Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tầm nhìn và Chiến lược

Tầm nhìn và Chiến lược

Tải bản đầy đủ - 0trang

Về bản chất, thẻ điểm là một thiết bị diễn giải tầm nhìn thành hiện thực

thơng qua việc thể hiện tầm nhìn bằng lời. Chính vì vậy cần phải xây dựng tầm nhìn

thực sự là mẫu mực của sứ mệnh và các giá trị cốt lõi của tổ chức, bởi vì nó là tấm

vé hạng nhất để cơng ty di chuyển trên phương tiện mang tên Thẻ điểm và đi tới

tương lai trong tưởng tượng của tổ chức..



1.3.2 Xem xét chiến lược và việc hoàn thiện chiến lược hoạt động

Một chiến lược dù tốt đến đâu cũng chỉ tồn tại trên giấy nếu không được đưa

vào thực tiễn, đưa vào nhận thức và hành động của mỗi cán bộ, công nhân viên. Bên

cạnh việc nâng cao năng lực lãnh đạo, xây dựng chiến lược, rõ ràng các doanh

nghiệp cũng cần phải chú ý đến chuyển chiến lược thành khẩu hiệu hành động, đảm

bảo để hoạt động của doanh nghiệp theo đúng định hướng chiến lược. Đặc biệt, cần

đưa ra yêu cầu để mỗi cán bộ công nhân viên nhận thức rõ và xây dựng chiến lược

riêng của mình trên cơ sở chiến lược chung.

Hình 1.4 xác định rõ thẻ điểm tạo ra một khung làm việc để tổ chức di

chuyển từ việc quyết định thực hiện chiến lược đến việc thực hiện nó. Thẻ điểm mơ

tả chiến lược, chia nó thành những phần thông qua các mục tiêu và thước đo được

lựa chọn trong từng phương diện. BSC được tạo ra một cách lí tưởng thơng qua sự

chia sẻ những hiểu biết và diễn giải chiến lược của tổ chức thành các mục tiêu,

thước đo, chỉ tiêu và sáng kiến trong từng phương diện của thẻ điểm.

Một thuộc tính chính của việc hình thành chiến lược là việc thi hành một tập

hợp các hoạt động khác biệt với các đối thủ của Công ty. Bằng cách này, công ty sẽ có

cơ hội tạo ra những xác nhận vị trí độc nhất cho các khách hàng của mình, từ đó định

vị công ty với các đối thủ cạnh tranh. Những hoạt động này phải được phản ánh trong

BSC – “người bạn đồng hành” với chiến lược. Sử dụng thẻ điểm như là khung làm

việc để diễn giải chiến lược, các tổ chức này sẽ tạo ra một ngôn ngữ mới của phép đo

lường để hướng tất cả các hoạt động của nhân viên vào việc đạt được mục tiêu đã xác

định. Như Kaplan và Norton đã nói “Sự trình bày rõ ràng chính xác về chiến lược là

một nghệ thuật. Tuy nhiên, việc mô tả chiến lược không phải là nghệ thuật. Nếu có thể

mơ tả chiến lược theo một cách có kỉ luật hơn thì chúng ta sẽ tăng khả năng áp dụng

thành cơng chiến lược đó. Với một BSC diễn giải được chiến lược, giờ đây chúng ta đã

có một nền tảng đáng tin cậy” ([05], Dương Thị Thu Hiền, 2009).

18



1.3.3 Hồn thiện bản đồ chiến lược cho cơng ty

Chúng ta có thể định nghĩa bản đồ chiến lược như việc trình bày bằng sơ đồ

trong một trang giấy về điều công ty phải làm tốt trong từng phương diện để thực

thi thành cơng chiến lược của mình. Ví dụ, trong phương diện tài chính, cơng ty có

thể có những mục tiêu như “Tăng lợi nhuận trên các khoản đầu tư”. Ở phương diện

đào tạo và phát triển nhân viên có thể có mục tiêu như “Thu hẹp các khoảng cách về

kĩ năng”....Chính vì vậy bản đồ chiến lược được ví như một lăng kính mạnh mẽ,

biến thế giới trì trệ của các kế hoạch chiến lược thành tiêu điểm sáng chói bằng cách

chuyển đổi những lời giải thích dài dòng nhưng thường mờ mịt và rắc rối thành

những mục tiêu trong như pha lê.

