Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN 3:TÌM HIỂU CÔNG TÁC “XÂY DỰNG LÀNG VĂN HÓA” Ở XÃ THỤY AN

PHẦN 3:TÌM HIỂU CÔNG TÁC “XÂY DỰNG LÀNG VĂN HÓA” Ở XÃ THỤY AN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng

11 năm 2003;

Căn cứ Luật Thi đua, Khen thưởng ngày 26 tháng 11 năm 2003 và Luật Sửa

đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng ngày 14 tháng 6 năm

2005;

Căn cứ Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 04 năm 2010 của Chính

phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Thi đua, Khen thưởng và Luật Sửa

đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng;

Căn cứ Thông tư số 12/2011/TT-BVHTTDL ngày 10 tháng 10 năm 2011 của

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục,

hồ sơ cơng nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Thơn văn hóa”, “Làng văn hóa”,

“Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” và tương đương;

Căn cứ Thông tư số 01/2012/TT-BVHTTDL ngày 18 tháng 01 năm 2012 của

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục xét

và cơng nhận “Cơ quan đạt chuẩn văn hóa”, “Đơn vị đạt chuẩn văn hóa”, “Doanh

nghiệp đạt chuẩn văn hóa”;

Xét đề nghị của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Tờ trình số

726/TTr-SVHTT&DL ngày 25 tháng 04 năm 2012,

Căn cứ Quyết định số 62/2006/QĐ-BVHTT ngày 23 tháng 6 năm 2006 của

Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thơng tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) về

việc ban hành Quy chế công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Làng văn hóa”,

“Tổ dân phố văn hóa”;

Xét đề nghị của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch – Thường trực Ban Chỉ

đạo Phong trào “Tồn dân đồn kết xây dựng đời sống văn hóa” Thành phố, Hà

Nội,



3.2. Tiêu chuẩn danh hiệu “Làng văn hóa”, “Thơn văn hóa”, “ Ấp văn

hóa”, “Bản văn hóa” và tương đương

1. Đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển:

a) Thực hiện tốt cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, khơng còn hộ đói, tỷ lệ hộ

nghèo thấp hơn mức bình quân chung của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

(dưới đây gọi là bình quân chung);

b) Có phong trào xóa nhà tạm, dột nát; tỷ lệ hộ có nhà bền vững cao hơn mức bình

qn chung;

c) Có nhiều hoạt động hiệu quả: Về tuyên truyền, phổ biến và ứng dụng khoa họckỹ thuật; phát triển nghề truyền thống; hợp tác và liên kết phát triển kinh tế;

d) Tỷ lệ lao động có việc làm, thu nhập bình qn đầu người/năm cao hơn mức

bình qn chung;

đ) Có 80% trở lên hộ gia đình tham gia cuộc vận động xây dựng nông thôn mới;

xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng kinh tế-xã hội ở cộng đồng.

2. Đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú:

a) Nhà Văn hóa-Khu thể thao thơn (làng, ấp, bản và tương đương) từng bước đạt

chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

b) Duy trì phong trào văn hóa, thể thao, thu hút 40% trở lên số người dân tham gia

các hoạt động văn hóa, thể thao ở cộng đồng;



c) Có 70% trở lên hộ gia đình thực hiện tốt các quy định về nếp sống văn minh

trong việc cưới, việc tang và lễ hội; khơng có hành vi truyền bá và hành nghề mê

tín dị đoan;

d) Không phát sinh người mắc tệ nạn xã hội ở cộng đồng; khơng có người sử dụng

và lưu hành văn hóa phẩm độc hại;

đ) Có 70% trở lên hộ gia đình được cơng nhận “Gia đình văn hóa”, trong đó ít nhất

50% gia đình văn hóa được cơng nhận 3 năm trở lên;

e) 100% trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường, đạt chuẩn phổ cập giáo dục

trung học trở lên; có phong trào “khuyến học”, khuyến tài;

g) Khơng có hành vi gây lây truyền dịch bệnh; khơng để xảy ra ngộ độc thực phẩm

đông người; giảm tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng, trẻ em được tiêm chủng đầy đủ

và phụ nữ có thai được khám định kỳ;

h) Thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch hố gia đình;

i) Có nhiều hoạt động đồn kết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; bảo vệ

di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh và các cơng trình cơng cộng; bảo tồn

các hình thức sinh hoạt văn hóa, thể thao dân gian truyền thống ở địa phương.

