Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Quan niệm về đạo đức trong Nho giáo

Quan niệm về đạo đức trong Nho giáo

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trong Nho giáo rất chú trọng dạy đạo làm người. Phải nói đạo làm

người của Khổng Tử dạy là đạo làm người trong xã hội phong kiến. Chúng ta

đều biết trong xã hội có giai cấp thì những ngun tắc để đánh giá hành vi của

con người, phẩm hạnh của con người trong mối quan hệ với người khác và

trong mối quan hệ với nhà nước, Tổ quốc… đều mang tính giai cấp rõ rệt và

có tính chất lịch sử. Những quan niệm về đạo đức điều thiện, điều ác “thay

đổi rất nhiều từ dân tộc này tới dân tộc khác, từ thời đại này đến thời đại khác

đến nỗi thường thường trái ngược hẳn nhau” (Enghen).

Những quan niệm đạo đức mà Khổng Tử đề ra không phải là vĩnh cửu,

nhưng có nhiều phương châm xử thế, tiếp vật đã giúp ơng sống giữa bầy lang

sói mà vẫn giữ được tâm hồn cao thượng, nhân cách trong sáng. Duy đến

cùng đạo làm người ấy bao gồm 2 chữ nhân nghĩa.

Khổng Tử giảng chữ Nhân cho học trò khơng lúc nào giống lúc nào,

nhưng xét cho kỹ, cốt tuỷ của chữ Nhân là lòng thương người và cũng chính

là Khổng Tử nói “đối với người như đối với mình, khơng thi hành với người

những điều mà bản thân không muốn ai thi hành với mình cả. Hơn nữa, cái

mình muốn lập cho mình thì phải lập cho người, cái gì mình muốn đạt tới thì

cũng phải làm cho đạt tới, phải giúp cho người trở thành tốt hơn mà không

làm cho người xấu đi” (luận ngữ). “Nghĩa” là lẽ phải, đường hay, việc đúng.

Mạnh Tử nói “nhân là lòng người, nghĩa là đường đi của người” (Cáo Tử

Thượng); “Nhân là cáo nhà của người, nghĩa là đường đi ngay thẳng của

người” (Lâu Ly Thượng); “Ở với đạo nhân, nói theo đường nghĩa, tất cả mọi

việc của đại nhân là thế đó” (Tồn tâm thương).

Nghĩa thường đối lập với lợi. Theo lợi có khi khơng làm cái việc phải

làm nhưng trái lại, theo nghĩa có khi lại rất lợi. Có cái nghĩa đối với người

xung quanh có cái nghĩa đối với quốc gia xã hội.

Đến đời Hán Nho, Đổng Trọng Thư đưa nhân nghĩa vào ngũ thường.

Tam cương ngũ thường trở thành giềng mối trụ cột của lễ giáo phong kiến.

Sang Tống nho, hai chữ nhân nghĩa càng bị trừu tượng hoá. Các nhà Tống

12



nho căn cứ vào thuyết “thiện nhân hợp nhất” khoác cho hai chữ “nhân nghĩa”

một màu sắc thần lá siêu hình. Trời có “lý” người có “tính” bẩm thụ ở trời.

Đức của trời có 4 điều: nguyên, hạnh, lợi, trinh; đức của người có nhân,

nghĩa, lễ, trí. Bốn đức của người tương cảm với bốn đức của trời.

Hệ thống hố lại một cách tóm tắt hai chữ “nhân nghĩa” ở một số thời

điểm phát triển của Nho giáo như trên, ta có thể kết luận hai chữ “nhân nghĩa”

của Nho giáo là khái niệm thuộc phạm trù đạo lý, nội dung từng thời kì có

thêm bớt những căn bản vẫn là những lễ giáo phong kiến khơng ngồi mục

đích duy nhất là ràng buộc con người vào khn khổ pháp lý Nho giáo phục

vụ quyền lợi của giai cấp phong kiến. Trong quá trình phát triển càng ngày nó

càng bị trừu tượng hố trên quan điểm siêu hình.

Tuy nhiên quan niệm đạo đức của Nho giáo quả là có rất nhiều điểm

tích cực. Một trong những đặc điểm đó là đặt rõ vấn đề người quân tử, tức là

người lãnh đạo chính trị phải có đạo đức cao cả; dù nguyên tắc ấy không được

thực hiện trong thực tế nó vẫn là một điểm làm chỗ dựa cho những sĩ phu đấu

tranh. Nho giáo đã tạo ra cho kẻ sĩ một tinh thần trách nhiệm cao cả với xã

hội. Truyền thống hiếu học, truyền thống khí tiết của kẻ sĩ không thể bảo là di

sản của Nho giáo chỉ có tiêu cực.



