Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VIỆT NAM HIỆN NAY

VIỆT NAM HIỆN NAY

Tải bản đầy đủ - 0trang

trình tích tụ và tập trung vốn.. Tính chung tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực

hiện cả giai đoạn 1996 - 2000 thì cả nước đạt 394,1 ngàn tỷ đồng, tăng 66,7% so với

giai đoạn 1991 - 1995. Tỷ trọng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 1996-2000

chiếm trong GDP bình quân là 28,6% năm. Tích luỹ nội bộ của nền kinh tế từ mức

không đáng kể đã tăng lên 25%GDP. Trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay : năm

2001- 2006 chiếm 28,2% so với tỷ lệ đóng góp của vốn đầu tư là 52,7% năm 2007 tốc

độ tăng trưởng tín dụng là 53,9%, gấp 3,1 lần tốc độ tăng GDP theo giá thực tế; năm

2008 tăng 39,6%, gấp 3,3 lần, năm 2009 tăng 34,8%, năm 2010 tăng 37 ,5%, năm

2011- 2017 chiếm nguồn vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 15.524 tỷ đồng; trong đó vốn

đầu tư trực tiếp nước ngồi ước thực hiện 1.150 tỷ đồng.

Trong các nguồn vốn cấu thành nên tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã

hội, nguồn vốn Nhà nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất. Trong khi đó thì nguồn

vốn ngồi Quốc doanh qua các năm 1996-2000 lại có chiều hướng Vốn đầu tư toàn xã

hội ngày càng giảm sút, mặc dù năm 2000 có tăng hơn 1999 nhưng vẫn ở mức thấp so

với năm 1995. Trong tổng số vốn đầu tư ngoài quốc doanh thì vốn trong nước ước tính

đạt 674,8 nghìn tỷ đồng, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32,8% GDP

tính đến năm 2017, dân cư chiếm tỷ trọng lớn, trên 80%, còn vốn của các doanh

nghiệp ngoài quốc doanh chỉ chiếm dưới 20%. cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội

phân theo ngành kinh tế cũng đã có những chuyển biến theo chiều hướng tích cực. Tuy

nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vấn đề huy động và sử dụng vốn trong nước

hiện nay đang bộc lộ những yếu kém cần khắc phục. Ngân sách nhà nước ln ở trong

tình trạng căng thẳng, khơng thể đáp ứng đủ các yêu cầu cho đầu tư phát triển và các

yêu cầu cấp bách về xã hội. Đầu tư của nhà nước bị phân tán do phải đáp ứng quá

nhiều nhiệm vụ. Các nguồn thu từ đất đai, nhà ở, các loại dịch vụ cơng ích như: viện

phí, phí cung cấp điện, nước,... còn để thất thốt và lãng phí lớn. Đóng góp của nhân

dân để xây dựng mới và cải tạo trường học, trạm xá, giao thơng địa phương,...vào sự

nghiệp Văn hố - Giáo dục - Y tế,... chưa được thể chế hoá, sử dụng và quản lý kém

hiệu quả, bất hợp lý, bị lạm dụng và thất thốt. Số vốn huy động được thơng qua hệ

thống tín dụng chủ yếu là ngắn hạn, khơng đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển và

chuyển đổi cơ cấu sản xuất. Vốn đầu tư trực tiếp của khu vực kinh tế tư nhân trong

nước vẫn ở quy mô nhỏ, tập trung chủ yếu (80%) vào các lĩnh vực: thương mại, dịch

vụ phục vụ tiêu dùng. Một bộ phận không nhỏ vốn trong nước đã huy động vào hệ

10



thống Ngân Hàng Thương Mại đang bị ứ đọng, không chuyển thành đầu tư được. Theo

ý kiến dự báo khác nhau, khoảng 50 - 70 nghìn tỷ đồng tiền tiết kiệm của nhân dân

đang được cất trữ dưới dạng vàng, bạc, tiền mặt, ngoại tệ, tài sản có giá trị cao... chưa

chuyển thành vốn đầu tư và kinh doanh.

