Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
IV. Kết cấu của đề tài

IV. Kết cấu của đề tài

Tải bản đầy đủ - 0trang

B: PHẦN NỘI DUNG.

Chương I

QUÁ TRÌNH DU NHẬP PHÁT TRIỂN VÀ VAI TRÒ

CỦA NHO GIÁO VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM.

1.1. Sự du nhập và phát triển của nho giáo ở VN.

Trong lịch sử của nước ta phật giáo, đạo giáo và nho giáo đã được du

nhập vào Việt Nam từ rất lâu đời và những trào lưu này đã có những vai trò to

lớn đáng kể trong hoạt động tư tưởng và văn hóa của nhân dân ta.

Theo lịch sử nước ta dưới thời kỳ nhà Lý, nhà Trần là giai đoạn nước

ta thoát khỏi ách áp bức của bắc thuộc, phật giáo là tơn giáo có thế lực lớn ở

nước ta ở cả trong triều đình và cả dân chúng , tuy nhiên trong quá trình củng

cố xây dựng xã hội phát triển kinh tế văn hóa đất nước tầng lớp thống trị việt

nam cảm thấy không thể chịu đựng được riêng vào phật giáo mà còn phải có

một học thuyết tích cực hơn và nho giáo đã được các triều đại tiếp theo sử

dụng lúc đầu nhân dân ta vẫn theo đạo phật mặc dù vậy nho giáo đã dần dần

giữ được một vị trí ngày càng tăng trong việc nước và nhân dân.Và từ thời kỳ

nhà Lê trở đi nho giáo đã trở thành quốc giáo của chế độ phong kiến việt

nam, tuy vậy Đạo giáo và phật giáo cũng không mất đi mà đôi khi lại đấu

tranh chống lại kể thù sâm lược cùng nho giáo.Đến cuối thời nhà Lê ở thế kỷ

XVII, XVIII thì chế độ phong kiến suy tàn đã kéo theo sự thất thế của nho

giáo cho đến khi nhà Nguyễn đánh bại tây sơn ở đầu thế kỷ XIX thì nho giáo

lại được sử dụng như một quốc giáo nhà nước phong kiến phản động của nho

giáo để phục vụ giai cấp cầm quyền lúc bấy giờ nho giáo khi được du nhập

vào việt nam đã không giữ được trạng thái nguyên sơ của nó đã được các nho

sĩ việt nam dựng tổ quốc đã khai thác những tích cực của nho giáo để khẳng

định những giá trị truyền thống của dân tộc.



4



Dựa trên nhưng quan điểm của tư tưởng nho giáo các nhà nho Việt

Nam đã tiếp thu một cách chủ động và cải tiến đi những tư tưởng quá hà khắc

của nho giáo coi các nhà nho Việt Nam cũng muốn nhấn mạnh quan hệ này

nhưng họ vẫn đòi hỏi ở nhà vua trước hết phải trung thành với tổ quốc và

trung thành với nhân dân.

Cùng với quá trình truyền bá nho giáo vào Việt Nam vào đời sống của

nhân dân các nhà nho Việt Nam cũng hoạt động mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực tư

tưởng văn hóa và đã có những đóng góp quan trọng vào q trình xây dựng

nhà nước.Nhiều quan điểm tư tưởng lạc hậu của nho giáo chủ nghĩa duy tâm

đã được các nhà nho phát hiện và loại bỏ, những quan điểm tiến bộ của đạo

gia và đạo phật lại được tiếp thu sử dụng như quan điểm vơ thường của đạo

phật khuyến khích đức tính hy sinh coi thường cái chết trong cuộc kháng

chiến chống xâm lược.Như vậy nho giáo đã được truyền bá vào nước ta rất

lâu đời trải qua nhiều triều đại phong kiến tuy q trình phát triển của nó có

nhiều thăng trầm, có những giai đoạn lịch sử nho giáo bị các triều đại phê

phán xóa bỏ nhưng nhìn chung ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo là xuyên

suốt trong tiến trình lịch sử của VN được các nho sĩ VN tiếp thu và phát triển

cải biến phù hợp với điều kiện của từng triều đại nhằm phục vụ cho sự thống

trị của giai cấp cầm quyền .

