Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Phân tích hiệu quả kinh doanh cần xác định các đặc trưng về mặt lượng của các giai đoạn, các quá trình kinh doanh nhằm xác định xu hướng và nhịp độ phát triển, xác định những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động của các quá trình kinh doanh với cá...

- Phân tích hiệu quả kinh doanh cần xác định các đặc trưng về mặt lượng của các giai đoạn, các quá trình kinh doanh nhằm xác định xu hướng và nhịp độ phát triển, xác định những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động của các quá trình kinh doanh với cá...

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Sỹ Hùng



của doanh nghiệp. Nhất là các cán bộ quản lý. Họ là những lao động gián tiếp tạo ra

sản phẩm nhưng lại rất quan trọng bởi họ là những người điều hành và định hướng cho

doanh nghiệp, quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Trên thực tế, mỗi một doanh

nghiệp có một cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý khác nhau, trình độ chun mơn của

cơng nhân cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Công

nhân có tay nghề cao sẽ làm ra sản phẩm đạt chất lượng cao, tiết kiệm thưòi gian và

nguyên vật liệu, làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy,

trong nhân tố con người trình độ chuyên mơn có ý nghĩa quyết định tới hiệu quả sản

xuất kinh doanh. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có kế hoạch tỉ mỉ từ khâu tuyển



H

uế



dụng tới việc đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trìng độ chun mơn cho người lao động,

nhất là đội ngũ các cán bộ quản lý.



– Trình độ kỹ thuật cơng nghệ: Kỹ thuật và công nghệ là nhân tố ảnh hưởng trực







tiếp tới mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào áp



nh



dụng kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, doanh nghiệp đó sẽ có lợi thế cạnh tranh. Ngày

nay vai trò của kỹ thuật và cơng nghệ được các doanh nghiệp đánh giá cao. Để nâng



Ki



cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải không ngừng đầu



c



tư vào lĩnh vực này, nhất là đầu tư cho nghiên cứu và phát triển.



họ



– Quản trị doanh nghiệp: Nhân tố này đóng vai trò quan trọng đối với hoạt

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Quản trị doanh nghiệp chú trọng đến



ại



việc xác định cho doanh nghiệp một hướng đi đúng đắn trong một môi trường kinh



Đ



doanh ngày càng biến động. Chất lượng của chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên

và quan trọng nhất quyết định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp. Đội

ngũ các nhà quản trị mà đặc biệt là các nhà quản trị cao cấp lãnh đạo doanh nghiệp

bằng phẩm chất và tài năng của mình có vai trò quan trọng bậc nhất, ảnh hưởng có tính

chất quyết định đến sự thành đạt của một doanh nghiệp. Kết quả và hiệu quả hoạt

động của quản trị doanh nghiệp đều phụ thuộc rất lớn vào trình độ chun mơn của đội

ngũ các nhà quản trị cũng như cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp, việc xác

định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận, cá nhân và thiết lập các mối

quan hệ giữa các bộ phận trong cơ cấu tổ chức đó.



SVTH: Trương Thị Ngọc Anh – Lớp: K47C - KHĐT



10



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Sỹ Hùng



– Hệ thống trao đổi và xử lý thơng tin: Thơng tin được coi là một hàng hố, là

đối tượng kinh doanh và nền kinh tế thị trường hiện nay được coi là nền kinh tế thơng

tin hố. Để đạt được thành công khi kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh quốc tế

ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp cần nhiều thơng tin chính xác về cung cầu thị

trường hàng hố, về cơng nghệ kỹ thuật, về người mua, về các đối thủ cạnh tranh…

Ngoài ra, doanh nghiệp còn rất cần đến các thơng tin về kinh nghiệm thành công hay

thất bại của các doanh nghiệp khác ở trong nước và quốc tế, cần biết các thông tin về

các thay đổi trong các chính sách kinh tế của Nhà nước và các nước khác có liên quan.

Trong kinh doanh biết mình, biết người và nhất là hiểu rõ được các đối thủ cạnh



H

uế



tranh thì mới có đối sách giành thắng lợi trong cạnh tranh, có chính sách phát triển mối

quan hệ hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau.



