Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I. MÔ TẢ TÌNH HUỐNG

I. MÔ TẢ TÌNH HUỐNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

TiĨu ln ci kho¸

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Văn H, trên thửa đất của

ông Nguyễn Văn A.

Năm 1999, anh Nguyễn Văn H làm nhà trên mảnh đất 500 m 2 mà ông

Nguyễn Văn A đã viết giấy chuyển nhượng theo thoả thuận, ngôi nhà của ông A

vẫn giữ nguyên, vợ chồng anh H ra ở riêng để thuận lợi trong sản xuất kinh

doanh.

Năm 2004, ông Nguyễn Văn A có ý định chuyển nhượng lại cho người

khác 200 m2 đất, để lấy tiền sửa chữa lại ngơi nhà cũ của mình, thì mâu thuẫn

giữa hai cha con nảy sinh. Lý do anh Nguyễn Văn H không cho ông A chuyển

nhượng đất và sửa chữa nhà ở, vì tồn bộ thửa đất đã được cơ quan Nhà nước có

thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh H. Hai cha con

ông A to tiếng với nhau, gây mất tình cảm cha con cũng như sự đồn kết trong

nội bộ gia đình, mâu thuẫn giữa hai cha con ngày càng căng thẳng.

Trước tình hình đó, để đảm bảo quyền lợi của mình, được sửa chữa ngôi

nhà mà cha mẹ để lại, ông Nguyễn Văn A đã làm đơn khiếu nại đến các cơ quan

có chức năng của huyện Q đề nghị kiểm tra, xác minh làm rõ theo nội dung trình

bày của ơng Nguyễn Văn A là: Năm 1997, ông A chỉ viết giấy chuyển nhượng

đất cho anh H diện tích 500 m 2, vì sao UBND huyện Q cấp cho anh H Giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất 960 m2, đúng bằng diện tích thửa đất của ông

được cha mẹ để lại.

2. Lý do xảy ra tranh chấp.

Qua thẩm tra, xác minh, tìm hiểu ban đầu, nguyên nhân sâu xa dẫn đến

tranh chấp đất đai giữa cha con ông Nguyễn Văn A là do anh Nguyễn Văn H

chưa nhận thức đầy đủ về Pháp luật, lợi dụng sự tín nhiệm của bố mẹ ni, làm

mất tình cảm cha con. Năm 1999, anh Nguyễn Văn H xây dựng nhà mới trên

mảnh đất 500 m2 mà ông A chuyển nhượng lại. Do điều kiện kinh tế chưa cho

phép, nhưng anh H quyết định xây nhà ở kết hợp làm nơi sản xuất hàng mộc thủ

công mỹ nghệ của HTX do anh H thành lập. Vì thiếu vốn để xây dựng, nên anh

4



TiĨu ln ci kho¸

H có hỏi mượn vợ chồng ông A số tiền tiết kiệm mà vợ chồng ơng để dành khi

về già, thì ơng Nguyễn Văn A khơng đồng ý. Từ đó, vợ chồng anh H ít quan tâm

đến vợ chồng ơng A. Theo như thoả thuận ban đầu giữa hai cha con ông A, vợ

chồng anh H có trách nhiệm chăm sóc vợ chồng ông A khi già yếu, sự việc càng

nghiêm trọng hơn khi ông A định chuyển nhượng 200 m 2 đất, để lấy tiền sửa

chữa lại căn nhà mà vợ chồng ơng A đang ở, thì anh H cản trở và tuyên bố: Toàn

bộ thửa đất 960 m2 Nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho

anh Nguyễn Văn H. Ơng A khơng có quyền gì trên thửa đất đó nữa…

Việc mâu thuẫn, tranh chấp đất đai giữa cha con ông Nguyễn Văn A đã

được các tổ chức, chính quyền và đồn thể xã V, thơn S tổ chức gặp gỡ hồ giải

nhiều lần nhưng khơng thành. Từ đó, việc tranh chấp đất đai giữa cha con ông A

ngày càng nghiêm trọng, dẫn đến việc ông Nguyễn Văn A làm đơn khiếu nại đề

nghị các cơ quan thẩm quyền giải quyết. Đơn khiếu nại ghi ngày 20/02/2005,

Chủ tịch UBND huyện nhận được ngày 30/02/2005.

II. MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG.



Từ sự việc trên đã đặt ra một số mục tiêu cơ bản cho việc giải quyết ở góc

độ quản lý hành chính Nhà nước như sau:

- Mục tiêu hàng đầu cho việc xử lý tình huống này: Là việc giải quyết

tranh chấp đất đai một cách nhanh chóng, chính xác, đúng Pháp luật, khơng gây

mất tình cảm cha con trong gia đình và khơng làm rắc rối tình hình trong khu

vực.

- Thứ hai: Phải khắc phục được tình trạng tranh chấp quyền sử dụng đất

trong tình hình hiện nay, nhằm đảm bảo tăng cường pháp chế XHCN trong lĩnh

vực quản lý và sử dụng đất đai, củng cố niềm tin của nhân dân đối với chính

quyền các cấp.



5



TiĨu ln ci kho¸

- Thứ ba: Phải bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của cơng dân, mà

trực tiếp là bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cha con ông Nguyễn Văn A,

tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành Pháp luật.

- Thứ tư: Phải giữ vững truyền thống đạo đức của dân tộc, xây dựng nếp

sống văn hố mới, nêu cao tinh thần đồn kết, đùm bọc thương yêu nhau trong

gia đình cũng như trong toàn xã hội.

III. NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA TÌNH HUỐNG.



1. Ngun nhân.

Q trình diễn ra tranh chấp đất đai, giữa cha con ông Nguyễn Văn A do nhiều

nguyên nhân, trong đó có thể nêu lên một số nguyên nhân chủ yếu sau:

- Thứ nhất: Do nhận thức và ý thức chấp hành Pháp luật của anh Nguyễn

Văn H, từ sự ít hiểu biết về Pháp luật đất đai, nên anh H đã lợi dụng sự tín

nhiệm của bố mẹ nuôi; Do sự thiếu hiểu biết về Luật đất đai của vợ chồng ông

Nguyễn Văn A, sau khi viết Giấy chuyển nhượng đất và làm thủ tục giao quyền

sử dụng đất cho con, không lấy lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của

mình, nên khơng biết được việc làm sai trái của con mình để kịp thời xử lý; Việc

làm thiếu trách nhiệm của cán bộ, công chức các cấp trong thi hành công vụ, đã

làm thủ tục chuyển nhượng đất cho anh H mà chưa xem xét đến những người có

quyền và lợi ích liên quan, khơng thực hiện đầy đủ quy trình chuyển nhượng

quyền sử dụng đất mà pháp luật đã quy định.

- Thứ hai: Do cơng tác quản lý đất đai của các cấp chính quyền, các ngành

chức năng còn bng lõng, thiếu chặt chẽ và cương quyết, nên đã để xảy ra tình

trạng tranh chấp đất đai nêu trên.

-Thứ ba: Do mâu thuẫn gia đình ngày càng nghiêm trọng, căng thẳng, gay

gắt khơng thể tự giải quyết được; cơng tác hòa giải ở thơn S, xã V kém hiệu quả.

2. Hậu quả tình huống có thể xảy ra.



6



TiĨu ln ci kho¸

Do cán bộ, cơng chức khơng làm tròn trách nhiệm của mình trong việc

làm thủ tục chuyển nhượng đất đai, giữa cha con ông Nguyễn Văn A; anh

Nguyễn Văn H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 960 m 2, hồn tồn

khơng đúng các quy định của Pháp luật về đất đai, dẫn đến tranh chấp; làm mất

uy tín của các cơ quan quản lý Nhà nước, giảm sút lòng tin của nhân dân đối với

các cấp chính quyền, làm suy giảm tính pháp lý của Pháp luật XHCN, kỷ cương

phép nước khơng được thực hiện nghiêm túc. Những hộ gia đình khác cũng có

thể làm được như vậy, nếu sự việc tại gia đình ơng Nguyễn Văn A khơng được

giải quyết dứt điểm có tình, có lý đúng Pháp luật.