1.2. Vai trò của nho giáo đối với cách mạng VN.

Trên con đường cách mạng của dân tộc VN Hồ Chí Minh vị lãnh tụ vĩ

đại của dân tộc ta trong quá trình dẫn dắt lãnh đạo Đảng ta đã luôn biết tiếp

thu những mặt tích cực của nho giáo vào đường lối chính sách của Đảng tất

nhiên Người khơng thể khơng gạt bỏ nho giáo bởi nhìn chung tư tưởng của

nho giáo là hệ tư tưởng mang tính duy tâm là chủ yếu, nó đại diện của chế độ

phong kiến cổ hủ, lạc hậu, nhưng Người đã không đổ đi

“ Chậu nước bẩn cùng đứa trẻ em” Người đã tiếp thu chọn lọc lấy

những nhân tố hợp lý của nho giáo nhằm phục vụ cho cách mạng.



5



Trước những quan niệm của nho giáo Hồ Chí Minh đã có một sự phát

triển chọn lọc sáng tạo tuy xét về cơ bản thì nho giáo và sự nghiệp cách mạng

của Hồ Chí Minh trái ngược nhau hồn tồn vì cái mà nho giáo tơn thờ nhất

lại chính là cái mà cách mạng lên án và đánh đổ.

Trước chữ “ Trung” của nho giáo Hồ Chí Minh đã phát triển lên thành “

trung hiếu” tức trung với nước hiếu với dân, trung thành với sự nghiệp cách

mạng lên án chế độ phong kiến chứ không phải trung với vua và chế độ

phong kiến như nho giáo.

Nho giáo vua là bậc trí tơn đứng trên xã hội còn nhân dân chỉ là tầng

lớp đáng khinh rẻ thì cách mạng lại làm ngược lại đưa quần chúng lên địa vị

làm chủ đất nước với nhũng tư tưởng trái ngược nhau như thế nên trên con

đường cách mạng VN hầu như nho giáo luôn là chướng ngại vật của cách

mạng, tuy nhiên những quan điểm tích cực của nho giáo lại là những yếu tố

mà cách mạng chấp nhận và sử dụng, chính nho giáo đã coi: “ Nhân dân là

gốc” và nhận ra sức manh vô địch của nhân dân “ Nhân dân có thể đẩy thuyền

nhưng cũng có thể lật thuyền” cách mạng đã tiếp thu và đồng thời đặt nhân

dân lên làm lực lượng chính, làm nên lịch sử kêu gọi nhân dân đấu tranh cho

quyền dân chủ bình đẳng của mình.

Nho giáo coi khinh phụ nữ và trọng đàn ông hơn cho rằng chỉ có đàn

ơng mới có khả năng “ trị quốc bình thiên hạ” thì cách mạng đã xóa bỏ

những tư tưởng lạc hậu ấy kêu gọi cả nước đứng lên đánh giặc cứu nước: “

bất kỳ người già, trẻ, gái , trai” ai cũng có quyền sống chiến đấu và tham gia

sản xuất quản lý xã hội.Chính sự tiến bộ này mà cách mạng đã giải phóng

được một nửa dân số và nâng sức mạnh của quần chúng lên gấp hai lân.

Chính tình thần sáng tạo phát triển hợp lý mà trong q trình lãnh đạo

cách mạng Hồ Chí Minh đã sử dụng rất nhiều những quan điểm của nho giáo

nhiều kinh nghiệm giáo dục và tự dưỡng của nho giáo để động viên nhân dân

đứng lên đấu tranh chiến đấu với khí phách kiên cường dũng cảm.



6



Hồ Chí Minh cũng như nho giáo coi “ đạo đức là gốc, cây phải có gốc

thì cây héo.Người cách mang phải có đạo đức khơng có đạo đức có tài giỏi

mấy cũng khơng lãnh đạo được nhân dân”, nếu nho giao coi việc thực hiện lý

tưởng là khó khăn Hồ Chí Minh cũng coi nhiệm vụ cách mạng là rất nặng lề

và phức tạp và gian khổ.

“Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi xa được người cách mạng

phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ

vang”.

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mac-Lê Nin, Hồ Chí Minh đã cho nhân

dân ta nhận thức rõ được những khó khăn và thuận lợi của cuộc kháng chiến,

động viên mọi người trước những thắng lợi ngày một gần, cổ vũ mọi người

bằng những tấm gương kiên cường bất khuất của lịch sử dân tộc trong q

trình đó khơng thể bỏ qua nhũng lời răn dạy rút ra tù trong nho giáo “ gian

khổ đi trước hưởng thụ theo sau mọi người” .

“Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khổ không thể chuyển lay, uy lực

không thể khuất phục ...” tất nhiên không phải để thực hiên mục tiêu của nho

giáo mà đi ngược lại mục tiêu ấy mà hướng tới giải phóng tổ quốc dân tộc.

Trong những năm qua công cuộc xây dựng đổi mới đất nước của Đảng

ta lãnh đạo đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn bộ mặt xã hội đã được

những sự thay đổi đáng kể. Tuy nhiên hiện nay nước ta vẫn còn mn vàn

khó khăn và thử thách.Những tư tưởng của nho giáo vẫn bám sát chúng ta tiếp

tục đem lại cho chúng ta nhiều bài học cả về chính diên và phản diện xã hội

ngày nay trong nhân dân những biểu hiện về cả nhận thức tình cảm và hành

động, tư tưởng thực dụng suy thoái phẩm chất đạo đức, tham nhũng, bn lậu,

làm giàu bất chính và những tệ nạn xã hội khác phát triển nghiêm trọng.Và

trong những biện pháp nhằm khắc phục những tình trạng trên khơng thể

khơng đụng đến nhiều vấn đề của nho giáo vì ta khơng thể bào chữa được tính

bảo thủ của nó.Vì thế cẫn có những giải pháp khắc phục song tính tích cực



7



của nho giáo la khơng thể phủ nhận bởi những đóng góp của nó cho nền văn

hóa của nước ta những tác dụng tích cực mà chúng ta cần tiếp thu hiên nay là:

Kế thừa nho giáo trong việc coi trọng học thức tôn sư trọng đạo trong

dụng nhân tài

Và tính tích cực ở tình thần “ dấn thân” vào việc cải tạo xã hội, nếu tinh

thần “dấn thân” được phát huy trong “ phong trào đổi mới” hiện nay thì nó sẽ

có thể động viển trong lực lượng quần chúng, trong việc xây dựng chủ nghĩa

xã hội.



8



Chương II

NHỮNG ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA TƯ TƯỞNG NHO

GIÁO ĐỐI VỚI XÃ HỘI NƯỚC TA HIÊN NAY.

2.1. Tư tưởng địa vị đẳng cấp

Nước ta sau khi tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân

thắng lợi dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân ta đã từng bước tiến hành xây

dựng một nền dân chủ kiểu mới,nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đúng như lời

chỉ dạy của HCM: “ chúng ta đã hi sinh làm cách mệnh thì làm cho đến nơi

nghĩa là làm xong cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều chớ

để trong tay bọn ít người, thế dân chúng mới được hạnh phúc”.Tuy vậy chế độ

chuyên chế phương đông và nho giáo đã có một khoảng thời gian dài để hằn

sâu những ảnh hưởng của tư tưởng không dân chủ vào cách nghĩ, cách sống

tâm ly thói quen của người Việt Nam.

Một trong những ảnh hưởng đó phải kể đến địa vị đẳng cấp, gia trưởng

đối với người cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay.Xã hội bao giờ cũng đòi hỏi

một trật tự một hệ thống các vị trí cá nhân khác nhau xuất phát từ phân công

lao động xã hội và quan hệ xã hội. Một số cán bộ của ta hiện nay vẫn còn

những quan niệm quản lý không phải là một nghề mà là một địa vị,là cơ hội

điều kiện tốt để thoả mãn ham muốn quyền lực hay thu lợi bất chính, điều

quan trọng ở đây một số can bộ có quan niệm tự cho mình là người lãnh đạo

đứng trên tập thể quẩn chúng đối lập với quần chúng, trong mắt họ nhân dân

la những người “ Dân đen” bảo sao nghe vậy là đối tượng quản lý sai khiến...

đó là những biểu hiện xấu là tiền đề cho nạn tham nhũng, quan liêu...vấn đề

này HCM cũng đã từng phê phán: “ tin cậy thế mình ở ban này ban nọ,rồi

ngang tàn phóng túng,muốn sao được vậy, coi khinh dư luận không nghĩ đến

dân, quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy

thế với dân.”

Trong công cuộc đổi mời hiện nay cơ chế quản lý kinh tế hành chính

cũng như luật pháp của nhà nước ta vẫn còn thiếu sót vẫn còn tồn tại những

9



cơ hội nhất định để những người có tư tưởng cá nhân chủ nghĩa lợi dụng,làm

giàu bất chính tư tưởng địa vị đẳng cấp khơng những khơng mất đi mà còn có

chiều hướng gia tăng .

