Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: ĐẶC TRƯNG CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC 

CHƯƠNG I: ĐẶC TRƯNG CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC 

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.2. Chủ nghĩa hiện thực phê phán

1.2.1. Lịch sử hình thành

Sự xuất hiện của một trào lưu văn học bao giờ cũng dựa trên những điều kiện

về chính trị - xã hội, văn hóa. Ra đời vào thế kỉ XIX ở châu Âu, chủ nghĩa hiện thực

cũng khơng nằm ngồi ngoại lệ ấy.

Về mặt chính trị - xã hội: Vào những năm 30 của thế kỉ XIX, giai cấp tư sản đã

chiếm địa vị thống trị và ngày càng lộ rõ bản chất phản động, đàn áp công nhân

và nhân dân lao động. Mâu thuẫn nổi lên trong xã hội lúc này là mâu thuẫn giữa giai

cấp vô sản và giai cấp tư sản. Phong trào công nhân cũng không ngừng phát triển,

đấu tranh giai cấp ngày càng gay gắt, mạnh mẽ hơn. Thực tiễn lúc này đòi hỏi các nhà

văn phải “đào sâu, tìm tòi” phát hiện bản chất xã hội.

Về mặt văn hóa: Thời kì này có sự phát triển vượt trội về triết học, khoa học tự

nhiên, khoa học xã hội. Con người đã đạt tới một trình độ tri thức nhất định về

thế giới, về tự nhiên, xã hội và về chính con người – đối tượng trung tâm của văn

học. Bước tiến ấy giúp các nhà văn nhận thức sâu sắc hơn về con người, về mối quan

hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội.

1.2.2. Nhân vật trung tâm và cảm hứng chủ đạo Nhân vật trong trào lưu hiện thực chủ

nghĩa tương đối phong phú.

Ăng ghen từng nhận định: Bộ Tấn trò đời của Banzắc đã thâu tóm lịch sử nước

Pháp thế kỉ XIX với hàng ngàn nhân vật. Nhân vật trung tâm trong các tác phẩm hiện

thực thế kỉ XIX là những nhân vật phản diện bị tư sản hóa. Họ có thể xuất thân từ

những thành phần khác nhau nhưng một khi đã lăn mình vào xã hội tư sản đều “Thẳng

tay cắt đứt, không để lại giữa người với người một mối quan hệ nào khác ngoài mối lợi

lạnh lùng và lối trả tiền khơng tình nghĩa” [4, 159]. Điều này phản ánh rất rõ trong các

tác phẩm của Banzắc, Stăngđan... Với những nhân vật trung tâm phản diện, cảm hứng

chủ đạo của văn học hiện thực là phê phán. Theo ý kiến của M.Goócki, người ta

thường gọi là “Chủ nghĩa hiện

1.3. Đặc trưng thi pháp

1.3.1. Về đề tài

Chủ nghĩa hiện thực phê phán có sự mở rộng về đề tài so với các trào lưu văn

học trước đó. Chủ nghĩa cổ điển thiên về “Mô phỏng cái cổ điển”, chủ nghĩa lãng mạn

4



tiêu cực thoát li thực tế, quay về với quá khứ, hoặc đi vào ảo mộng, hoặc thu mình

vào cái tơi nhỏ bé. Chủ nghĩa lãng mạn tích cực xóa bỏ sự ngăn cách giữa cái cao quý

và thấp hèn song vẫn yêu cầu nghệ thuật cần “Tránh cái thông thường” bởi theo

V. Huygô - tác giả lớn nhất của dòng văn học lãng mạn tích cực “Bình thường là cái

chết của nghệ thuật”. Vượt qua ranh giới giữa nghệ thuật và đời sống, các nhà văn

hiện thực chủ trương đưa toàn bộ những cái hàng ngày, kể cả những cái hèn kém, xấu

xa vào nghệ thuật.

1.3.2 Về nhân vật

Chủ nghĩa hiện thực phê phán chú trọng xây dựng những tính cách điển hình.

Khi tính cách điển hình đạt tới độ sống động, đặc sắc, người ta sử dụng cụm từ

“Nhân vật điển hình”.

Tính cách điển hình mang những đặc trưng thẩm mỹ sau:

Trước hết, tính cách điển hình được coi là sự thống nhất cao độ giữa tính chung

và nét riêng, giữa tính khái quát và nét cá thể. Biêlinxki nói đó là “Một người lạ

mà quen biết”. Cái riêng của nhân vật điển hình là nhân vật bộc lộ cá tính độc đáo.