PHẦN II:

13



KẾ THỪA TINH HOA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO ĐỂ XÂY DỰNG

ĐẠO ĐỨC MỚI Ở NƯỚC TA

I. Có thể kế thừa tinh hoa đạo đức Nho giáo

Chủ tịch Hồ Chí Minh có những nhận định có giá trị làm kim chỉ nam

cho chúng ta trong nghiên cứu Nho giáo và Khổng Tử. Xin chỉ nêu 3 luận

điểm quan trọng của Người.

Một là: “Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của

Khổng Tử có nhiều điều khơng đúng, song những điều hay trong đó thì chúng

ta nên học”(1).

Đúng là cần phải học những điều hay trong Nho giáo của Khổng Tử. Bởi

vì, như Lênin khuyên tuổi trẻ: Người ta chỉ có thể trở thành người cách mạng chân

chính khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri

thức mà nhân loại đã tạo ra, để lại.

Hai là: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo

đức cá nhân”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần đánh giá cao các quan điểm đạo đức của

Nho giáo. Với Khổng Tử, Người còn cho rằng đạo đức của ơng là hồn hảo.

Ba là: Hồ Chí Minh khuyên rằng: Người người Việt Nam “Chúng ta hãy tự

hồn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và

về mặt cách mạng thì cần đọc tác phẩm của Lênin”(3).

Chính Hồ Chí Minh đã thực hiện phương châm mà Người vạch ra cho

chúng ta. Trên lập trường của người mác – xít, Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển

tinh hoa đạo đức Nho giáo và nhiều nguồn đạo đức trong lành khác trong đời hoạt

động cách mạng phi thường của mình. Đạo đức Hồ Chí Minh trở thành biểu

tượng đạo đức đẹp nhất để dân tộc ta noi theo và loài người ngưỡng mộ.

II. Những phẩm chất Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng

(1)



Hồ Chí Minh: Tồn tập, tập 6. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr 46.

Hồ Chí Minh: Về vấn đề tơn giáo tín ngưỡng, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996, tr 252.

(3)

Hồ Chí Minh: Tồn tập, sđd, tập 2, tr 454.

(2)



14



Cái tiêu biểu, xuyên suốt trong học thuyết đạo đức của Khổng Tử là

Nhân Nghĩa. Nhân nghĩa đương nhiên là điều lồi người khơng nên bỏ. Song,

khơng chỉ có nhân nghĩa. Ở Nho giáo có mấy quan niệm đạo đức rất căn bản

mà nay không chỉ nhân dân, mà trước hết là những cán bộ, đảng viên cần phải

kế thừa, học tập. Các cán bộ, đảng viên có thể phấn đấu để trở thành những

hiền nhân, quân tử của đời nay với các đức tính Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng.

Trước hết, cần phải học và hành động theo Nhân Nghĩa. Nhân nghĩa là

tư tưởng luân lý chính trị căn bản của Nho giáo. Hàm nghĩa cơ bản của Nhân

là yêu người, chỉ yêu rộng rãi mọi người. Hàm nghĩa cơ bản của Nghĩa là

thích hợp, là nên, chỉ lễ tiết thích hợp. Khổng Đĩnh Đạt (504 – 648), bậc đại

gia kinh học thời Đường cho rằng: Nhân là làm ơn cho người khác, nghĩa là

quyết đoán hợp lẽ phải. Cái đạo để làm người là Nhân, là Nghĩa. Còn Mạnh

Tử (372 – 289 TCN) là người đại diện cho dòng đích chính thống của cửa

Khổng Tử nói rằng: “Giữ lòng nhân, đi theo nghĩa, cơng việc của đại nhân

thế là đầy đủ”(1).

Ngày nay, cán bộ, đảng viên có thể tiếp tục kế thừa tư tưởng nhân nghĩa

theo cách Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người cho rằng:

Nhân là thật thà thương u, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì

thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến

nhân dân. Vì thế mà sẵn lòng chịu khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau

thiên hạ. Vì thế, mà khơng ham giàu sang, khơng e cực khổ, không sợ oai

quyền. Những người đã không ham, khơng e, khơng sợ việc gì thì việc gì là

việc phải thì họ đều làm được.

Nghĩa là ngay thẳng, khơng có tâm tư, khơng làm việc bậy, khơng có

việc gì phải giấu Đảng. Ngồi lợi ích của Đảng, khơng có lợi ích riêng phải lo

toan. Lúc Đảng giao cho việc gì thì bất kỳ to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thẩn.

“Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Khơng sợ người ta phê bình,

mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn”(1).

(1)

(1)



Từ điển Nho, Phật, Đạo, NXB Văn học, 2001, tr 996.

Hồ Chí Minh: Tồn tập, tập 5, sđd, tr 252.



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Quan niệm về đạo đức trong Nho giáo

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×