Kinh nghiệm thành công của nhiều doanh nghiệp nắm được các thông tin cần







thiết và biết sử lý sử dụng các thông tin đó kịp thời là một điều kiện quan trọng để ra



nh



các quyết định kinh doanh có hiệu quả cao. Những thơng tin chính xác được cung cấp

kịp thời sẽ là cơ sở vững chắc để doanh nghiệp xác định phương hướng kinh doanh,



Ki



xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn



c



1.2.1.2. Chi phí sản xuất, giá thành và giá bán sản phẩm



họ



Chi phí sản xuất là số tiền doanh nghiệp phải chi để mua các yếu tố đầu vào cần

thiết cho q trình sản xuất nhằm mục đích thu lợi nhuận. Chi phí sản xuất lại gồm các



ại



chi phí sau: tổng chi phí, chi phí trung bình, chi phí biên, chi phí cố định (định phí),



Đ



chi phí khả biến (biến phí), chi phí dài hạn, chi phí chìm,v.v…

Chi phí trong kinh doanh bao gồm toàn bộ phần tài sản tiêu dùng hết cho q

trình sản xuất kinh doanh . Ngồi ra, khoản chi phí phải trả (chi phí trả trước) khơng

phải là chỉ tiêu nhưng được tính vào chỉ tiêu . Xét về thực chất thì chi phí sản xuất

kinh doanh là sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định.

Chi phí trong kinh doanh là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất kinh

doanh. Vì vậy, để quản lý có hiệu quả và kịp thời đối với hoạt động sản xuất kinh

doanh của mình, các nhà quản trị doanh nghiệp ln cần biết số chi phí chi ra từng loại

hoạt động, từng loại sản phẩm, dịch vụ là bao nhiêu, số chi phí đã chi đó cấu thành



SVTH: Trương Thị Ngọc Anh – Lớp: K47C - KHĐT



11



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Sỹ Hùng



trong số sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành là bao nhiêu. Giá thành sản phẩm, dịch vụ sẽ

giúp nhà quản trị doanh nghiệp trả lời được câu hỏi này.

Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí về lao động

sống cần thiết và lao động vật hóa được tính trên một khối lượng kết quả sản phẩm,

dịch vụ hoàn thành nhất định.

Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định, vừa mang

tính khách quan, vừa mang tính chủ quan. Trong hệ thống các chỉ tiêu quản lý của

doanh nghiệp, giá thành san phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả sử

dụng các loại tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh, cũng như tính đúng đắn của



H

uế



những giải pháp quản lý mà doanh nghiệp đã thực hiện nhằm hạ thấp chi phí, nâng cao

lợi nhuận.



Giá cả là một vấn đề khá nhạy cảm giữa người bán và người mua, và cách làm







giá cả là một nghệ thuật. Trong thời đại ngày nay, sự khác biệt giữa chất lượng các sản



nh



phẩm ngày càng bị thu hẹp, các công ty tận dụng khả năng để tạo ra sự khác biệt ở các

mức độ và phạm vi cung cấp dịch vụ. Khách hàng có thể vui lòng trả mức giá cao hơn



Ki



nếu những yêu cầu của họ về chất lượng dịch vụ hình ảnh và sự thuận tiện được đáp



c



ứng, chúng ta không được quên rằng sự cạnh tranh khốc liệt giữa những nhà sản xuất

quá trình mua sắm.



họ



và kinh doanh với nhau. Và giá cả là nhân tố quan trọng và là nhân tố quyết định đến



ại



1.2.2. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp



Đ



Các yếu tố kinh tế vĩ mô: bao gồm các yếu tố như tốc độ tăng trưởng và sự ổn

định của nền kinh tế, sức mua, sự ổn định của giá cả, tiền tệ, lạm phát, tỷ giá hối

đoái… tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp. Những biến động của các yếu tố kinh tế có thể tạo ra cơ hội vf cả những

thách thức của doanh nghiệp. Để đảm bảo thành công của hoạt động trước biến động

về kinh tế, các doanh nghiệp phải theo dõi, phân tích, dự báo biến động của từng yếu

tố để đưa ra các giải pháp, các chính sách tương ứng trong từng thời điểm cụ thể nhằm

taann dụng, khai thác những cơ hội, né tránh, giảm thiểu nguy cơ và đe dọa. Khi phân

tích, dự báo sự biến dộng của các yếu tố kinh tế, để đưa ra kết luận đứng, các doanh



