá nhiều đầu tư nước ngồi, mà còn là cơ hội cho thị trường nhà ở phục vụ người

nước ngoài phát triển mạnh trong những năm sắp tới.

Thời hạn cư trú



24%



76%



Ngắn hạn



Dài hạn



(Nguồn: Tính tốn tổng hợp)

Hình 2.9 Thời hạn cư trú tại Việt Nam

Trong số những người nước ngoài cư trú dài hạn (trên 1 năm) tại Việt Nam, có

28,6% người sống trong biệt thự, kế đến là căn hộ dịch vụ với tỉ lệ 24,8% và nhà phố

(23,8%). Trong khi đó, những người chỉ sống ở TP. HCM trong thời gian ngắn có xu

hướng lựa chọn căn hộ dịch vụ để ở. Với thời gian thuê linh hoạt từ 1 đến 24 tháng,

cùng với các dịch vụ, tiện ích tồn diện nên các căn hộ dịch vụ là sự lựa chọn hàng đầu

đối với những người sống ở thành phố khơng lâu. Còn những người nước ngồi sống

31



Ngành: Quản lý thị trường BĐS



SVTH: Võ Đình Thảo Nguyên



ở đây trong thời gian dài thường sẽ đưa cả gia đình sang nên cần những nhà ở có diện

tích rộng kèm theo sân vườn, garage, hồ bơi.



Thời hạn cư trú

40



36,4



30

21,2 21,2



%



28,6



24,8



23,8

19,0



20

12,1



9,1



10



3,8



0

Ngắn hạn

Căn hộ dịch vụ



Dài hạn



Căn hộ cho thuê



Biệt thự



Nhà phố



Phòng cho th



(Nguồn: Tính tốn tổng hợp)

Hình 2.10 Lựa chọn nhà ở của người nước ngồi phân theo nhóm thời hạn cư trú

7. Phần trăm thu nhập chi trả cho nhà ở



Phần trăm thu nhập chi trả cho nhà ở

4% 3%



36%



57%



< 25%



25% - 50%



50% - 75%



> 75%



(Nguồn: Tính tốn tổng hợp)

Hình 2.11 Tỉ lệ chi trả cho nhà ở trong tổng thu nhập của người nước ngoài

Tỉ lệ ngân sách dành cho chỗ ở chiếm không nhiều trong thu nhập của người

nước ngồi tại TP. HCM. Có đến 57% người nước ngoài trong đợt khảo sát chi cho

vấn đề nhà ở với mức dưới 25% thu nhập của họ. Điều này là do phần lớn người nước

32



Ngành: Quản lý thị trường BĐS



SVTH: Võ Đình Thảo Ngun



ngồi sang Việt Nam làm việc đã được công ty của họ trả tiền thuê nhà. Riêng đối với

những đối tượng phải tự trả tiền thuê nhà, số tiền này cũng chỉ chiếm dưới 50% tổng

thu nhập của họ. Nếu xét giá thuê nhà của người nước ngoài hiện nay, ta thấy người

nước ngoài làm việc tại TP. HCM có thu nhập rất cao. Chính vì vậy khi người nước

ngồi được phép sở hữu căn hộ sẽ đem lại rất nhiều lợi nhuận cho quốc gia, thị trường

nhà ở sẽ được “tiếp sức” một nguồn vốn lớn và sẽ tạo nên cú huých lớn đối với thị

trường BĐS.

8. Mong muốn sở hữu nhà ở tại TP. HCM

Mong muốn sở hữu nhà ở tại Tp.HCM



41%

59%







Khơng



(Nguồn: Tính tốn tổng hợp)

Hình 2.12 Tỷ lệ người nước ngồi mong muốn sở hữu nhà ở tại TP. HCM

Theo kết quả khảo sát, có 59% người nước ngồi mong muốn sở hữu nhà ở tại

TP. HCM. Đây là những khách hàng tiềm năng cho thị trường nhà ở tại thành phố khi

luật nhà ở cho phép người nước ngoài được sở hữu căn hộ tại Việt Nam có hiệu lực.