Còn cái chung làm cho nhân vật “Thực sự là đại biểu cho những giai cấp và những

trào lưu nhất định, do đó tiêu biểu nhất định cho thời đại của họ” (lời ghi nhận của

Ăngghen). Hình tượng văn học trong chủ nghĩa cổ điển nặng về cái chung mà nhẹ về

cáiriêng, trong chủ nghĩa lãng mạn nặng về cái riêng mà ít chú ý tới tính khái quát.

Chủ nghĩa hiện thực chính là một sự kết tinh mới khi mang những nét đặc trưng cho

một giai cấp, một kiểu người... nhưng vẫn có nét cá tính đặc sắc riêng.

Thứ hai, tính cách điển hình có sự đa dạng về màu sắc thẩm mỹ. Trong tác

phẩm hiện thực phê phán, các màu sắc thẩm mỹ pha trộn đan chéo nhau, chuyển

hóa lẫn nhau. Có khi trong một nhân vật có pha lẫn cái cao cả, cái thấp hèn, cái đẹp và

cái xấu. Và vì vậy, có những nhân vật ta khó thể dùng cụm từ “Chính diện” hay

“Phản diện” để gọi tên.

1.3.3. Về thể loại

Mỗi thời đại văn học, mỗi trào lưu văn học thường có một hệ thống thể loại với

tư cách là những mơ hình nghệ thuật tương ứng. Khơng chỉ mở rộng ở đề tài,

chủ nghĩa hiện thực có sự mở rộng về thể loại. Nếu thể loại mà chủ nghĩa lãng mạn

sử dụng nhiều hơn cả là thơ trữ tình và tiểu thuyết thì chủ nghĩa hiện thực thể hiện

các nguyên tắc phản ánh đời sống trọn vẹn, đầy đủ nhất trong thể loại tiểu thuyết.

5



Tóm lại: Ra đời vào thế kỉ XIX, chủ nghĩa hiện thực phê phán có sức sống thật

bền bỉ, mãnh liệt và bằng cách này hay cách khác trào lưu ấy vẫn đánh dấu sự

phát triển của mình trong các chặng đường văn học. Nó cũng ảnh hưởng trực tiếp tới

chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa sau này.

1.4. Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa

1.4.1. Lịch sử hình thành

Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là thuật ngữ được dùng với hai hàm

nghĩa chính. Thứ nhất để gọi tên những nền văn học dân tộc (Quốc gia) tồn tại với

tư cách là văn học chính thống dưới chính thể mà Đảng cộng sản là lực lượng duy

nhất cầm quyền; cũng dùng để gọi tên những bộ phận (“dòng”, “khuynh hướng”,…)

gắn với hệ ý thức chủ nghĩa cộng sản ở các nền văn học dân tộc khác. Thứ hai để

gọi phương pháp sáng tác của những nền văn học hoặc bộ phận văn học nói trên.

Về mặt chính trị - xã hội: Vào giữa thế kỉ XIX ở phương Tây, chủ nghĩa hiện

thực đã phát triển đến giai đoạn cao nhất, đạt tới tính chất cổ điển. Tuy nhiên,

chủ nghĩa tư bản chưa hết vai trò lịch sử và giai cấp cơng nhân dù đã bước lên vũ đài

chính trị nhưng vẫn chưa đủ lớn mạnh để có ảnh hưởng quyết định tới tồn bộ xã hội.

Phong trào cơng nhân phát triển mạnh mẽ, đặc biệt từ sau khi chủ nghĩa tư bản phát

triển sang chủ nghĩa đế quốc, năm 1848 Tuyên ngôn Đảng cộng sản được công bố,

đánh dấu chủ nghĩa Mác chính thức ra đời, giai cấp cơng nhân từ đấu tranh tự phát trở

thành dấu tranh tự giác. Chủ nghĩa Mác được bảo vệ và phát triển thành chủ nghĩa

Mác – Lê nin dù bị bọn tư sản, đế quốc khủng bố tàn bạo. Trong hoàn cảnh của thời

đại mới,thời đại cách mạng vô sản và phong trào giải phóng dân tộc, chủ nghĩa hiện

thực xã hội chủ nghĩa ra đời là một yêu cầu tất yếu.

Về mặt văn hóa: Sự ra đời của học thuyết lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học,

các tư tưởng của Mác - Lê nin đã tạo nên những tiền đề, cơ sở lí luận cho chủ nghĩa

hiện thực xã hội chủ nghĩa.