SVTH: Trương Thị Ngọc Anh – Lớp: K47C - KHĐT



12



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Sỹ Hùng



nghiệp cần dựa vào 1 số căn cứ quan trọng: các số liệu tổng hợp của kỳ trước, các diễn

biến thực tế của kỳ nghiên cứu, các dự báo của các nhà kinh tế lớn…

Các yếu tố thuộc mơi trường chính trị – pháp luật chi phối mạnh mẽ đến hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp. Sự ổn định chính trị được xác định là một trong

những tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Sự thay đổi

của mơi trường chính trị có thể ảnh hưởng có lợi cho một nhóm doanh nghiệp này

nhưng lại kìm hãm sự phát triển nhóm doanh nghiệp khác hoặc ngược lại. Hệ thống

pháp luật hoàn thiện, không thiên vị là một trong những tiền đề ngoài kinh tế của kinh

doanh. Mức độ hoàn thiện, sự thay đổi và thực thi pháp luật trong nền kinh tế có ảnh



H

uế



hưởng lớn đến việc hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh của doanh

nghiệp. Môi trường này nó tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh

nghiệp. Bởi vì mơi trường pháp luật ảnh hưởng đến mặt hàng sản xuất, ngành nghề,







phương thức kinh doanh… của doanh nghiệp. Khơng những thế nó còn tác động đến chi



nh



phí của doanh nghiệp cũng như là chi phí lưu thơng, chi phí vận chuyển,

mức độ về thuế… đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu còn bị ảnh



Ki



hưởng bởi chính sách thương mại quốc tế, hạn ngạch do nhà nước giao cho, luật bảo hộ



c



cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh. Tóm lại mơi trường chính trị –



họ



luật pháp có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

bằng cách tác động đến hoạt động của doanh nghiệp thông qua hệ thống công cụ luật



ại



pháp, cộng cụ vĩ mơ…



Đ



* Các yếu tố văn hóa – xã hội

Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố xã hội

đặc trưng, những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dùng tại các khu vực đó.

Những giá trị văn hóa là những giá trị làm lên một xã hội, có thể vun đắp cho xã

hội đó tồn tại và phát triển. Chính vì thế các yếu tố văn hóa thơng thường được bảo vệ

hết sức quy mơ và chặt chẽ, đặc biệt là các văn hóa tinh thần. Tuy vậy chúng ta cũng

không thể phủ nhận những giao thoa văn hóa của các nền văn hóa khác vào các quốc

gia. Sự giao thoa này sẽ thay đổi tâm lý tiêu dùng, lối sống, và tạo ra triển vọng phát

triển với các ngành. Bên cạnh văn hóa, các đặc điểm về xã hội cũng khiến các doanh

nghiệp quan tâm khi nghiên cứu thị trường, những yếu tố xã hội sẽ chia cộng đồng



SVTH: Trương Thị Ngọc Anh – Lớp: K47C - KHĐT



13



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Sỹ Hùng



thành các nhóm khách hàng, mỗi nhóm có những đặc điểm, tâm lý, thu nhập… khác

nhau:

+ Tuổi thọ trung bình, tình trạng sức khỏe, chế độ dinh dưỡng, ăn uống;

+ Thu nhập trung bình, phân phối thu nhập;

+ Lối sống, học thức,các quan điểm về thẩm mỹ, tâm lý sống;

+ Điều kiện sống;

Đây là một nhân tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Nó

quyết định mức độ chất lượng, số lượng, chủng loại, gam hàng… Doanh nghiệp cần

phải nắm bắt và nghiên cứu làm sao phù hợp với sức mua, thói quen tiêu dùng, mức



H

uế



thu nhập bình quân của tầng lớp dân cư. Những yếu tố này tác động một cách gián tiếp

lên quá trình sản xuất cũng như công tác marketing và cuối cùng là hiệu quả kinh

doanh của doanh nghiệp.







* Yếu tố công nghệ



nh



Đối với doanh nghiệp các yếu tố công nghệ như bản quyền cơng nghệ, đổi mới

cơng nghệ, khuynh hướng tự động hố, điện tử hố, máy tính hố…đã làm cho chu kỳ



Ki



sống của sản phẩm bị rút ngắn, sản phẩm mới ra đời có tính năng tác dụng tốt hơn



c



nhưng chi phí sản xuất lại thấp hơn. Bởi vậy các doanh nghiệp phải quan tâm theo sát



họ



những thông tin về kỷ thuật công nghệ, ngày nay công nghệ mới từ những phát minh,

ở phòng thí nghiệm đều đưa ra sản phẩm đại trà, đưa sản phẩm ra thị trường tốn rất ít



ại



thời gian, là cơ hội cho những doanh nghiệp ở thời kỳ khởi sự kinh doanh, họ có thể



Đ



nắm bắt ngay kỷ thuật mới nhất để gặt hái những thành công lớn, khơng thể thua kém

những doanh nghiệp đã có một bề dày đáng kể. Các yếu tố kỹ thuật công nghệ cần

phân tích:

– Mức độ phát triển và nhịp độ đổi mới công nghệ, tốc độ phát triển sản phẩm mới,

chuyển giao công nghệ kỷ thuật mới trong ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động.