Tuy nhiên, cũng có khá đơng người nước ngồi chưa muốn sở hữu nhà ở tại Việt Nam,

chiếm tỉ lệ 41%. Điều này là do phần lớn người nước ngoài sang Việt Nam làm việc

đều được cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp họ đang làm việc bao tiêu cả phần chỗ ở, họ

sẽ chẳng dại gì bỏ tiền túi mình ra mua nhà chung cư giới hạn diện tích và chỉ dùng để

ở mà khơng tận dụng vào mục đích nào khác được, mà thay vào đó họ sẽ gởi tiền vào

ngân hàng hay đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh khác sinh lợi. Mặt khác, những thủ

tục hành chính liên quan đến mua bán nhà thường rất phức tạp và thời hạn sử dụng nhà

ở chỉ có 50 năm cũng gây những lo ngại cho nhiều người nước ngồi, vì sau 50 năm

nếu khơng bán được nhà (vì bị ép giá để mua rẻ không đúng với giá trị thực), cũng

không muốn (hoặc không thể) cho, tặng ai số tài sản giá trị lớn này, thì liệu tài sản của

họ có bị tịch thu khơng.



33



Ngành: Quản lý thị trường BĐS



SVTH: Võ Đình Thảo Ngun



Tóm lại: qua các điều tra về thơng tin cá nhân của người nước ngồi đang sinh

sống, học tập và làm việc tại TP. HCM, ta có thể nhận biết đặc điểm và thị hiếu về loại

nhà ở của đối tượng khách hàng này hiện nay như sau (xem thêm mục II.1.3 Đặc điểm

và lựa chọn của người nước ngoài phân theo loại nhà ở): Đa số người nước ngoài tại

TP. HCM là nam đến từ các nước châu Á, đã kết hôn, làm việc trong các cơ quan,

doanh nghiệp kinh tế, mới đến Việt Nam dưới 1 năm nhưng dự định sẽ cư trú dài hạn

tại thành phố, và khoản ngân sách chi cho nhà ở chiếm dưới 25% trong tổng thu nhập

của họ. Đặc biệt có đến 59% người nước ngồi được hỏi mong muốn được sở hữu nhà

ở tại TP. HCM.

II.1.2 Sự lựa chọn của khách thuê

1. Loại hình nhà ở

27%



23%

17%



5%

28%

Căn hộ dịch vụ

Nhà phố



Căn hộ cho th

Phòng cho th



Biệt thự



(Nguồn: Tính tốn tổng hợp)

Hình 2.13 Tỷ lệ các loại nhà ở người nước ngồi lựa chọn

Loại hình nhà ở được người nước ngồi lựa chọn nhiều nhất là các căn hộ dịch

vụ (chiếm tỉ lệ 28%) và biệt thự (27%), kế đến là nhà phố (23%), căn hộ cho thuê

(17%), và chỉ có 5% số người chọn phòng cho th để ở. Nhìn chung các căn hộ dịch

vụ và biệt thự hiện nay được xây dựng với chất lượng khá tốt, thường tập trung ở

những vị trí thuận tiện giao thơng, cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh tại các khu trung tâm, các

quận nội thành hoặc trong những đô thị sang trọng như quận 1 & quận 3, quận 2 và

quận 7. Bên cạnh đó, các khu nhà ở này còn có các nhiều tiện nghi, dịch vụ đi kèm

hồn hảo nên ln thu hút nhiều khách thuê người nước ngoài. Như vậy các nhà đầu

tư nên phát triển, đồng thời cũng nâng cao các tiện ích, dịch vụ trong các cao ốc căn hộ

34



Ngành: Quản lý thị trường BĐS



SVTH: Võ Đình Thảo Nguyên



dịch vụ và biệt thự để có thể đáp ứng nhu cầu của người nước ngoài cả về mặt số

lượng lẫn chất lượng.

2. Diện tích

Diện tích



17%

28%



27%

27%



≤60 m2



61 - 100 m2



101 - 200 m2



≥ 200 m2



(Nguồn: Tính tốn tổng hợp)

Hình 2.14 Tỷ lệ sự lựa chọn diện tích nhà ở

Diện tích nhà ở được mong muốn nhiều nhất là ở mức 101 – 200m2 (chiếm tỉ lệ

28%), kế đến là diện tích nhà dưới 100m2. Chỉ có 17% trong tổng số người nước ngoài

khảo sát mong muốn nhà ở rộng hơn 200m2. Như vậy những căn hộ, nhà có diện tích

vừa phải đang có xu hướng được người nước ngồi lựa chọn nhiều hơn.