Nếu lấy lý do, Nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho

mình mà vợ chồng anh Nguyễn Văn H không cho bố mẹ nuôi chuyển nhượng

đất và sửa chữa nhà ở. Việc làm đó là trái với đạo lý làm con, không đúng với

lương tâm trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ, làm ảnh hưởng không tốt đến

tâm lý chung của xã hội.

Một khi sự việc tranh chấp đất đai, giữa cha con ông Nguyễn Văn A

khơng được giải quyết dứt điểm theo hướng “thấu tình, đạt lý”. Thì việc khiếu

nại sẽ kéo dài, làm ảnh hưởng đến cuộc sống chung của những người liên quan,

của gia đình cha con ơng A và gây mất ổn định tình hình an ninh – trật tự xã hội

trên địa bàn khu dân cư.

IV. XÂY DỰNG, PHÂN TÍCH VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT

TÌNH HUỐNG.



1. Xây dựng, phân tích phương án.

Từ tình huống trên, để giải quyết vụ việc theo đúng mục tiêu đặt ra, có thể

nêu lên 03 phương án giải quyết sau đây:

a. Phương án thứ nhất: Hoà giải.

Căn cứ vào Điều 135 Luật đất đai năm 2003 quy định về việc hòa giải

tranh chấp đất đai thì Nhà nước ta khuyến khích thực hiện cơng tác hòa giải để



7



TiĨu ln ci kho¸

giải quyết tranh chấp đất đai giữa các hộ dân, giữa các cá nhân trong hộ gia

đình… Trong vụ việc này, ngun nhân chính là do mâu thuẫn trong nội bộ gia

đình khơng được giải quyết êm thấm nên đã xay ra tranh chấp. Khi gia đình hồ

thuận, đùm bọc u q lẫn nhau, nếu được sự quan tâm của cấp uỷ, chính

quyền và các đồn thể thơn, xã làm tốt cơng tác hòa giải, giáo dục giải thích,

thuyết phục những việc đúng, sai, những điều hay, lẽ phải thì chúng ta cũng có

thể áp dụng phương pháp hòa giải.

Việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa cha con ông Nguyễn Văn A theo

phương án hòa giải có những ưu điểm sau:

Về ưu điểm: Tạo được tình đồn kết cha con, đùm bọc u thương lẫn

nhau, tơn trọng nhau trong gia đình và cùng nhau xây dựng: “gia đình văn hố”.

Qua phân tích việc tranh chấp đất đai và mâu thuẫn giữa cha con ông Nguyễn

Văn A, chỉ ra những việc làm đúng, sai của từng người, giúp các thành viên

trong gia đình nhìn nhận thấu đáo những hành vi sai trái của mình và hiểu rõ

nhau hơn để cùng chia sẽ và thông cảm cho nhau.

Về khuyết điểm: Nếu áp dụng phương pháp hòa giải này thì việc giải

quyết tranh chấp đất đai giữa cha con ông Nguyễn Văn A, chỉ dừng lại ở mức độ

tự giải quyết trong nội bộ gia đình. Quyền sử dụng đất của các thành viên trong

nội bộ gia đình chưa được phân định một cách rõ ràng, đúng Pháp luật, chưa

được các cơ quan có thẩm quyền thừa nhận. Việc tranh chấp đất đai có thể tiếp

tục diễn ra nếu giải quyết tranh chấp không dứt điểm, mâu thuẫn gia đình có thể

tái diễn lại.