Ảnh hưởng tư tưởng địa vị đẳng cấp không chỉ ảnh hưởng đến thái độ

nhận thức hành động của những người cán bộ mà còn ảnh hưởng đến những

người dân.Nhiều năm xây dựng nền dân chủ XHCN về cơ bản người dân đã

nhận thức được quyền lợi và nghĩa vụ của mình tuy vậy một số bộ phận nhân

dân nhất là những người dân ở vùng nông thôn, vùng sâu xa mà mọi quan hệ

họ hàng làng xóm và các tập tục cũ vẩn còn chi phối cuộc sống hằng ngày vẫn

còn những tư tưởng an phận chấp nhận thực tại, không chịu sống theo pháp

luật không đấu trang để tự bảo vệ mình với cơng việc chung họ im lặng và lẩn

tránh khơng có tinh thần trách nhiệm xây dựng đây là một cơ hội để những tư

tưởng xấu lợi dụng.Như vậy tư tưởng địa vị đẳng cấp vẩn còn tồn tại khá phổ

biến ở xã hội nước ta mà chưa hề mất đi mà trái lai khi có thời cơ nó lại tiếp

tục tồn tại và co khi phát triển đây là điều rất đáng lo ngại vì nó khơng chỉ tác

động xấu đến nhận thức hành động của người cán bộ và nhân dân mà điều

quan trọng hơn nữa là ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước hiện nay

2.2. Tư tưởng trọng nam khinh nữ.

Nhà nước ta là nhà nước của dân do dân và vì dân tất cả mọi người dù

trẻ hay già nam hay nữ đều có quyền bình đẳng ai cũng có quyền được hưởng

tư do ấm no hạnh phúc, xong trong một số bộ phận nhỏ người dân trong xã hội

cũng còn những tư tưởng bất bình đẳng trọng nam khinh nữ, hiện nay ai cảm

nữ giới bao giờ cũng kém hơn nam giới mang cái gì đó rủi ro không may mắn.

Đây là một tư tưởng cổ hủ lạc hậu mà ảnh hưởng của nó trong cán bộ của nước

ta hiện nay vãn còn khá nhiều.

Trong các cuộc họp bàn hay bầu cử ,ứng cử những người nữ giới luôn

hạn chế số lượng hơn nam giới hay cho dù co nhiều bằng số lượng nhưng khả

năng giải quyết các công việc hệ trọng bao giờ cũng thuộc về nam giới là

phần nhiều. Xét trong cơ cấu bộ máy quản lý của nhà nước ta hiện nay số

lượng nữ giới chiếm giữ những vị trí lãnh đạo cao là rất ít và hạn chế.Điều đó

10



thể hiện ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng trọng nam khinh nữ đối với xã hội

nước ta là còn rất nhiều , đặc biệt là xét trong các mối quan hệ giữa những

người dân mà đặc biệt là những người dân ở nông thôn nơi mà trình độ thơng

tin khoa học sự phát triển của tri thức khoa học còn chậm thì tư tưởng này la

khá rỏ nét .Còn rất nhiều gia đình ở nơng thơn hiện nay hình ảnh của những

người phụ nữ chỉ mang ý nghĩa sinh nở và phục vụ gia đình mà khơng có vai

trò trong các cơng việc chính trị xã hội, trong gia đình người chồng người cha

thường quán xuyến chi phối tồn bộ những cơng việc của gia đình, người phụ

nữ chỉ biết nghe lời mà khơng được tham gia.Việc coi trọng con trai hơn con

gái đã ăn sâu vào tâm thức thói quen quả người dân là một trong những

nguyên nhân của việc sinh đẻ việc tăng dân số nhanh ở nước ta mà đặc biệt là

những vùng nơng thơn ít tiếp cận với tri thức nhân loại .đây là một ảnh hưởng

tiêu cực của tư tưởng nho giáo cần khắc phục nhằm đảm bảo cho sự phát triển

vững chắc của nước ta.