3. Môi trường cảnh quan sạch đẹp:

a) Có tổ vệ sinh thường xuyên quét dọn vệ sinh, thu gom rác thải về nơi xử lý tập

trung theo quy định;



b) Tỷ lệ hộ gia đình có 3 cơng trình hợp vệ sinh (nước sạch, nhà tắm, hố xí) đạt

chuẩn, cao hơn mức bình qn chung; các cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt tiêu

chuẩn về môi trường;

c) Nhà ở khu dân cư, các cơng trình cơng cộng, nghĩa trang được xây dựng từng

bước theo quy hoạch;

d) Thường xuyên tuyên truyền, nhắc nhở, nâng cao ý thức của người dân về bảo vệ

môi trường sinh thái; vận động nhân dân xây dựng cải tạo, nâng cấp hệ thống thoát

nước; cải tạo các ao, hồ sinh thái; trồng cây xanh.

4. Chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà

nước:

a) Có 90% trở lên hộ gia đình được phổ biến và nghiêm chỉnh thực hiện đường lối,

chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa

phương;

b) Hoạt động hòa giải có hiệu quả; hầu hết những mâu thuẫn, bất hòa được giải

quyết tại cộng đồng;

c) Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hội; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở

cơ sở; phản ánh kịp thời những đề xuất, kiến nghị của nhân dân giải quyết những

vấn đề bức xúc ở cơ sở, cộng đồng dân cư; khơng có khiếu kiện đơng người trái

pháp luật;

d) Tuyên truyền và tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân ở khu dân cư tham gia

giám sát hoạt động cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức Nhà

nước; tham gia xây dựng Chi bộ Đảng, chính quyền đạt danh hiệu “Trong sạch,



vững mạnh”; các tổ chức đoàn thể đạt danh hiệu tiên tiến trở lên hàng năm; các tổ

chức tự quản ở cộng đồng hoạt động có hiệu quả.

5. Có tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong cộng đồng:

a) Thực hiện đầy đủ các chính sách của Nhà nước, phát triển phong trào “Đền ơn

đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, nhằm chăm sóc các gia đình chính sách,

người có cơng với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức bình quân

chung;

b) Thực hiện tốt các hoạt động “Nhân đạo từ thiện”, giúp đỡ đồng bào bị thiên tai,

gia đình khó khăn, người già cơ đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, nạn nhân chất

độc da cam-dioxin và những người bất hạnh.

3.3. Công tác triển khai, lãnh đạo, quản lý, hướng dẫn việc công tác xây

dựng làng, thơn, ấp, bản văn hóa tại xã Thụy An.

Nhận thức sâu sắc phong trào “Xây dựng làng văn hóa” nói riêng và cuộc

vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” nói chung là một trong

bốn giải pháp lớn nhằm thực hiện Nghị quyết TW5 (Khóa VIII) đồng thời cũng là

biện pháp quan trọng để nhanh chóng đưa nội dung các Nghị quyết về văn hóa của

Đảng đi vào cuộc sống với quyết tâm thi đua thực hiện tốt các Nghị quyết của

Đảng, đẩy mạnh nâng cao chất lượng làng văn hóa, đơn vị văn hóa, gia đình văn

hóa, tập trung xây dựng lối sống nếp sống văn hóa trong mọi tầng lớp nhân dân

đồng thời góp phần thay đổi trong nếp nghĩ và cách làm của các cấp, các nghành,

Ban chỉ đạo đã đặc biệt quan tâm việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động

bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng.

Xây dựng Quy ước làng văn hóa được xác định là bước đầu tiên tạo tiền đề

cho phong trào xây dựng Làng văn hóa. Xây dựng quy ước làng văn hóa là xây



dựng những nguyên tắc xử sự do cộng đồng dân cư cùng thỏa thuận và đặt ra, để

điều chỉnh các mối quan hệ xã hội mang tính chất tự quản của nhân dân, nhằm giữ

gìn và phát huy những phong tục, tập qn và truyền thống tốt đẹp, góp phần hỗ

trợ tích cực cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật. Nhận biết rõ được tầm quan

trọng đó của cơng tác xây dựng quy ước làng văn hóa và Xây dựng làng văn hóa.