Tài chính

Báo cáo thường niên

Báo cáo thành tích

Báo cáo của các nhà phân

tích

Báo chí thương mại



Khách hàng

Phòng Marketing

Báo chí thương mại

Các nghiên cứu tư vấn

Kế hoạch dự án

Kế hoạch chiến lược

Báo cáo thành tích

Sứ mệnh, các giá trị,

tầm nhìn và chiến lược

Tuyên bố sứ mệnh

Các giá trị

Viễn cảnh

Kế hoạch chiến lược

Lịch sử tổ chức

Các nghiên cứu tư vấn

Kế hoạch dự án



Quy trình nội bộ

Báo cáo nghiệp vụ

Báo cáo sản xuất

Dự liệu về đối thủ cạnh

tranh

Báo chí thương mại

Các nghiên cứu tư vấn

Kế hoạch dự án



Đào tạo và phát triển

Dữ liệu về nguồn nhân sự

Báo chí thương mại

Các giá trị cốt lõi

Các nghiên cứu tư vấn



Hình 1.5: Dữ liệu nền tảng cần xem xét khi xây dựng bản đồ chiến lược



(Nguồn: Strategy Maps - Phan Thị Công Minh (2011))

19



Điều đầu tiên phải làm khi xây dựng bản đồ chiến lược cần phải xem xét và

rà soát lại các thông tin nền tảng dựa trên các tài liệu thô về bản đồ chiến lược. Các

thông tin nền tảng này được thể hiện cụ thể trong hình 1.5. Những nhóm thơng tin

này sẽ giúp cơng ty xác định được các mục tiêu và thước đo trong các phương diện

của bản đồ chiến lược, cụ thể:

Mục tiêu về phương diện tài chính: thường tập trung vào giá trị cổ đông, tăng

trưởng doanh thu và năng suất.

Mục tiêu về phương diện khách hàng: chủ yếu nằm trong ba câu hỏi: ai là

khách hàng mục tiêu của chúng ta? Họ mong chờ hay đòi hỏi gì ở chúng ta? Tun

bố giá trị của chúng ta trong việc phục vụ khách hàng là gì? Hầu hết các tổ chức sẽ

tập trung chính vào một trong ba tuyên bố giá trị - thân thiết với khách hàng, dẫn

đầu về sản phẩm và cung ứng xuất sắc.

Mục tiêu về phương diện quy trình nội bộ: tập trung ở quy trình quản lý

nghiệp vụ, quản lý khách hàng.

Mục tiêu về phương diện đào tạo và phát triển: ba phạm vi riêng biệt của

nguồn vốn – nhân lực – thông tin và tổ chức sẽ được dựa vào để giúp xác định

các mục tiêu phù hợp cho phương diện đào tạo và phát triển. Vì nhân viên hoạt

động như những yếu tố hỗ trợ cho các phương diện quy trình nội bộ, khách hàng

và tài chính.

Sau khi thu thập đủ các thông tin nền tảng, chúng ta có thể tiến hành cuộc

phỏng vấn với ban lãnh đạo. Việc phỏng vấn sẽ giúp chúng ta tìm hiểu thêm hoặc

bỏ bớt các mục tiêu không cần thiết yếu, đồng thời giúp tìm ra mối liên hệ giữa

chúng và liên kết chúng trong bản đồ chiến lược. Khi lựa chọn mục tiêu cần phải

kết hợp với phương châm “càng ít càng tốt”, việc tính ra con số mục tiêu hồn hảo

cho mọi tổ chức là điều khơng thể. Do đó, để đảm bảo sự tập trung vào các mục tiêu

quan trọng đến sống còn, nên giới hạn tổng số 25 mục tiêu phân cho 4 phương diện

trên bản đồ chiến lược.