– Các yếu tố môi trường vĩ mơ có tác động lẫn nhau và có vai trò quan trọng đối

với doanh nghiệp.

* Yếu tố hội nhập

Khơng ai phủ nhận tồn cầu hóa đang là xu thế, và xu thế này không tạo cơ hội

cho các doanh nghiệp, các quốc gia trong việc phát triển sản xuất, kinh doanh.



SVTH: Trương Thị Ngọc Anh – Lớp: K47C - KHĐT



14



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Sỹ Hùng



– Tồn cầu hóa tạo ra các sức ép cạnh tranh, các đối thủ đến từ mọi khu vực. Quá

trình hội nhập sẽ khiến các doanh nghiệp phải điều chỉnh phù hợp với các lợi thế so

sánh, phân công lao động của khu vực và của thế giới

– Điều quan trọng là khi hội nhập, các rào cản về thương mại sẽ dần dần được gỡ

bỏ, các doanh nghiệp có cơ hội bn bán với các đối tác ở cách xa khu vực địa lý,

khách hàng của các doanh nghiệp lúc này không chỉ là thị trường nội địa nơi doanh

nghiệp đang kinh doanh mà còn các khách hàng đến từ khắp nơi, từ đó góp phần nâng

cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Môi trường ngành



H

uế



Các yếu tố môi trường cạnh tranh liên quan trực tiếp tới ngành nghề và thị trường

kinh doanh của doanh nghiệp (hay còn gọi là mơi trường ngành) tác động trực tiếp đến

hoạt động và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Sức ép của các yếu tố này lên







doanh nghiệp càng mạnh thì khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp cùng ngành cũng



nh



bị hạn chế. Hay có cạnh tranh thành cơng thì mới đạt tới mục tiêu lợi nhuận tối đa. Khi

nghĩ tới cạnh tranh ta hầu hết chỉ nghĩ tới cạnh tranh với đối thủ còn thì đối thủ bao



Ki



gồm những ai hoặc ngồi đối thủ ra thì còn ai phải cạnh tranh nữa thì ta cũng mù mờ



c



lắm.



họ



Michael Porter đã tổng hợp các lực lượng cạnh tranh thành mơ hình 5 áp lực mà

từ đó doanh nghiệp phải nhận biết cũng như đo đếm được các áp lực cạnh tranh mà



Đ



ại



mình phải vượt qua.



SVTH: Trương Thị Ngọc Anh – Lớp: K47C - KHĐT



15



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Sỹ Hùng



Các đối thủ tiềm ẩn

Đe dọa những người

Sức



nhập ngành



mạnh

thương

lượng



Những đối thủ cạnh

tranh trong ngành



Sức mạnh Những người

mua

trả giá

của người



của nhà

cung



mua

Mối đe dọa từ sản



cấp



phẩm thay thế







Sản phẩm thay

thế



H

uế



Những

người bán



Nguồn: Michael E.Porter 1996



nh



Hình 1.3: Mơ hình 5 lực lượng cạnh tranh



Theo Porter, các điều kiện cạnh tranh trong một ngành phụ thuộc vào nhiều yếu



Ki



tố khác nhau. Trong số các yếu tố này, ngoài các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau



c



trong nội bộ ngành, còn các nhân tố khác như khách hàng, hệ thống cung cấp, các sản



họ



phẩm thay thế hay các đối thủ cạnh tranh tiềm năng. Các nhà quản trị chiến lược mong

muốn phát triển lợi thế nhằm vượt trên các đối thủ cạnh tranh, nâng cao hiệu quả kinh



ại



doanh của mình có thể sử dụng cơng cụ này để phân tích các đặc tính và phạm vi của



Đ



ngành, ở đó hoạt động kinh doanh của mình đang được diễn ra hoặc sẽ nhắm tới.

 Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp đang có trong ngành

Đây có lẽ là áp lực cạnh tranh quan trọng nhất. Nó tuân theo các quy luật sau:

Nếu như trong một ngành mà quy mô chênh lệch nhau nhiều thì thường có sự ổn

định hơn. Doanh nghiệp nhỏ biết khơng thể cạnh tranh với doanh nghiệp lớn vì vậy họ

chịu “an phận” ở một góc thị trường nơi mà khách hàng có những đặc điểm riêng, nơi

doanh nghiệp lớn khơng thèm dòm ngó tới.

Nếu thị trường bao gồm tồn các doanh nghiệp có quy mơ tương đồng thì khách

hàng là đồng nhất vì vậy khách hàng có thể chạy từ doanh nghiệp này tới doanh

nghiệp khác dẫn tới sự dành giật khách hàng giữa các doanh nghiệp.



SVTH: Trương Thị Ngọc Anh – Lớp: K47C - KHĐT



16



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Sỹ Hùng



– Tốc độ tăng trưởng của ngành cao thì áp lực cạnh tranh thấp:

Tốc độ tăng trưởng ngành cao có nghĩa là cái bánh to ra với tốc độ cao. Lúc này

doanh nghiệp chỉ cần chiếm lấy khách hàng mới toanh đã đủ no rồi, họ không cần thiết

phải tranh giành khách hàng của nhau nữa.

– Chi phí cố định và chi phí lưu kho trong ngành cao sẽ tạo áp lực cạnh tranh

cao. khi chi phí cố định cao doanh nghiệp sẽ phải sử dụng tối đa cơng suất của máy

móc -> tạo ra nhiều sản phẩm trong khi chi phí lưu kho lại cao nên họ sẵn sàng giảm

giá để bán được sản phẩm.

– Sản phẩm trong ngành khơng có khác biệt hóa thì áp lực cao vì sẽ cạnh tranh



H

uế



bằng giá: Ví dụ giữa Coca và pepsi, khó ai phân biệt được sự khác biệt giữa hai loại đồ

uống này. Khi vào quán, nếu gọi Coca khơng có thì ta gọi pepsi cũng chẳng sao.

– Chi phí chuyển đổi nhà cung cấp của khách hàng thấp thì áp lực cạnh tranh cao.







Ví dụ nếu khách hàng của ta chẳng mất mát gì khi mua sản phẩm của cơng ty khác



nh



thay vì của ta thì áp lực cạnh tranh tất nhiên là cao. Nhưng nếu như việc chuyển đổi

kèm theo nhiều chi phí rủi ro thì khách hàng sẽ phải rất cân nhắc.



Ki



– Ngành có năng lực sản xuất dư thừa thì áp lực cao. Ví dụ nếu như doanh



c



nghiệp đang sx 100% cơng suất thì áp lực phải tìm khách hàng mới của họ sẽ khơng



họ



cao vì vậy lực cạnh tranh nên các doanh nghiệp khác sẽ khơng cao.

– Khi tính đa dạng chiến lược kinh doanh trong ngành khơng cao thì áp lực



ại



cao: Nếu như một ngành chỉ có thể cạnh tranh bằng giá thì đương nhiên là tất cả các



Đ



doanh nghiệp muốn tồn tại phải theo hướng chiến lược này.

– Rào cản rút lui khỏi ngành cao thì áp lực cao. Vì nếu như rào cản rút khỏi

ngành dễ thì đối thủ của ta sẽ chuyển sang ngành khác nhanh hơn thay vì trối chết

bằng mọi giá để khơng bị loại bỏ.

Vì miếng bánh thì hữu hạn, khách hàng đã mua hàng từ đối thủ của bạn thì sẽ

khơng mua hàng của bạn.

 Áp lực từ phía khách hàng

– Khách hàng ít thì người bán phụ thuộc vào người mua. Khi người mua ít thì họ

rất dễ cấu kết với nhau để càng tạo áp lực lên người bán. Nếu thị trường có trăm người



SVTH: Trương Thị Ngọc Anh – Lớp: K47C - KHĐT



17



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Sỹ Hùng



bán mà chỉ có 1 người mua thì đương nhiên người mua có rất nhiều lựa chọn họ cố thể

lấy giá anh A làm cơ sở để ép giá anh B.