Trong những năm qua xã Thụy an ln chú trọng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo

việc thực hiện xây dựng quy ước làng văn hóa và Xây dựng làng văn hóa trên địa

bàn. Cụ thể là: Từ năm 2000 trên địa bàn xã thụy An đã có 11/11 làng có Quy ước

làng văn hóa, đến năm 2005 thực hiện quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25

tháng 11 năm 2005 của Thủ Tướng chính phủ về Quy chế thực hiện nếp sống văn

minh trong việc cưới, việc tang, mừng thọ và lễ hội. Nắm bắt được những thay đổi

đó, Đảng ủy, UBND xã Thụy An đã thành lập Ban chỉ đạo” Toàn dân đoàn kết xây

dựng đời sống văn hóa”, giao cho các thơn xây dựng quy ước làng văn hóa dựa

theo những Quy chế được ban hành trong Quyết định.

3.4. Kết quả của công tác “xây dựng làng văn hóa” ở xã Thụy An huyện

Ba Vì thành phố Hà Nội trong những năm qua

Trong quá trình thực hiện xây dựng quy ước làng văn hóa và xây dựng Làng

Văn hóa. Đảng và chính quyền địa phương cũng đã chỉ đạo việc xây dựng Quy ước

phải do nhóm soạn thảo đảm nhiệm, gồm các thành viên có kinh nghiệm sống và

uy tín, đại diện cho các thành phần dân cư tại cộng đồng. Soạn thảo Quy ước phải

tiến hành lấy ý kiến của toàn bộ nhân dân trên địa bàn.

Trong suốt quá trình xây dựng và sửa đổi bản quy ước làng văn hóa thì đến

năm 2007 xã Thuy An đã hoàn thành việc sửa đổi bản Quy ước làng văn hóa, 11/11

Làng đều có Quy ước làng văn hóa phù hợp hơn với thực trạng. Trong đó quy định

rất rõ về những nội dung sau:



-



Các nội dung biện pháp nhằm đảm bảo, giữ gìn và phát huy thuần phong mỹ tục,

thực hiện nếp sống văn minh trong ứng xử, giao tiếp, ăn, ở, đi lại, phát triển các

hoạt động văn hóa lành mạnh, xây dựng và phát huy tình làng, nghĩa xóm, đồn kết

tương thân, tương ái, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư; thực hiện tốt

các chính sách xã hội của Đảng và Nhà Nước;



-



Đề ra các biện pháp góp phần bảo vệ tài sản Nhà Nước, tài sản công cộng và tài

sản của công dân, bảo vệ môi trường sống, bảo vệ các danh lam thắng cảnh, đình,

chùa, miếu mạo, xây dựng và phát triển đường làng, ngõ xóm, tích cực trồng cây

xanh.

- Phát huy được những thuần phong mỹ tục tốt đẹp, xóa bỏ những hủ tục trong ma

chay, cưới xin và lễ hội cụ thể như: Đám cưới phải thực hiện theo đúng luật hơn

nhân và gia đình, tổ chức lễ cưới phải vui vẻ, văn minh và tiết kiệm, không thách

cưới, không mời thuốc lá, không bật nhạc quá 23h đêm……Đám tang, tổ chức

tang lễ phải trang nghiêm tiết kiệm. không để người chết trong nhà quá 48 tiếng,

việc sinh hoạt chia buồn nên tổ chức gọn nhẹ trong nhà, anh em trong gia đình,

khơng mời cơm khách. Việc chôn cất người chết phải tuân thủ theo đúng quy định

và việc cải táng phải khoa học, giữ gìn vệ sinh chung, tạo cảnh quan môi trường

xanh, sạch, đẹp.

- Các nội dung góp phần xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa,

xây dựng làng văn hóa, hình thành các quy tắc đạo đức trong cộng đồng, khuyến

khích mọi người đùm bọc giúp đỡ lần nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn, ốm đau,

vận động thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình theo tiêu chuẩn gia

đình văn hóa.

Bản Quy ước mới sửa đổi đã được các cơ quan chức năng phê duyệt và đưa

vào thực hiện được nhân dân đồng tình ủng hộ tạo thành ý thức tự quản chặt chẽ.