2.2. Vận dụng tích lũy tư bản vào xây dựng nền kinh tế Việt nam hiện nay

2.2.1. Quá trình mở rộng sản xuất ở Việt Nam hiện nay

Trước đổi mới, mơ hình kinh tế hiện vật, phủ nhận sản xuất hàng hóa và kinh tế

thị trường với cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp đã làm triệt

tiêu động lực của người lao động, kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển, dẫn đến sự

trì trệ về kinh tế và khủng hoảng về mọi mặt đời sống xã hội. Bởi vậy, đổi mới mơ

hình là điểm mấu chốt trong đổi mới quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất ở Việt Nam.

Trong thời gian qua, với xu thế tồn cầu hóa, sự chuyển giao và hội nhập quốc

tế về khoa học, công nghệ đã khiến nền kinh tế nước ta phát triển mạnh mẽ. Những

công cụ lao động giản đơn mang tính chất tiểu thủ cơng nghiệp đã được thay thế bằng

những dây chuyền máy móc thiết bị tối tân, hiện đại. Sức lao động của con người được

giải phóng, lao động chân tay dần được thay thế bởi lao động trí óc, lao động giản đơn

dần được thay thế bằng sự chun mơn hóa ngày càng cao. Những sự thay đổi lớn lao

của công cụ sản xuất đã làm cho năng suất lao động tăng vượt bậc, khi lượng sản phẩm

làm ra ngày càng nhiều và có chất lượng cao. Nhờ q trình tích lũy vốn thay thế các

quá trình sản xuất nhỏ lẻ thành quá trình sản xuất lớn hơn với quy trình cơng nghệ phù

hợp với nền kinh tế thị trường.

Như ở nước ta nơng nhiệp đóng vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế, cho

nên việc mở rộng sản xuất nông nghiệp là cần thiết. Nhờ q trình tích lũy vốn nên

trong nông nhiệp đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể thơng qua việc đầu tư máy móc

thiết bị, nâng cao trình độ cho người nơng dân, mở các buổi hội thảo dưới sự hướng

dẫn của người nước ngoài. Nhiều nơi việc làm nơng khơng còn làm bằng thủ cơng mà

đã chuyển sang dây chuyền với quy mơ khép kín và đã đạt được nhiều thành tựu đáng

kể.

Từ đó nơng nghiệp đã đạt đước những thành tựu kim ngạch xuất khẩu các mặt

hàng nông – lâm – thủy sản sẽ đạt 15 tỷ USD tốc độ tăng trưởng nông nghiệp 4,0% lên

4,5%/năm, GDP nông nghiệp tăng tõ 3,3% đến 3,5%/năm, tốc độ tăng trưởng kinh tế

nông thôn đạt 7,8-8%/năm.

11



2.2.2. Sự hình thành các tập đồn kinh tế ở Việt Nam.

Việc xây dựng tập đoàn kinh tế là chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm đưa

nền kinh tế phát triển và hội nhập với kinh tế thế giới. Đảng và nhà nước cũng đã xác

định rõ một số lĩnh vực trọng điểm cần phải hình thành tập đồn kinh tế.

Trong hầu hết các chính sách phát triển kinh tế của mình, Nhà nước đều thể

hiện quan điểm hình thành các tập đoàn kinh tế mũi nhọn và đủ sức cạnh tranh trên thị

trường quốc tế. Theo đó một số tổng công ty nhà nước trong một số lĩnh vực mũi nhọn

sẽ được chuyển đổi thành các tập đoàn kinh tế. Trên thực tế trong năm 2006 và đầu

năm 2007, tám tập đoàn kinh tế quốc gia trong các lĩnh vực mũi nhọn như Bưu chínhViễn thơng, Than-Khống sản, Dầu khí, Điện lực, Công nghiệp tàu thuỷ, Dệt may, Cao

su, Tài chính-Bảo hiểm đã được thành lập. Đây là những tổng cơng ty có quy mơ lớn

mạng lưới thành viên có quan hệ mật thiết, liên doanhvà hợp tác với nhiều đối tác.