Hình 1.6 là một bản đồ chiến lược mơ tả tổ chức sáng tạo ra các giá trị thế

nào thơng qua các hoạt động liên kết của mình.

20



Hình 1.6: Bản đồ chiến lược mô tả tổ chức sáng tạo giá trị



(Nguồn: Balanced Scorecard - Dương Thị Thu Hiền (2009))



21



1.3.4 Hoàn thiện các chỉ số đo lường cốt lõi (Key Performance Indicators – KPIs)

1.3.4.1 Các chỉ số đo lường cốt lỗi

Chỉ số đo lường cốt lõi là công cụ đo lường, đánh giá hiệu quả công việc

được thể hiện qua số liệu, tỷ lệ, chỉ tiêu định lượng, nhằm phản ảnh hiệu quả hoạt

động của các tổ chức hoặc bộ phận chức năng hay cá nhân.

Trong cuốn sách Frekonomics, tác giả đã nói “Việc biết được cái gì để đo

lường và đo lường nó như thế nào khiến cho một thế giới phức tạp trở nên đơn giản

hơn nhiều. Nếu học được cách nhìn vào các dữ liệu theo phương pháp đúng đắn ra

sao thì bạn có thể giải thích được những điều bí ẩn mà có lẽ dường như khơng thể

bằng cách khác. Đó là bởi vì khơng có cái gì giống như sức mạnh tuyệt đối của các

con số để loại bỏ những tầng lớp của sự nhầm lẫn và mâu thuẫn” ([05], Dương Thị

Thu Hiền, 2009).

a. Chỉ số đo lường phương diện tài chính.

Các chỉ số đo lường tài chính là thành phần rất quan trọng của BSC, đặc biệt

trong thế giới kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Các mục tiêu và chỉ số đo lường trong

phương diện này sẽ cho ta biết liệu việc thực hiện chiến lược có dẫn đến cải thiện

những kết quả cốt yếu hay khơng. Tổ chức có thể tập trung tồn bộ nỗ lực và khả năng

của mình vào việc cả thiện sự thỏa mãn của khách hàng, chất lượng, giao hàng đúng

hạn hoặc hàng loạt vấn đề khác, nhưng nếu không chỉ ra những tác động của chúng đến

lợi nhuận tài chính của tổ chức thì chúng chỉ có giá trị hạn chế mà thôi. Dưới đây là

một số các chỉ số đo lường phương diện tài chính thường được sử dụng:

 Tổng tài sản.

 Tổng tài sản/nhân viên.

 Lợi nhuận trên mỗi nhân viên.

 Doanh thu/tổng tài sản.

 Lãi gộp.

 Thu nhập thuần.

 Thu nhập từ các sản phẩm hay dịch vụ mới.



22



 Giá trị kinh tế tăng thêm (EVA).

 Thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE).

 Thu nhập trên tổng tài sản (ROA).

 Thu nhập trên vốn đầu tư (ROI).

 Cổ tức.

 Giá trị cổ phiếu.

 Dòng tiền.

 Tổng chi phí.

 Xếp hạng tín dụng.

 Khả năng thanh tốn lãi vay.

 Nợ.

 Vòng quay khoản phải thu.

 Vòng quay hàng tồn kho.

b. Chỉ số đo lường phương diện khách hàng.

Khi lựa chọn những chỉ số đo lường cho phương diện khách hàng của thẻ

điểm, các tổ chức phải trả lời ba câu hỏi quan trọng: Ai là khách hàng mục tiêu của

chúng ta? Tuyên bố giá trị nào của chúng ta trong việc phục vụ khách hàng là gì?