Qua đó phát huy được những thuần phong mỹ tục tốt đẹp, xóa bỏ những hủ tục



trong ma chay, cưới xin, lễ hội, sau khi bản quy ước được sửa đổi và đưa vào thực

tế đến nay là 10 năm, tại địa bàn xã Thụy an đã Thực hiện rất tốt nội dung của bản

quy ước. Đám cưới, đám tang, mừng thọ và lễ hội đã thực hiện đúng với nếp sống

văn minh, không còn việc thách cưới, mời khách q 200 mâm, khơng mời thuốc

lá, và không để người chết trong nhà quá 48 tiếng. Cùng với việc sửa đổi bản Quy

ước cũng là một điều kiện thúc đẩy việc xây dựng Làng Văn hóa tại địa phương, đã

đạt được những thành tích đáng khích lệ: cho đến nay 11/11 làng của xã Thụy An

đều đã được cơng nhận là làng Văn hóa.

Trong đó có làng Liên Minh 2 lần được cơng nhận là Làng văn hóa cấp Thành phố.

Lần đầu tiên được công nhận vào năm 1999 và tiếp tục được công nhận lần hai vào

năm (2004). Và hai làng được công nhận là làng văn hóa Sức khỏe là Làng Cơ giới

và làng Liên Minh. 9 làng còn lại lần lượt đều được cơng nhận là làng văn hóa cấp

Huyện.

Năm 2002 là làng Đông kỳ

Năm 2003 Là Làng Áng gạo và Thụy Phiêu.

Năm 2004 là Đông Cao.

Năm 2005 là Liễu đông.

Năm 2006 là n Khối và Đơng Lâu,

Đến năm 2008 là Tân An, Duyên lãm và cơ giới.

Những kết quả đã đạt được trong việc xây dựng quy ước lang văn hóa và Xây dựng

làng văn hóa cũng đã phần nào nói lên sự Đúng đắn, sự sát sao trong cơng tác Lãnh

đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, UBND và sự đồng tình ủng hộ của nhân dân trong tồn

xã.



3.5. Về xây dựng khu dân cư tiên tiến và gia đình văn hóa

Từ khi phát động Phong trào "Tồn dân đồn kết xây dựng đời sống văn

hóa" đến nay, phong trào xây dựng gia đình văn hố được xác định có vị trí hết sức

quan trọng vì gia đình là tế bào của xã hội, vậy tế bào có khoẻ, có tốt thì xã hội

mới phát triển mạnh giàu. Thực hiện các tiêu chuẩn cơng nhận danh hiệu Gia đình

văn hố, Làng văn hoá, dưới sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo của huyện, xã; quy trình

bình xét gia đình văn hố, gia đình thể thao được thống nhất và chỉ đạo các thơn,

bản trong tồn huyện bình xét tun dương vào ngày Đại đoàn kết toàn dân tộc

(18/11) hàng năm. Kết quả xây dựng gia đình văn hố đã được sự hỗ trợ đắc lực

của phong trào quần chúng như: “Ông, bà, cha, mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo”;

“Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế, xố đói giảm nghèo”; “Gia đình nơng dân 6 chuẩn

mực”; “Phụ nữ khơng sinh con thứ 3 trở lên”, “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”...

Từ niềm tự hào gia đình văn hố, các cấp uỷ Đảng, chính quyền ở các địa

phương đã huy động được sự hưởng ứng tích cực của nhân dân, cùng sự đóng góp

sức người, sức của xây dựng các thiết chế văn hoá, thể thao với nhiều phương pháp

sáng tạo và hiệu quả, mơ hình nhà văn hố, thư viện, điểm đọc báo, sân chơi thể

thao, văn nghệ quần chúng.... Gia đình văn hố đã trở thành niềm vinh dự, tự hào

của từng thành viên trong gia đình và đặc biệt quan trọng là nó tác động tích cực

tới đạo đức, lối sống của các thành viên, góp phần quan trọng vào mơi trường văn

hố làng, xã, cơ quan, cơng sở. Bám sát 3 tiêu chuẩn xây dựng gia đình văn hố;

quy trình bình xét và cơng nhận gia đình văn hoá hàng năm, các xã, thị trấn tổ chức

triển khai, bình bầu có chất lượng, số gia đình văn hố hàng năm đều vượt so với

năm trước. Tính đến nay tồn xã có 5011/4639 hộ gia đình đăng ký gia đình văn

hóa đạt tỷ lệ 96,8%; có 3840 gia đình được cơng nhận gia đình văn hóa (tỷ lệ

85,9%). Phong trào xây dựng làng khơng có người sinh con thứ 3 trở lên ngày càng



phổ biến rộng khắp. Đến nay đã có 11/11 làng đăng ký phát động phong trào, trong

đó 11 làng đều được cơng nhận làng văn hóa.