Tuy nhiên trong quá trình thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước đã xuất hiện sự lúng

túng trong giải quyết các vấn đề cụ thể khi xây dựng đề án. Tuy nhiên trong quá trình

thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước đã xuất hiện sự lúng túng trong giải quyết các

vấn đề cụ thể khi xây dựng đề án. Các vấn đề nảy sinh đó là mối quan hệ và liên kết

giữa các đơn vị trong tập đoàn, cơ chế thực hiện liên kết, cơ cấu tổ chức bộ máy quản

lý (thành phần, quyền, trách nhiệm và mối quan hệ giữa các bộ phân quản lý trong bộ

máy của tập đoàn), thương hiệu của tập đồn, quy mơ, vốn điều lệ và các vấn đề khác

để xác lập tập đoàn. Ngay như địa vị pháp lý của tập đồn vẫn còn những ý kiến khác

nhau như tập đồn có hay khơng có tư cách pháp nhân, đăng ký hay khơng đăng ký, có

hay khơng có bộ máyquản lý riêng. Như vậy, trong những năm vừa qua vẫn còn rất

nhiều những quan điểm khác nhau về ngun tắc hình thành tập đồn kinh tế trên cơ

sở Tổng công ty nhà nước. Về vốn mà các tập đoàn sử dụng là Tám tập đoàn kinh tế

cùng với 96 tổng công ty, công ty lớn của Nhà nước sở hữu gần 400.000 tỷ đồng,

chiếm hầu hết vốn của Nhà nước có tại các doanh nghiệp nhà nước. Các tập đồn và

tổng cơng ty đang nắm giữ 75% tài sản cố định của quốc gia, khoảng 60% tổng tín

dụng ngân hàng trong nước và tổng vốn vay nước ngoài nhưng chỉ tạo ra khoảng 40%

tổng sản phẩm trong nước tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của các đơn vị này là

17%, 28,8% thu ngân sách. Tính đến cuối năm 2007, tổng số vốn chủ sở hữu của các

tập đồn và tổng cơng ty đã tăng 18%, tổng tài sản tăng 26%. Bên canh những tập

đoàn kinh tế lớn nhà nước còn có các tập đồn kinh tế tư nhân như FPT, Đồng Tâm,

12



Kinh Đơ, Hòa Phát, Hoàng Anh Gia Lai, Vincom, Trung Nguyên,… Các tập đoàn này

đều có vốn góp, cổ phần chi phối lẫn nhau ở các công ty con, công ty liên kết, ngân

hàng, đối tác chiến lược trong và ngoài nước với hàng ngàn cổ đơng. Các tập đồn

kinh tế tư nhân cũng góp phần làm thúc đẫy nền kinh tế phát triển và làm tăng %GDP

quốc doanh của Việt Nam

2.2.3. Sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội

Phân hóa giàu nghèo ở nước ta ngày càng nghiêm trọng và ai cũng nhận ra qua

thực tế cuộc sống hàng ngày. Ở Việt Nam, sự phân hóa giàu nghèo diễn ra ngay từ thời

kỳ quản lý kinh tế - xã hội theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp. Tuy nhiên, lúc đó

sự chênh lệch giàu nghèo, phân hóa thu nhập và những biểu hiện của phân tầng xã hội

chưa rạch ròi, rõ nét, bị che khuất bởi chủ nghĩa bình quân và chế độ công hữu với cơ

cấu giai cấp “hai giai một tầng”(giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nơng dân và

tầng lớp trí thức). Chỉ từ sau khi đất nước bước vào cơng cuộc đổi mới tồn diện

(1986), xóa bỏ cơ chế quản lý cũ, thực hiện phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ

chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì sự chênh lệch giàu nghèo, phân tầng

xã hội mới bộc lộ một cách rõ ràng và ngày càng trở nên sâu sắc. Lúc này đã xuất hiện

những cơng trình nghiên cứu về cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội nhằm cung cấp

những căn cứ lý luận và thực tiễn giúp Đảng và nhà nước kịp thời đưa ra những định

hướng chiến lược và những chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với thời kỳ

chuyển đổi cơ chế và mơ hình quản lý phát triển đất nước

Cách đây 20 năm, khi vừa mới thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế, Việt

Nam có quá nửa tổng số hộ dân sống dưới mức nghèo khổ, nay thì cả nước chỉ còn

khoảng 10% tổng số hộ nghèo và hầu như khơng còn hộ đói. Cũng cách đây 20 năm,

có đến 2/3 tổng số hộ ở khu vực nông thôn sống ở mức nghèo khổ và cũng có một tỷ lệ

khơng nhỏ số hộ còn bị đói, giờ thì tỷ lệ này đã giảm khá nhanh. Tuy đạt được những

kết quả tích cực, nhưng tỷ lệ nghèo và quy mơ số người nghèo ở Việt Nam còn lớn.