Và khách hàng mong đợi hay yêu cầu gì ở chúng ta? Nghe có vẻ đơn giản nhưng

mỗi câu hỏi này đặt ra khơng ít thách thức cho các tổ chức. Các chỉ số đo lường sẽ

được thể hiện trong các tuyên bố giá trị như: sự xuất sắc trong hoạt động, dẫn đầu

về sản phẩm, sự thân thiết với khách hàng. Dưới đây là một số các chỉ số đo lường

phương diện khách hàng thường được sử dụng:

 Sự hài lòng của khách hàng.

 Lòng trung thành của khách hàng.

 Thị phần.

 Sự than phiền của khách hàng.

 Thời gian phản hồi trên mỗi yêu cầu của khách hàng.

 Tỷ lệ hàng trả lại.

23



 Tỷ lệ mất khách hàng.

 Tỷ lệ khách hàng tăng thêm.

 %Thu nhập từ khách hàng mới.

 % Chi phí marketing trên doanh thu.

 Tỷ lệ những hội chợ triễn lãm tham dự.

 Quy mơ trung bình của khách hàng.

 Tần suất của giao dịch.

 Doanh thu trên từng kênh.

 Số lượng khách hàng trên từng nhân viên.

c. Chỉ số đo lường phương diện quy trình nội bộ.

Khi phát triển chỉ số đo lường phương diện quy trình nội bộ, chúng ta cần

phải nhận diện các quy trình chính mà doanh nghiệp phải thực hiện tốt để liên tục

gia tăng giá trị cho khách hàng và cuối cùng là các cổ đông. Từng nguyên tắc về

khách hàng được đưa ra sẽ đòi hỏi sự hoạt động hiệu quả của các quy trình nội bộ

cụ thể nhằm phục vụ khách hàng và hoàn thành sự xác nhận giá trị đó. Nhiệm vụ

của chúng ta ở đây là xác định các quy trình và phát triển các mục tiêu khả thi cùng

các chỉ số đo lường nhằm theo dõi tiến độ. Như trong hình 1.6, thì chỉ số đo lường

phương diện quy trình nội bộ tập trung ở bốn hoạt động chính, đó là: q trình quản

lý điều hành, quá trình quản lý khách hàng, quá trình đổi mới, quá trình điều chỉnh

và xã hội. Dưới đây là một số các chỉ số đo lường phương diện quy trình nội bộ

thường được sử dụng:

 Chi phí trung bình cho việc thực hiện một giao dịch.

 Giao hàng đúng hẹn.

 Phí tốn của R&D.

 Các bức xạ môi trường.

 Sự tham gia vào cộng đồng.

 % Khuyết hàng lỗi.

 Công việc được làm lại.

24



 Cơ sở dữ liệu khách hàng sẵn có.

 Tính liên tục của vấn đề cải tiến.

 Mức độ lãng phí khi chuyển đổi quy trình.

 Thời gian chết của máy móc.

 Thời gian để đưa sản phẩm mới ra thị trường.

 Các yêu cầu bảo hành.

 Tận dụng không gian.

 Tần suất hàng bán bị trả lại.

d. Chỉ số đo lường phương diện đào tạo và phát triển.

Nếu muốn đạt được những kết quả đầy tham vọng cho các quy trình nội bộ,

khách hàng và cuối cùng là cổ đông, chúng ta phải tìm kiếm các thành tựu này từ

đâu? Các mục tiêu và chỉ số đo lường trong phương diện đào tạo và phát triển của

BSC thực sự là những yếu tố hỗ trợ cho ba phương diện còn lại. Các chỉ số đo lường

phương diện đào tạo và phát triển nói về nguồn lực con người, nguồn lực thơng tin và

nguồn lực tổ chức. Các kỹ năng của nhân viên, sự thỏa mãn của nhân viên, sự sẵn có

của thơng tin đều có thể có chỗ đứng trong phương diện này. Dưới đây là một số các

chỉ số đo lường phương diện đào tạo và phát triển thường được sử dụng:

 Số nhân viên đã qua huấn luyện.

 Số nhân viên được đào tạo chéo.

 Tỷ lệ thay thế nhân viên.

 Sự hài lòng của nhân viên.