Đối với tình huống này, việc áp dụng phương án hòa giải là khơng có tính

khả thi vì mâu thuẫn gia đình giữa cha con ông Nguyễn Văn A đã khá nghiêm

trọng và tranh chấp đất đai có thể lại tiếp diễn.

b. Phương án thứ hai: Gửi nguyên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

mang tên Nguyễn Văn H.



8



TiĨu ln ci kho¸

Trong thời điểm anh Nguyễn Văn H đi làm thủ tục chuyển nhượng đất,

ông A không hay biết việc anh H đã thay giấy chuyển nhượng mà ông đã viết.

Từ khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất, vợ chồng anh H luôn làm tròn nghĩa vụ sử dụng đất đối với

Nhà nước, vợ chồng anh H cũng là thành viên trong gia đình ông A nên vợ

chồng anh H được quyền sử dụng đất.

Việc giải quyết tình huống này, theo phương án gửi nguyên Giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất mang tên anh H thì có những ưu, khuyết điểm sau:

Về ưu điểm:

Vợ chồng anh Nguyễn Văn H được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên tồn bộ diện tích 960 m2.

- Ổn định cuộc sống gia đình anh Nguyễn Văn H để phát triển sản xuất.

- Không gây xáo trộn về việc hoạch định kế hoạch sản xuất của vợ chồng

anh H.

- Sâu xa hơn, nếu là hai cha con được hòa giải thấu tình, đạt lý. Người con

hiểu ra lỗi của mình và ln làm tròn trách nhiệm bằng đạo đức, lương tâm,

cũng như ý thức rõ được những hành vi của người con mà pháp luật đã quy

định. Trong gia đình ln không để xảy ra những mâu thuẫn tương tự đẩy đến

giải quyết bằng những quyết định hành chính hay tại cơ quan tòa án.

- Về khuyết điểm:

Nếu giữ nguyên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn

Văn H, thì ơng Nguyễn Văn A khơng có quyền chuyển nhượng đất, muốn sửa

chữa lại nhà ở của mình ơng A phải xin ý kiến của anh H, chỉ được sửa chữa lại

nhà ở của mình khi được sự đồng ý của anh H, người có quyền sử dụng đất hợp

pháp.



9



TiĨu ln ci kho¸

Các quyền và lợi ích hợp pháp của ông A bị xâm phạm; thiệt hại về kinh

tế nếu ông A không chuyển nhượng được 200 m2 đất, ở trong tổng số 960m2 đất

mà ông là chủ sở hữu hợp pháp. Ơng sẽ khơng có được điều kiện và vật chất

(tiền bạc) để tu sửa lại nhà cửa của mình.

Những cơng dân khác sẽ bắt chước sự việc này, tạo nên mâu thuẫn trong

gia đình, cũng như dư luận xã hội, con cái lợi dụng sự tín nhiệm của cha mẹ, để

dành quyền sử dụng đất, buộc cha mẹ phải xin ý kiến của mình, khi quyết định

một vấn đề liên quan đến đất đai mà đáng ra là quyền của cha mẹ.

Như vậy, căn cứ vào tính chất của tình huống, nếu giữ nguyên Giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Nguyễn Văn H, thì khơng có tính khả thi

vì phương án này chưa giải quyết được mục tiêu đã đặt ra là ông Nguyễn Văn A

phải có quyền sử dụng đất. Mặt khác, phương án này khuyết điểm nhiều hơn ưu

điểm, luôn tiềm ẩn làm nảy sinh việc tái khiếu kiện.

c. Phương án thứ ba: Chia tách quyền sử dụng đất.

Theo Điều 136 Luật đất đai quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp

đất đai, Điều 138 Luật đất đai quy định giải quyết khiếu nại về đất đai thì khi

nhận được đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn A thuộc thẩm quyền giải quyết

của Chủ tịch UBND huyện Q; các ngành chức năng tham mưu cho Chủ tịch

UBND huyện ra Quyết định thụ lý giải quyết.