Việc phân bố số người nghèo không chỉ chênh lệch ở tỷ lệ cao thấp qua các vùng, mà

còn ở quy mơ số người tuyệt đối. Theo số liệu thống kê của nhà nước, vùng Đồng

bằng sơng Hồng có khoảng 1,23 triệu người, vùng trung du và miền núi phía Bắc có

2,76 triệu người, vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung có 3,21 triệu người,

vùng Tây Nguyên có khoảng trên 1 triệu người, Đơng Nam bộ có gần 213.000 người

và vùng Đồng bằng sơng Cửu Long có trên 1,84 triệu người. với một đất nước liên tục

13



phải gánh chịu thiên tai như Việt Nam thì ranh giới giữa mức cận nghèo và nghèo là

rất mong manh nên nguy cơ số hộ nghèo tăng lên rất dễ xảy ra. Thực tế trên cho thấy,

bất bình đẳng trong thu nhập ở nước ta ngày càng rõ nét và gay gắt hơn, tỷ lệ hộ nghèo

tập trung chủ yếu ở những vùng khó khăn, có nhiều yếu tố bất lợi như điều kiện tự

nhiên khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng kém, trình độ dân trí thấp, trình độ sản xuất manh

mún, sơ khai. Ngồi ra, còn xuất hiện một số đối tượng nghèo mới ở những vùng đang

trong q trình đơ thị hóa và nhóm lao động nhập cư vào đô thị, họ thường gặp khó

khăn nhiều hơn và phải chấp nhận mức thu nhập thấp hơn lao động sở tại. Đây là

những yếu tố làm gia tăng tình trạng tái nghèo và tạo ra sự không đồng đều trong tốc

độ giảm nghèo giữa các vùng trong cả nước.

Hiện nay, hệ số chênh lệch giàu nghèo của Việt Nam cao hơn nhiều nước đã trải

qua thời kỳ dài phát triển kinh tế thị trường. Nhìn chung, cơ chế thị trường của chúng

ta còn mới mẻ, thậm chí có người cho là nền kinh tế thị trường hoang dã, đã tạo ra

những kẽ hở để cho một bộ phận lách cơ chế hoặc lợi dụng cơ chế để trục lợi, tham

nhũng. Số người làm giàu dạng này thường khơng đóng góp bao nhiêu để chia sớt

gánh nặng của nhà nước mà còn làm cho tiềm lực kinh tế ngày càng suy giảm. Vì thế,

nếu khơng nhanh chóng hồn thiện thể chế, nhất là thể chế dân chủ, nhà nước pháp

quyền, đồng thời xử lý vấn đề lợi ích nhóm, sở hữu chéo, lạm dụng độc quyền… thì

chênh lệch giàu – nghèo hiện đang quá lớn lại sẽ càng tăng nhanh.

2.3. Những giải pháp tăng cường tích lũy vốn

2.3.1. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ tích lũy tiêu dùng.

Vì mục tiêu của xã hội là khơng ngừng tái sản xuất mở rộng, tăng thêm sản

phẩm xã hội, nâng cao mức sống của người dân mà chúng ta phải xác định cho được

quan hệ giữa quỹ tích lũy và tiêu dùng. Tương quan giữa tích lũy và tiêu dùng được

coi là tối ưu khi sử dụng được các tài sản hiện có, thực hiện được mức tích lũy có thể

đảm bảo phát triển sản xuất với tốc độ cao ổn định mà cuối cùng vẫn đảm bảo tăng

tiêu dùng.Việc phân chia này tùy thuộc vào nhu cầu nền kinh tế ở từng thời kỳ nhất

định.Đồng thời phải khuyến khích mọi người khơng ngừng tiết kiêm, tích lũy. Tương

quan giữa tích luỹ và tiêu dùng được coi là tối ưu khi sử dụng đươc các tài sản hiện có,

thực hiện được mức tích luỹ có thể đảm bảo phát triển sản xuất với tốc độ cao và ổn

định mà cuối cùng vẫn đảm bảo tăng tiêu dùng và tích luỹ khơng đến mức cao nhất.