 Số năm phục vụ trung bình.

 Tỷ lệ về tính đa dạng.

 Chất lượng của môi trường làm việc.

 Tỷ lệ giao tiếp truyền thông trong nội bộ.

 Số giờ huấn luyện.

 Chỉ số trao quyền.

 Kế hoạch được truyền đạt.

25



 Tỷ lệ % nhân viên có bằng cấp cao.

 Tỷ lệ % nhân viên có máy tính.

 Các đề xuất của nhân viên.

 Vi phạm nội quy.



1.3.4.2 Các tiêu chuẩn cho việc lựa chọn các chỉ số đo lường cốt lõi

Những lựa chọn liên quan đến mục tiêu, chỉ tiêu và sáng kiến để đạt chỉ tiêu

đều phải được cân nhắc kỹ lưỡng trong việc phát triển thẻ điểm như là nền móng

của hệ thống quản lý. Do đó, việc lựa chọn các chỉ số đo lường là những lựa chọn

khó khăn, bởi những thước đo đó chính là cốt lõi của BSC và sẽ cung cấp điểm

tham chiếu và tiêu điểm cho cả tổ chức. Dưới đây là một số tiêu chuẩn cho việc

đánh giá và lựa chọn các chỉ số đo lường:

a. Liên kết với chiến lược:

Đây là tiêu chuẩn rõ ràng nhất và rất quan trọng. Thẻ điểm là công cụ diễn

giải chiến lược thành hành động thông qua các mục tiêu và chỉ số đo lường trình

bày chiến lược đó. Do đó, nếu các chỉ số đo lường thành tích được lựa chọn khơng

ảnh hưởng tới chiến lược chung của cơng ty thì sẽ dẫn tới mọi rắc rối và thiếu rõ

ràng khi nhân viên phải cống hiến tài nguyên quý giá cho việc theo đuổi các chỉ số

đo lường đó.

b. Khả năng truy cập:

Các dữ liệu phản ảnh cho các chỉ số đo lường cốt lõi phải được truy cập một

cách thuận tiện, dễ dàng trên cơ sở có tính tốn một cách cân bằng giữa các chi phí

và lợi ích của việc thu thập dữ liệu.

c. Tính định lượng:

Những người thực hành thẻ điểm thường đưa vào các thước đo dựa trên sự

đánh giá chủ quan về thành tích chẳng hạn như việc xếp hạng các thành tích của nhà

cung cấp là “tốt”, “khá” hoặc “trung bình”, với cách xếp hạng như vậy thì bạn sẽ

thu được những đánh giá chủ quan và câu trả lời khác nhau giữa những người đánh

giá. Chính vì vậy những chỉ số đo lường cốt lõi hiệu quả khi mang tính định lượng.

d. Dễ hiểu:

26



Mục tiêu cuối cùng của chúng ta là phải tạo được thẻ điểm thúc đẩy hành

động. Điều này rất khó thực hiện nếu nhân viên khơng lĩnh hội được ý nghĩa của

các chỉ số đo lường cốt lõi đã được lựa chọn. Vì vậy, những chỉ số đo lường tạo ra

cần phải rõ ràng và giải thích được ý nghĩa của chiến lược.

e. Đối trọng:

Chúng ta không nên chỉ tập trung vào một hay vài chỉ số đo lường cốt lõi cụ thể

mà hạn chế, loại bỏ các chỉ số đo lường cốt lõi khác, hoặc ngăn cản khả năng cạnh

tranh của mình trong khi thẻ điểm yêu cầu cần phải có sự cân bằng và quyết định liên

quan đến việc phân bố các nguồn lực. Chính vì vậy, các chỉ số đo lường cốt lõi cần

phải có sự đối trọng lẫn nhau và với chiến lược, khả năng cạnh tranh của công ty.

f. Phù hợp:

Các chỉ số đo lường cốt lõi xuất hiện trên thẻ điểm của cơng ty phải mơ tả

một cách chính xác quy trình hoặc mục tiêu mà cơng ty đang cố gắng đánh giá. Vì

vậy, việc kiểm tra xem các kết quả đo lường có thể thực hiện được hay khơng là

điều nên làm và hợp lý.