2.3. Tư tưởng phục cố và thân tộc.

Tư tưởng phục cố: Ngày nay ta đang trên đường quá độ đi lên chủ

nghĩa xã hội mục tiêu của chúng ta là xây dựng một nhà nước tiên tiến đậm đà

bản sắc dân tộc khoa học đại chúng, vừa kết hợp nét truyền thống tốt đẹp của

dân tộc vùa tiếp thu những tinh hoa của nhân loại nhưng bên cạnh việc tiếp

thu những cái hay cái đẹp chúng ta cũng cần gạt bỏ những cái lạc hậu ,lỗi thời

khơng còn phù hợp với xã hội nước ta hiên nay mà một trong những hạn chế

đó là tu tưởng “hiếu cổ”với ý nghĩa quá cao,cực đoan một chiều tư tưởng hiếu

cổ nếu khơng có điểm dừng đúng múc gieo vào lòng người “sự sùng cổ”, “lệ

cổ” khơng có cài nhìn đúng đắn và khái quát về truyền thống mà chỉ có cái

nhìn một chiều,xây dựng những nét cổ truyền thống của nước ta là một trong

những nhiệm vụ của Đảng và nhân dân ta nhưng trong quá trình đó chúng ta

phải có một cái nhìn đúng đắn phải khôi phục xây dựng nét truyền thống qua

“cái sàng lọc”của tầm nhìn chúng ta, biết gạt bỏ đi những yếu tố lạc hậu lỗi

thời mà xét trong xã hội ngày nay nó sẽ kìm hãm níu kéo cản trở rất lớn đối



11



với xã hội, kìm hãm sự phát triển sáng tạo của các lĩnh vực hoạt động của

nước ta.

Tư tưởng thân tộc: HCM vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta đã từng phê

phán những quan điểm và hành vi lệch lạc trong quan hệ gia đình người đã

nêu rõ tình trạng kéo bè kéo cánh đua bà con bạn hữu khơng có tài năng vào

chức này chức nọ mà quên mất rằng việc là công việc chứ không phải việc

riêng gì của dòng họ ai .Người căn dặn: “ Phải cân nhắc lụa chọn giữa gia

đình to và gia đình nhỏ.người cách mạng bao giời cũng cho gia đình to.Đến

CNXH hay CNCS gia đình chung đã có hạnh phúc vì vậy trong lúc cách

mạng đang còn gay go phải chọn cái lớn nếu phải chọn hi sinh gia đình nhỏ

cho gia đình lớn thì cũng phải làm.”

Do những ảnh hưởng của nho giáo hiện nay tư tưởng “ thân tộc”vẩn

đang tồn tại trong các tầng lớp xã hội Việt Nam mà đặc biệt la trong những

người cán bộ của đảng ta do nắm được quyền lãnh đạo đã sử dụng quyền đó

để đưa kéo họ hành thân tộc mình vào những chức vụ khác nhau trong cơ

quan mình làm hay dụa vào vị thế mà xin cho người thân vào những vị trí

khác nhau cho dù người đó có năng lực có bằng cấp hay khơng.Trên thực tế

việc giải quyết các vấn đề trong đời sống xã hội thường phụ thuộc vào tình

cảm cha con, mẹ con ,vợ chơng,anh em.... thói chiếu cố rộng rãi đến bà con

họ hàng như xin việc đề bạt ....... nhìn ngồi mối quan hệ này có vẻ ấm cúng

nhưng nó lại chứa nhiều mầm mống thiếu dân chủ mất đoàn kết bè phái và

nhiều hành vi tiêu cực khác. Quan niêm “ nhà trước, cước sau”, “ nhất con nhì

cháu thứ sáu mới đến người dưng” hầu như đã thành đạo lý khống chế tư duy

và hành động của bộ phận xã hội .Mà việc khắc phục những tư tưởng hạn chế

đó là một nhu cầu cấp thiết hiên nay.

2.4. Tư tưởng thần bí tơn giáo.

Nói đến tư tưởng thần bí tơn giáo trong nho giáo chúng ta đề cập đến

hai vấn đề cơ bản đó là tin vào “ mệnh trời” và việc tin vào thần thánh mê tín

dị đoan.



12



Trong nho giáo cho rằng trời không phải chỉ là thiên nhiên, khơng phải

là vơ hình, mà là trời có ý chí là thiên đế, có thể vơ hình hay hữu hình nhưng

trời là một lực lượng siêu nhân quy định trật tự xã hội và tự nhiên. Mệnh trời

là ý trí của trời khơng cưỡng lại được chỉ có đợi mà thơi.