- Thu hồi quyết định giao quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Văn H trái

quy định, và thực hiện việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông

Nguyễn Văn A và anh Nguyễn Văn H, theo đúng luật đất đai hiện hành.

Việc giải quyết tình huống này theo phương án chia tách quyền sử dụng

đất quay lại theo trình tự ban đầu, xuất phát từ việc ông Nguyễn Văn A ghi Giấy

chuyển nhượng cho con là Nguyễn Văn H. 500 m2 (có Giấy chuyển nhượng) thì

có những ưu, khuyết điểm sau:

Về ưu điểm:

10



TiĨu ln ci kho¸

Bảo vệ được quyền lợi cho cơng dân, cụ thể là ơng Nguyễn Văn A có

được quyền sử dụng đất, đảm bảo tính thống nhất của Pháp luật, tăng cường

Pháp chế XHCN, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực

quản lý và sử dụng đất đai, giải quyết nhanh chóng, dứt khốt các hậu quả của

vụ khiếu nại, khơng làm rắc rối thêm tình hình khu vực, tạo được niềm tin của

nhân dân đối với các cấp chính quyền trong việc giải quyết khiếu nại, cũng như

trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai, qua đó giáo dục ý thức Pháp luật cho

công dân.

Tạo cơ sở thuận lợi về mặt pháp lý, tâm lý xã hội để hạn chế những việc

làm sai trái về đạo đức, lối sống nhằm làm giảm những quan hệ phát sinh gây

rắc rối cho người ra quyết định và người thi hành.

Giải quyết được mâu thuẫn trong gia đình, bảo vệ được quyền lợi chính

đáng của cơng dân, phù hợp với truyền thống đạo đức, phong tục tập quán và

thực tế cuộc sống ở trong khu vực này.

Về khuyết điểm:

Có thể vợ chồng ơng Nguyễn Văn A, anh Nguyễn Văn H không đồng ý

với lý do sau:

- Ông Nguyễn Văn A yêu cầu trả lại quyền sử dụng đất 960 m 2 không

chuyển nhượng, “cho” người con 500m2 như trước đây vì đất này được “cha,

ơng” để lại, mà đứa con nuôi “bất hiếu” đã gây nên những mâu thuẫn, xung khắc

trong gia đình, ơng muốn tồn quyền quyết định việc sử dụng đất của ông. Và

ông sẵn sàng đền bù giá trị trên đất và những thiệt hại khác của người con gây

dựng.

- Anh Nguyễn Văn H, không đồng ý bởi lập luận trước đây anh được

chuyển nhượng 500 m2, nay thực hiện chia tách sẽ làm ảnh hưởng đến cơ sở sản

xuất, kế hoạch sản xuất, một số hoạch định sản xuất kinh doanh bị đình trệ, làm

đảo lộn cuộc sống gia đình và những người lao động đã gắn bó với Hợp tác xã



11



TiĨu luËn cuèi kho¸

của anh… (thực hiện chia tách hộ, đất thì quyền lợi của anh Nguyễn Văn H sẽ ít

đi hơn vì trong nhà còn Bố, Mẹ, đất ở 200 m 2 sẽ lại thuộc về quyền sử dụng của

Bố, Mẹ!!)

Nếu như chấp nhận việc chia tách theo như xuất phát điểm ban đầu

(chuyển nhượng 500 m2) thì thuận lợi nhất, mọi người sẽ cảm thơng nhau hơn,

có trách nhiệm và ý thức pháp luật hơn. Còn chia tách theo quyền quy định thì

quan hệ cha con được tuân theo pháp luật, có hạn chế hơn trong quan hệ đạo đức

truyền thống.