1.3.5 Hoàn thiện các chương trình hành động (Key Performance Actions –

KPAs)

Các chương trình hành động là những hoạt động, chương trình, dự án hoặc là

những hành động cụ thể giúp công ty đạt được những mục tiêu chiến lược. Sự tham

gia của nhân viên, việc quản lý mối quan hệ khách hàng, các nâng cấp trang thiết bị,

những sáng kiến tăng trưởng và việc hiện đại hóa cơ sở hạ tầng là những chương

trình hành động phổ biến trong mọi tổ chức.

Việc phát triển các chương trình hành động thực sự mang đến sự hỗ trợ cho

việc theo đuổi các mục tiêu chiến lược là những cách tốt nhất và dễ nhất để giành

được lợi ích kinh tế nhanh chóng từ việc thực thi BSC. Việc loại bỏ những hoạt

động khơng mang tính chiến lược bằng cách sử dụng những lăng kính sắc bén như

la-de của BSC sẽ nhanh chóng giải phóng cho nguồn lực quý giá có thể được rót

vào các dự án tạo ra giá trị thực sự và dẫn đến lợi thế cạnh tranh.



27



Bốn bước thực hiện sẽ dẫn chúng ta đến miền đất hứa của những chương

trình hành động chiến lược được ưu tiên là:

Bước 1: Tiến hành kiểm kê các chương trình hiện tại.

Để đưa ra quyết định xác đáng liên quan đến việc những sáng kiến nào mang

tính chiến lược hay không, trước tiên chúng ta phải thu thập thông tin về tất cả các

dự án hiện đang được thực hiện trong cả tổ chức. Các chương trình hành động này

có thể được tìm hiểu, khai thác từ các nhà quản lý và người đứng đầu các phòng

ban. Bên cạnh đó, đội ngũ nhân viên cũng rất quan trọng trong việc cung cấp các

thông tin liên quan đến dự án, đặc biệt các nhân viên tài chính thường giữ những tài

liệu về các chi phí thực hiện.

Để hỗ trợ cho quy trình ra quyết định tiếp theo, chúng ta cần có được các

thơng tin liên quan đến các chương trình hành động, như: tên chương trình, mục

tiêu, các chi phí dự tốn, thời gian dự tính và tên những người tham gia.

Bước 2: Lập bản đồ cho những chương trình hành động theo các mục tiêu chiến lược.

Sau khi thực hiện xong bước 1, chúng ta sẽ lập bản đồ cho những dự án,

chương trình hành động đó theo các mục tiêu đã được xác định trong từng phương

diện của bản đồ chiến lược. Việc này khá đơn giản: lấy ra một chương trình hành

động và xem xét nó trong bối cảnh của từng phương diện. Nếu nó đóng góp vào

việc đạt được một mục tiêu thì chúng ta hãy đánh dấu lại, nếu không hãy bỏ trống ô

đó (được minh họa ở bảng 1.1).

Bước 3: Loại bỏ và phát triển các chương trình hành động bị thất lạc.

Sau khi đánh giá một cách thận trọng các giá trị chiến lược của từng

chương trình hành động, chúng ta cần phải loại bỏ, hợp nhất hoặc giảm bớt phạm

vi các chương trình khơng đóng góp vào việc đạt được chiến lược của mình. Bên

cạnh đó, cần phát triển các chương trình hành động mới để hỗ trợ cho việc đạt

được các mục tiêu mới tạo ra, và phát triển chúng trên một nên tảng vững chắc,

đảm bảo rằng: có một nhà điều hành sẵn sàng bảo trợ cho sáng kiến mới, các kế

hoạch và phạm vi dự án được xác định rõ ràng, một ngân sách hợp lý và sự cam



28



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tầm nhìn và Chiến lược

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×