Vởi tỷ lệ giữa tích luỹ và tiêu dùng sắp xếp như thế nào là thích đáng? Tỷ lệ này có

14



phải cố định khơng và dựa trên nguyên tắc nào để sắp xếp tỷ lệ đó? Đây là vấn đề

trung tâm của việc phân phối xã hội chủ nghĩa, nó thể hiện cụ thể mối quan hệ giữa

xây dựng kinh tế và cải thiện đời sống giữa lợi ích lâu dài và lợi ích trước mắt, giữa lợi

ích của nhân dân và lợi ích của toàn xã hội... Việc phân chia tỷ lệ này không cố định

mà thay đổi tuỳ thuộc vào nhu cầu của nền kinh tế trong từng thời kỳ nhất định. Đồng

thời chúng ta phải khơng ngừng khuyến khích tất cả mọi người dân đều ra sức tiết

kiêm, tích luỹ. Như vậy có thể nói tỷ lệ giữa tích luỹ và tiêu dùng không chỉ đơn thuần

là tỷ lệ về kinh tế mà là thể hiện đường lối chính sách của Đảng trong từng thời kỳ

nhất định.

2.3.2. Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn

Để sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, trước hết chúng ta phải xác định rõ từng

đốitượng được cấp vốn, từđó phân bổ nguồn vốn một cách hợp lý cho các ngành

nhằm tạo ra hiệu quả sử dụng vốn cao hơn. Đối với các doanh nghiệp nhà nước, chính

phủ khơng nên cấp vốn tồn bộ mà nên tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp, nhờ vậy

doanh nghiệp sẽ có trách nhiệm hơn với đồng vốn của mình, đồng thời chính nhờ có

cổ phần hố mà tạo điều kiện cho các chủ doanh nghiệp phát huy mọi năng lực cũng

như khả năng quản lý của họ từđó sẽ nâng cao rất nhiều hiệu quả sử dụng vốn. Việc

đồng vốn cóđược sử dụng hiệu quả hay khơng một phần lớn phụ thuộc vào yếu tố con

người. Vì thế cần phải có một đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ năng lực và trách

nhiệm cao. Đồng thời nhà nước cũng cần phải xem xét lại mơ hình tổ chức quản lý,

chúýđến đội ngũ cán bộ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho họ có thể phát huy mọi năng

lực của mình. Đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh quyết liệt nguồn vốn FDI trong khu

vực cũng như trên thếgiới thì việc thiết lập một cơ chế tổ chức gọn nhẹ khơng chồng

chéo có hiệu quả cũng tạo ra khả năng cạnh tranh lớn.

2.3.3. Tăng cường tích luỹ vốn trong nước và có biện pháp thu hút vốn đầu tư

nước ngồi

Tích luỹ vốn trong nước có nhiều giải pháp nhưng giải pháp hàng đầu là nguồn

vốn từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn này sẽ đóng vai trò quan trọng để giải quyết

các nhu cầu chi của nhà nước về chi thường xuyên, chi cho đầu tư phát triển và cho

phát triển cơng nghiệp. Vì vậy nâng cao hiệu quả tích luỹ, tích tụ và tập trung vốn qua

ngân sách nhà nước là hết sức cấp bách và cóý nghĩa thực tiễn lớn lao.



15



Một biện pháp để tăng cường lượng vốn là thơng qua các tổ chức tín dụng và

ngân hàng. Đây là hai hình thức tích luỹ vốn có hiệu quả tương đối cao do có thể thu

hút được vốn còn nhàn dỗi trong nhân dân. Để thực hiện được ngày càng tốt các

nghiệp vụ của mình, một mặt ngân hàng cần phải tựđổi mới phương thức phục vụ

khách hàng mở rộng các hình thức tiết kiệm qua bưu điện cải tiến các thủ tục đảm bảo

an tồn bí mật vàổn định cho tiền gửi của khách hàng, đồng thời chính phủ cũng cần

có biện pháp nâng cao lãi suất nhằm thu hút ngày càng nhiều vốn nhàn dỗi trong dân.