– Khi số lượng người mua lớn thì họ có thể tập trung lại để tạo ra sức mạnh đàm

phán gây áp lực lên người bán. Thông thường những người mua nếu khơng mâu thuẫn

về mặt lợi ích họ sẽ tập hợp lại trong các hiệp hội để có thể có một đơn hàng lớn đàm

phán với nhà cung cấp. Siêu thị bản chất cũng là việc tập hợp nhiều người mua lại với

nhau để có số lượng lớn đàm phán với các nhà cung cấp cho siêu thị.

Khách hàng luôn muốn tối đa hóa lợi ích với chi phí thấp nhất. Anh ta luôn muốn

luôn ý thức được lợi thế đàm phán của mình.

 Sự đe dọa của các sản phẩm thay thế



H

uế



sản phẩm/ dịch vụ ngày càng chất lượng hơn nhưng giá lại càng phải giảm đi. Anh ta



– Ngành nào có lợi nhuận cao thì mức độ hấp dẫn của ngành càng cao. Áp lực từ







sản phẩm thay thế cao.



nh



– Ngành nào có nhiều sản phẩm thay thế, đặc biệt sản phẩm thay thế lại rẻ thì áp

lực từ sản phẩm thay thế cao.



Ki



Vì mục đích của việc mua hàng của khách hàng là để giải quyết một vấn đề nào



c



đó của khách hàng. Một vấn đề có thể có nhiều cách giải quyết khác nhau tương ứng



họ



với nhiều sản phẩm/dịch vụ khác nhau.

Khi bạn khát bạn có thể uống coca, pepsi, nước lọc, trà đá, nước cam, bia,… vì



ại



vậy sản phẩm thay thế của Coca-Cola khơng những là Pepsi mà còn là các đồ uống



Đ



khác nữa. Khi thị phần các đồ uống khác tăng lên thì đương nhiên thị phần của Coca

sẽ giảm đi vì một phần khách hàng đáng nhẽ mua coca thì họ lại dùng một sản phẩm

khác thay thế.

 Áp lực của các nhà cung cấp

– Khi số nhà cung cấp ít, sản phẩm thay thế lại khơng có nhiều thì áp lực từ nhà

cung cấp cao. Hầu hết các hàng hóa trên thị trường đều cấu thành từ nhiều thành phần

từ nhiều nhà cung cấp khác nhau. Đơn cử như một gói mỳ tơm, ít nhất thì cũng phải có

nhà cung cấp bao bì, khoai tây, gia vị,…Cái điện thoại iphone cũng có nhà cung cấp vi

mạch, chip xử lý, màn hình, vỏ,…Nếu như một thành phần nào đó chỉ có một nhà



SVTH: Trương Thị Ngọc Anh – Lớp: K47C - KHĐT



18



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Sỹ Hùng



cung cấp duy nhất có thể cung cấp thì áp lực của nhà cung cấp đó sẽ cao. (áp lực tăng

giá, giảm chất lượng, nới rộng tiến độ cung cấp, thanh toán trước,..)

– Khi sản phẩm của nhà cung cấp có đặc tính khác biệt được khách hàng đánh

giá cao thì doanh nghiệp khó chuyển đổi sản phẩm vì vậy áp lực cao. Ví dụ như bạn

có một cửa hàng cafe, mỗi quán cafe thường có một thức uống đặc biệt nào đó để lơi

cuốn khách hàng. Thức uống đó có nguyên liệu được cung cấp bởi chỉ một nhà cung

cấp sẽ khác với 10 nhà cung cấp.

– Khi số lượng mua của doanh nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ thì áp lực cao. Khi

lượng mua thấp thì thế đàm phán của doanh nghiệp rất thấp, nhà cung cấp sẵn sàng hy



H

uế



sinh bạn. Ví dụ như tivi samsung có thể phân phối ra thị trường thơng qua Pico,

Topcare, Trần Anh,….Mỗi một siêu thị này không phải được nhận một cơ chế như

nhau từ Samsung. Nếu siêu thị có lượng bán ra thấp thì khó đàm phán hơn so với một







siêu thị có lượng bán ra cao.



nh



– Doanh nghiệp chịu chi phí cao thì áp lực từ nhà cung cấp cao vì việc chuyển

đổi sản phẩm có thể làm tăng chi phí.