3.6. Về mơi trường cảnh quan

Đường làng ngõ xóm trước đây chủ yếu là đường rải bằng đá đất nên khơng

có hệ thống thốt nước nên vào mùa mưa các con đường đều ngập và rất bẩn. Đến

năm 2017 đã có 95% đường làng được làm bằng bê tơng, 50% số làng có hệ thống

thốt nước đảm bảo. 100% số làng có tổ thu gom rác thải và tổ chức duy trì dọn vệ

sinh hàng tuần, hàng tháng nên đường làng ngõ xóm sạch đẹp, mơi trường từng

bước được cải thiện.

Trước năm 2000 có 65% số làng dùng nước giếng đất, đến năm 2017 thì có

98% số hộ dùng nước máy đảm bảo vệ sinh. Việc quy hoạch xây dựng nhà tắm,

các cơng trình vệ sinh, chuồng trại chăn ni cũng đã được triển khai, tuy nhiên

vẫn còn rất sơ sài nhưng đến năm 2017 tình trạng này khơng còn nữa. Nhiều hộ

dân đã xây được cơng trình vệ sinh, chăn nuôi hiện đại hợp vệ sinh ( chiếm

khoảng 90%), 99% số hộ đã quy hoạch nơi chăn nuôi riêng cách xa nhà ở.

3.4. Đánh giá việc thực hiện phong trào

3.4.1. Ưu điểm

Xây dựng mơi trường văn hóa lành mạnh, thực hiện nếp sống văn minh

trong việc cưới, việc tang và lễ hội được nhân dân đồng tình và có những chuyển

biến tích cực.

Cơng tác xây dựng làng văn hóa đã gắn kết với phong trào phát triển kinh tế,

nhân dân giúp nhau xóa đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng từ sản xuất nơng

nghiệp, phát triển nhiều mơ hình làm giàu mới và sáng tạo.



Phong trào xây dựng làng văn hóa làm cho nhân dân sống với nhau thân

thiện, gần gũi, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống hướng tới xây dựng “làng văn hóa

văn minh”

Thực hiện tốt các quy ước, hương ước và xây dựng làng văn hóa làm cho

mỗi người dân và từng gia đình, từng cộng đồng dân cư ngày một thấm sâu các

chuẩn mực về văn hóa, tạo ra một lối sống văn minh.

Trong phong trào xây dựng làng văn hóa đã xuất hiện nhiều mơ hình gia

đình làm kinh tế giỏi nhưng cũng đồng thời là những gia đình có tấm long tương

thân tương ái giúp cho nhiều gia đình khó khăn khác cùng vươn lên thoát nghèo

bền vững.

Huy động được mọi nguồn lực trong nhân dân để xây dựng các thiết chế văn

hóa cơ sở và tổ chức tốt việc nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân

trong các làng văn hóa.Nhờ có các thiết chế văn hóa mà phong trào văn hóa, văn

nghệ, thể dục thể thao được đẩy mạnh.Thơng qua các hoạt động văn hóa, thể thao,

nhân dân được vui chơi giải trí, sống lành mạnh, làm chủ cuộc sống của mình và

cải thiện sức khỏe. Nhiều làng văn hóa trở thành những điểm sáng về văn hóa ở

các địa phương.

Việc thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp

hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người

Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” gắn với việc học tập và

làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã thật sự thiết thực góp

phần khơi dậy truyền thống yêu nước, tinh thần đồn kết, khơi phục được những

nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc, như truyền thống tương thân, tương ái,

tình làng, nghĩa xóm, cưu mang, đùm bọc nhau trong sản xuất và đời sống… Có

tác dụng quan trọng trong việc răn đe, ngăn ngừa sự suy thối về chính trị tư



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN 3:TÌM HIỂU CÔNG TÁC “XÂY DỰNG LÀNG VĂN HÓA” Ở XÃ THỤY AN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×