Đặc biệt là hệ thống ngân hàng cần phối hợp chặt chẽ với các quỹ tín dụng nhân dân

để tích tụ và tập trung vốn được thuận tiện.Mặt khác, việc tích tụvà tập trung các

nguồn vốn trong nước từ các nguồn tài nguyên quốc gia và từ những tài sản cơng còn

bỏ phí vừa là mục tiêu vừa là biện pháp cơ bản trước mắt và lâu dài để chúng ta tăng

thêm nguồn vốn trong nước cho đầu tư phát triển. Cần nghiên cứu lại các quy định

vềđất và quyền sử dụng đất kết hợp hài hoà với các tổ chức thị trường liên quan.Trong

thời gian tới phải tìm cách để khai thác cao nhất hiệu quả nhất nguồn vốn từ tài sản

cơng. Đó là cơ sở vật chất trực tiếp sẵn có mà chúng ta có thể huy động bằng cả hiện

vật hoặc huy động bằng tiền trở thành nguồn thu trực tiếp của ngân sách Nhà nước là

cơ sở ban đầu cần thiết để gọi vốn đầu tư nước ngoài. Và một biện pháp mới được áp

dụng ở nước ta hiện nay là thu hút vốn thông qua thị trường chứng khốn. Đây là hình

thức tích tụ và tập trung vốn rất có hiệu quảđang được các nước phát triển áp

dụng.Chính thị trường chứng khốn là một hình thức của thị trường vốn, và nếu thị

trường chứng khốn hoạt động tốt thì nó sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ

của nền kinh tế. Ngoài nguồn vốn tích luỹ trong nước thì trong hồn cảnh hiện nay khi

nền kinh tế mở cửa hội nhập vào nền kinh tế thế giới thì một nguồn vốn có vai trò đặc

biệt quan trọng khác là nguồn vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm vốn đầu tư trực tiếp và

vốn đầu tư gián tiếp trong đó vốn đầu tư trực tiếp có ý nghĩa vơ cùng lớn đối với sự

phát triển của nền kinh tế trong nước. Vì thế mà chúng ta cần phải có chính sách thu

hút vốn đầu tư trực tiếp, đặc biệt là vốn của các nước phát triển.



16



C. KẾT LUẬN

Với một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đất nước ta đang ở trong

giai đoạn phát triển mạnh mẽ và năng động nhất từ trước tới nay. Sự phát triển của nền

kinh tế cũng tạo ra áp lực về tăng quy mô vốn cho nền kinh tế. Vì vậy việc nghiên cứu

tích luỹ tư bản và việc vận dụng lí luận đó vào thực tiễn Việt Nam là rất quan trọng và

cần thiết. Quá trình CNH-HĐH đất nước đạt được thành cơng trước hết phải có vốn

lớn.

Từ những thực tiễn trên ta thấy được tích lũy tư bản có vai trò rất lớn đến nền

kinh tế nước ta, để đạt được những thành tựu thì trước hết phải đưa ra những thực

trạng và giải pháp đúng đắn cho nền kinh tế thông qua những cơ sở lí luận . Đồng thời

thấy được tầm quan trọng của vốn đối với sự phát triển kinh tế của đất nước và khẳng

định nguồn vốn là cơ sở để tạo việc làm, mở rộng công nghệ thúc đây tăng trưởng

%GDP cho nền kinh tế. Đó chính là con đường dẫn đến sự thành công của sự nghiệp

CNH-HĐH đất nước, khẳng định tính đúng đắn của chính sách mở cửa, phát triển nền

kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, sớm đạt mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã

hội công bằng, dân chủ, văn minh.



17



D. TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1].



GS, TS Phạm Văn Quang, TS Phạm Văn Sinh (chủ biên) (2009), Giáo trình

Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin Nhà xuất bản Chính trị quốc

gia Hà Nội



[2].



GS, TS Nguyễn Ngọc Long, GS, TS Nguyễn Hữu Vui (chủ biên) (2006), Giáo

trình triết học Mác – Lênin (Dùng trong các trường đại học, cao đẳng), Nhà xuất

bản Chính trị quốc gia.



[3].



Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin của



[4].



Báo Vũng Tàu ( bài viết của Lê Ngân)



[5].



Tài liệu tiểu luận của kênh 123.doc



[6].



Tài liệu tham kháo môn kinh tế chính trị của Ngơ Đạt.



[7].



Báo Diễn đàn doanh nghiệp ( bài tình hình kinh tế xã hội của Nguyễn Tuấn)



[8].



Tạp Chí phát triển kinh tế ( bài vấn đề tích lũy vốn đối với sự phát triển của đất

nước của Ngọc Oanh)



[9].



Số liệu của Tổng Cục Thống Kê về vốn đầu tư phắt triển toàn xã hội năm 19952000



[10]. Số liệu của Tổng Cục Thống Kê về vốn đầu tư phát triển xã hội năm 2001-2017



.



18



MỤC LỤC







Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VIỆT NAM HIỆN NAY

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×