12



TiĨu ln ci kho¸

2. Lựa chọn phương án.

Như đã trình bày ở trên, nguyên nhân việc tranh chấp đất đai giữa cha con

ông Nguyễn Văn A là do anh H lợi dụng sự tín nhiệm của cha mẹ ni, đã làm

thủ tục chuyển nhượng sai sự thật làm cho ông Nguyễn Văn A từ người có

quyền sử dụng đất trở thành người khơng có quyền sử dụng đất. Qua phân tích

ba phương án, ta thấy phương án thứ ba là phương án có tính khả thi nhất, có

nhiều ưu điểm nhất, giải quyết tốt mục tiêu đã đặt ra, giải quyết được quyền lợi

của công dân; tạo điều kiện thuận lợi trong việc thi hành Pháp luật. Chấm dứt

được tranh chấp, khiếu nại kéo dài, đem lại sự đoàn kết, hồ thuận trong gia

đình theo pháp luật quy định, hạn chế được những quan hệ phát sinh cho người

Quyết định và người thi hành. Nên cần chọn phương án ba là phương án để giải

quyết tình huống này và lập kế hoạch tổ chức thực hiện phương án đã chọn.

Sơ đồ hiện trạng đất đang có tranh chấp như sau:

Đường liên thôn

25m



Nhà ông A



Nhà anh H



18,4m



20m

38,4m



I. TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN ĐÃ LỰA CHỌN.



Căn cứ vào luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 (sửa đổi năm 2004) chúng ta

tổ chức thực hiện phương án như sau:

1. Các bước tiến hành.

Chủ tịch UBND huyện Q ra Quyết định thụ lý giải quyết đơn khiếu nại

của ông Nguyễn Văn A và thành lập đoàn thanh tra giải quyết khiếu nại và giao

trách nhiệm cho Chánh thanh tra huyện làm trưởng đồn, một số thành viên có

13



TiĨu ln ci kho¸

nghiệp vụ về quản lý đất đai, nghiệp vụ thanh tra. (Trưởng đồn thanh tra có thể

là Phó Chánh thanh tra, thanh tra viên hay thủ trưởng đơn vị quản lý về đất đai)

phối hợp với phòng Nơng nghiệp - Địa chính và các phòng ban liên quan thẩm

tra, xác minh, kết luận, kiến nghị giúp Chủ tịch UBND huyện giải quyết đơn

khiếu nại trên theo đúng Pháp luật (có thể khơng thành lập đồn nếu xét thấy sự

việc khơng phức tạp).

- Thực hiện Quyết định của Chủ tịch UBND huyện, Chánh Thanh tra

huyện - Trưởng đoàn thanh tra bàn bạc, thống nhất với các phòng, ban liên quan

tiến hành thẩm tra, xác minh kết luận, kiến nghị các vấn đề theo đơn khiếu nại.

- Chánh Thanh tra huyện – Trưởng đoàn lập chương trình, kế hoạch thẩm

tra, xác minh trình Chủ tịch UBND huyện phê duyệt và tổ chức họp đoàn thanh

tra bàn thực hiện chương trình kế hoạch, thực hiện quyết định của Chủ tịch

UBND huyện Q.

- Chủ tịch UBND huyện gửi thông báo cho đối tượng khiếu nại biết.

- Trưởng đồn thanh tra cơng bố quyết định thụ lý giải quyết khiếu nại với

đối tượng khiếu nại và người bị khiếu nại, các thành phần liên quan, UBND xã

và tiến hành thẩm tra xác minh theo chương trình kế hoạch mà đoàn thanh tra

đặt ra.

- Trưởng đoàn thanh tra báo cáo kết quả thanh tra cho Chủ tịch UBND

huyện Q bằng văn bản (có thể báo cáo trực tiếp trước khi có văn bản chính

thức).

- Chủ tịch UBND huyện kết luận về giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn

Văn A.

- Chủ tịch UBND huyện xem xét các yếu tố pháp lý như đã nêu ở trên và

báo cáo kết quả của trưởng đoàn thanh tra, kết luận thanh tra để ban hành quyết

định giải quyết đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn A. Trong đó có nội dung thu

hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh H và giao trách nhiệm cho các

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. MÔ TẢ TÌNH HUỐNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×