Ki



– Khi nhà cung cấp có tham vọng hội nhập về phía trước thì áp lực cao. Ví dụ



c



nếu bạn là cơng ty độc quyền phân phối một sản phẩm X nào đó, nếu thấy ngon ăn



họ



nhà sản xuất có thể mở văn phòng đại diện và dần thay bạn phân phối sản phẩm X.

 Nguy cơ thâm nhập của các đối thủ tiềm năng



ại



– Khi quy mơ sản xuất trong ngành lớn thì nguy cơ thâm nhập của đối thủ thấp



Đ



và ngược lại. Ví dụ để có thể đạt được lợi nhuận doanh nghiệp đòi hỏi phải sản xuất ở

số lượng 1 triệu sản phẩm. Doanh nghiệp mới gia nhập phải sản xuất tối thiểu ở sản

lượng này mới có thể có lãi.

– Sản phẩm trong ngành có mức độ khác biệt hóa cao thì nguy cơ thâm nhập

thấp. Nguyên nhân thông thường là khách hàng có mức độ trung thành cao với các sự

khác biệt. Doanh nghiệp rất khó khăn để tìm ra phân khúc của riêng mình khi mà

khách hàng đang rất trung thành với các phân khúc của họ.

– Đòi hỏi vốn cao khi gia nhập thì nguy cơ thâm nhập thấp và ngược lại. Ví dụ

nếu bạn định xây dựng chung cư để bán thì quả khơng dễ vì vốn cần có quá nhiều.



SVTH: Trương Thị Ngọc Anh – Lớp: K47C - KHĐT



19



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Sỹ Hùng



– Chi phí chuyển đổi nhà cung cấp của khách hàng cao thì áp lực thấp. Để cướp

khách hàng trong ngành, doanh nghiệp muốn thâm nhập sẽ phải vượt qua được chi phí

thay đổi nhà cung cấp.

– Khả năng tiếp cận kênh phân phối khó khăn thì áp lực thấp. Dù gì doanh

nghiệp cũng sẽ phải bán hàng qua kênh phân phối nếu khơng muốn tự mình làm ln

chức năng của kênh phân phối.

– Bất lợi về chi phí khơng có liên quan tới quy mơ thì áp lực thấp.

1.3. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh

1.3.1. Các chỉ tiêu tổng lợi nhuận



H

uế



Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế có tính tổng hợp phản ánh kết quả cuối cùng cua

hoạt động sản xuất kinh doanh



Tổng lợi nhuận doanh nghiệp bao gồm lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất







kinh doanh, lợi nhuận thu được từ hoạt động tài chính và lợi nhuận thu được từ hoạt



nh



đọng khác.



Chỉ tiêu tổng lợi nhuận và lợi nhuận thuần chỉ là phản ánh tổng hợp kết quả sản



Ki



xuất kinh doanh của doanh nghiệp, lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của các doanh



c



nghiệp, là nguồn tài chính quan trọng để doanh nghiệp thực hiện tái sản xuất mở rộng



họ



để nâng cao đời sống, để đóng góp cho ngân sách Nhà nước,… chia cổ tức và để trích

lập quỹ doanh nghiệp.



ại



Chỉ tiêu này được đánh giá bằng cách so sánh thực hiện của kỳ này với kỳ trước,



Đ



với định mức, kế hoạch để biết được mức lợi nhuận tăng giảm so với kỳ trước. Định

mức, kế hoạch, so sánh giữa hai doanh nghiệp khác nhau có cùng quy mơ để đánh giá

hiệu quả kinh doanh.

Tuy nhiên chỉ tiêu này chỉ là thể hiện được con số tuyệt đối mà chưa thể đánh giá

được mặt chất lượng của hoạt động kinh doanh, chẳng hạn đối với doanh nghiệp có

quy mơ lớn sẽ thu được tổng số lợi nhuận lớn hơn doanh nghiệp có quy mơ nhỏ hơn,

nhưng khơng thể khẳng định các doanh nghiệp có quy mơ lớn kinh doanh có hiệu quả

hơn các doanh nghiệp các quy mơ nhỏ. Để khắc phục nhược điểm này ta sử dụng các

chỉ tiêu hiệu quả tương đối.



SVTH: Trương Thị Ngọc Anh – Lớp: K47C - KHĐT



20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Phân tích hiệu quả kinh doanh cần xác định các đặc trưng về mặt lượng của các giai đoạn, các quá trình kinh doanh nhằm xác định xu hướng và nhịp độ phát triển, xác định những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động của các quá trình kinh doanh với cá...

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×