3. Số phòng ngủ

Số phòng ngủ trong nhà ở được chọn nhiều nhất là 3 phòng với tỉ lệ 31% và 2

phòng (30%), kế đến là 1 phòng ngủ chiếm tỉ lệ 21%, chỉ có một số ít người nước

ngồi mong muốn nhà ở có từ 4 phòng ngủ trở lên. Như vậy người nước ngoài tại TP.

HCM thường sống độc thân hoặc trong những gia đình nhỏ, ít người. Do đó những căn

hộ, nhà ở có diện tích vừa phải với 2 – 3 phòng ngủ sẽ rất hút hàng.



35



Ngành: Quản lý thị trường BĐS



SVTH: Võ Đình Thảo Nguyên

Số phòng ngủ

13%



4%

1%



21%



31%



30%

1 phòng



2 phòng



3 phòng



4 phòng



5 phòng



6 phòng



(Nguồn: Tính tốn tổng hợp)

Hình 2.15 Tỷ lệ sự lựa chọn số lượng phòng ngủ

4. Hướng nhà/căn hộ



Hướng nhà/căn hộ

30



%



21

14

7



6



Bắc



9



8



4



Nam



Đơng



Tây



Đơng

Bắc



Đơng

Nam



Tây N am Khơng

quan tâm



(Nguồn: Tính tốn tổng hợp)

Hình 2.16 Tỷ lệ sự lựa chọn hướng căn hộ

Ta thấy phần lớn người nước ngồi đều có quan tâm đến hướng nhà hoặc hướng căn

hộ, với 96/138 người trả lời “có” chiếm 70% trong tổng số người được hỏi. Đặc biệt,

36



Ngành: Quản lý thị trường BĐS



SVTH: Võ Đình Thảo Nguyên



người châu Á rất coi trọng hướng nhà, có đến 84% trong tổng số người châu Á chú ý đến

yếu tố hướng khi chọn nhà ở. Hướng nhà ở được xem xét cả dưới góc độ khoa học lẫn

phong thuỷ, những tồ nhà được thiết kế hợp lý sẽ có những căn hộ thơng thoáng và điều

này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và lợi ích của người cư ngụ. Các hướng nhà

được người nước ngồi ưa thích nhiều nhất là hướng nam (21%) và hướng Đông (14%).

Nếu xét về mặt khoa học và phong thuỷ, hướng đông và hướng nam là hai hướng đón

nhận nắng trời và gió mát, do đó sẽ mang lại luồn sinh khí cho mọi thành viên sống trong

không gian ấy. Như vậy hướng nhà ở cũng là một tiêu chí quan trọng giúp cho các tư vấn

viên hay các nhà tiếp thị có thêm một lý do để thuyết phục khách hàng của mình.

5. Số tầng

Số tầng trong cao ốc chung cư

Tầng thứ nhất



4%



Tầng thứ 2



9 %



Tầng thứ 3



9 %

11 %



Tầng thứ 4



7%



Tầng thứ 5

Tầng thứ 6



2 %



Tầng thứ 7



5 %



Tầng thứ 8



5 %



Tầng thứ 9



4%

15 %



Tầng thứ 10



29 %



Tầng cao nhất



(Nguồn: Tính tốn tổng hợp)

Hình 2.17 Tỷ lệ sự lựa chọn số tầng trong cao ốc căn hộ

Phần lớn người nước ngoài sống trong các cao ốc căn hộ đều mong muốn ở các

tầng cao nhất, đặc biệt là các căn hộ penthouse. Penthouse được thiết kế sang trọng với

sân thượng và ban công đủ rộng để chủ nhà trang trí thành vườn cảnh nhỏ. Ở vị trí trên

cùng của cao ốc và khơng bị vật gì che chắn, ngơi nhà Penthouse ln tràn ngập nắng

và gió nên ln là yếu tố thu hút sự quan tâm của khá nhiều người nước ngoài.

Đối với loại nhà ở riêng lẻ, có đến 57 % người nước ngồi ưa thích th loại nhà

có 2 tầng cao, chiếm tỉ lệ 57%, kế đến là nhà 3 tầng với tỉ lệ 21%, và nhà ở chỉ có 1

tầng trệt chỉ chiếm 13%

37



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nội dung nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×