Các nhà nho có thể có hoặc khơng nói về trời, nhưng ai cũng tin vào

mệnh, đã có mệnh thì hãy đợi mệnh, tuy vậy họ vẫn khuyến khích sự cố gắng

của bản thân phải ra sức làm điều lành điều tốt phải tự cường chứ khơng để

trơi còn làm đến đâu thành hay bại là do mệnh trời định sẵn như vậy ta có thể

nhận thấy tính tích cực của nho giáo trong vấn đề này cho đến ngày nay tư

tưởng đó còn ăn sâu vào khà nhiều người dân chúng ta, đặc biệt là những

người nơng dân ít tiếp cận với nền văn minh nhân loại tư tưởng này có thể

dẫn đến sự cam chịu, chấp nhận nhẫn nhục trước hồn cảnh từ bỏ đấu tranh dĩ

hòa vị q khơng có tinh thần vươn lên khả năng bị kìm hãm khơng phát triển

được tài năng,

Trong xã hội Việt Nam hiên nay tư tưởng lạc hậu tin vào thần thánh tà

ma cũng là một hạn chế rất lớn đối với quá trình phát triển của đất nước mà

một nguyên nhân của quan niêm tư tưởng lạc hậu ấy xuất phát từ tưởng của

nho giáo .

Khi nho giáo bàn vê vũ trụ quan đã nói vê linh hồn và việc thờ thân

thánh trong lịch sử nhiều nha nho đã đưa tư tưởng duy tâm huyền bí của phật

giáo vào tư tưởng của nho giáo và từ đó làm cho người dân ta tin vào một lực

lượng siêu nhiên nào đó có một sức mạnh huyền bí có thể làm thay đổi cuộc

sống của họ do đó đã dẫn đến việc thờ cúng thần thánh linh hồn tất nhiên khi

nói đến mê tín dị đoan chung ta nên phân biệt rõ mê tín và phong tục người

việt nam có phong tục thờ cúng tổ tiên đây là một phong tục truyền thống

mang nét đẹp văn hóa của người việt nam. Nhưng bên cạnh đó việc sùng bái

thần thánh, tin vào các linh hồn dẫn đến mù quáng làm ảnh hưởng đến đời

sống xã hội và phát triển kinh tế của đất nước đang là một vấn đề khá là bức

xúc của xã hội hiện nay .



13



Như vậy trước những vân đề tiêu cực lạc hậu của tư tưởng nho giáo

đang ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình xây dựng và phát triển của đất nước ,

ảnh hưởng đến mục tiên lý tưởng đi lên của CNXH của Đảng nhà nước và

nhân dân ta chúng ta cần sớm tìm ra những phương hướng giải pháp tích cực

tủ thể để nhanh chóng xóa bỏ những mặt tiêu cực và phát huy những mặt tích

cực của nho giáo nhằm phục vụ cho q trình xây dựng và đổi mới hiện nay ở

nước ta.



Chương III

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM KHẮC PHỤC NHỮNG

ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA TƯ TƯỞNG NHO GIÁO

ĐỐI VỚI XÃ HỘI NƯỚC TA HIỆN NAY .

Từ những mặt hạn chế của nho giáo mà đã nêu trên chung ta nhận thấy

sự cần thiết của việc tìm và đưa ra một số giải pháp nhằm gạt bỏ những tư

tưởng tiêu cực đó song tư tưởng nho giáo khoảng chiều dài thời gian tồn tại ỏ

việt nam đã ăn sâu vào ý thức hệ của con người việt nam để giải quyết những

mặt tiêu cực này không phải là vấn đê một sớm, một chiều mà phải tiến hành

tư tư lâu dài tất nhiên việc loại bỏ những tiêu cực của nho giáo đảng và nhà

nước ta cũng cần quan tấm đến vấn đề phát huy những mặt tích cực của nó

nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước .

3.1. Nắm vừng chủ nghĩa duy vật mác xít và tư tưởng HCM

Trước tiên chung ta muốn xóa bỏ những tiêu cực của nho giáo ta phải

có cái nhìn biện chứng khoa học với nho giáo khi nói đến hạn chế khơng có

nghĩa là nho giáo tất cả đều là tiêu cực mà chúng ta phải biết chọn lọc những

mặt tích cực của nho giáo.Biết đâu là tiêu cực là tích cực để giải quyết phù

hợp.Nhiệm vụ của cách mạng văn hóa là quét sạch những tàn dư của tư tưởng

nhưng chúng ta phải tỉnh táo tránh gạt bỏ những cái cũ một cách mù qng

điều đó đòi hỏi tiếp thu những thành tựu tinh hoa văn hóa của nhân loại và



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

IV. Kết cấu của đề tài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×