1.4.2. Nhân vật trung tâm và cảm hứng chủ đạo

Nhân vật trung tâm của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là những nhân vật

chính diện tích cực, có nghĩa là những con người mới giác ngộ lí tưởng xã hội

chủ nghĩa và làm chủ được vận mệnh cuộc đời mình. M.Gorki được coi là tác giả lớn



6



nhất của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, từ tác phẩm Người mẹ lần đầu tiên

người đọc bắt gặp hình mẫu nhân vật trên.

chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa kế thừa nguyên tắc sáng tác của chủ nghĩa

hiện thực phê phán, tạo ra những tính cách điển hình trong hồn cảnh điển hình.

Tính cách ấy phải là sự hài hòa cao độ giữa tính chung và nét riêng, ln gắn bó trong

hồn cảnh. Tuy nhiên nếu chủ nghĩa hiện thực phê phán nhìn con người như nạn nhân

đáng thương của hồn cảnh thì chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa xây dựng hình

tượng con người với tư thế người anh hùng mới. Tính cách nhân vật có sự phát triển và

vận động theo hướng cách mạng. Chủ nghĩa hiện thực phê phán xây dựng tính cách

conngười trong sự phong phú, phức tạp, phát triển trong sự tác động của hoàn cảnh

nhưng chưa phải là phát triển cách mạng. Còn tính cách nhân vật trong chủ nghĩa hiện

thực xã hội chủ nghĩa đó là những con người có tinh thần phản kháng, đấu tranh với

cái cũ, với cái xấu xa, lạc hậu. Tiêu biểu là tác phẩm Người mẹ (Gorki), với hình ảnh

mẹ Nilốpna từ hồn cảnh bất hạnh, đau khổ đã dũng cảm đương đầu với chế độ

Nga Hoàng. Khi bị mật thám bắt, bà không hề khiếp sợ, bà tung truyền đơn vào nhân

dân hùng hồn vạch mặt bọn thống trị tàn ác trước sự đánh đập của bọn mật thám.

Trong văn học Việt Nam cũng không thiếu những người phụ nữ can đảm đã

giác ngộ cách 8 mạng như mẹ Suốt, bà bầm trong thơ Tố Hữu, người mẹ Tà ôi trong

thơ Nguyễn Khoa Điềm, chị Sứ, chị Út Tịch… Nhân vật trung tâm là những con người

giàu lí tưởng, vì vậy cảm hứng chủ đạo của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa là cảm

hứng ngợi ca, ngợi ca con người mới, cuộc sống mới. Nhưng ca ngợi phải có chừng

mực và chân thật. Bên cạnh đó, khẳng định, ngợi ca gắn bó chặt chẽ với biện chứng

với phê phán bởi cuộc sống mới, con người mới chỉ có thể hình thành và phát triển

trong cuộc đấu tranh với những cái cũ cái phản động, cái lạc hậu.

Tóm lại, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đã kế thừa những thành tựu của

chủ nghĩa hiện thực phê phán đồng thời mang những nét độc đáo riêng phù hợp ới tình

hình mới và đáp ứng yêu cầu của thời đại đấu tranh cách mạng. Chủ nghĩa hiện thực

đã lan tỏa sức ảnh hưởng lớn đến văn học Việt Nam. Điều này được minh chứng qua

hàng loạt các sáng tác trường tồn cùng thời gian. Trong phạm vi của một chuyên đề,

chúng tôi xin minh chứng các đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực qua một số tác phẩm

tiêu biểu thuộc trào lưu văn học hiện thực phê phán (1930-1945).



7



CHƯƠNG II: ĐẶC TRƯNG CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC PHÊ PHÁN

TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM

2.1 Sự hình thành của chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học Việt Nam

Như ở phần trên, chúng tơi đã khái qt về lịch sử hình thành của chủ

nghĩa hiện thực trong văn học thế giới. Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu khẳng định

chủ nghĩa hiện thực xuất hiện thực sự vào những năm 30 của thế kỉ XX, muộn hơn so

với văn học thế giới một trăm năm. Sự hình thành chủ nghĩa hiện thực trong văn học

Việt Nam thời gian này có yếu tố khách quan và chủ quan của nó.

Xét về mặt chính trị - xã hội: Sau nửa thế kỉ bình định nước ta về mặt quân sự,

thực dân Pháp không ngừng củng cố chính quyền, ra sức bóc lột, tiến hành hai

cuộc khai thác thuộc địa với quy mô lớn. Mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn xã hội gay

gắt. Hoàn cảnh đó đã tạo điều kiện để các nhà văn Việt Nam hướng ngòi bút vào

việc khám phá đời sống. Văn học hiện thực có tính xã hội sâu sắc, quan tâm số phận

bất hạnh của kiếp người cơ cực, lầm than. Sự ra đời của tầng lớp trí thức tiểu tư sản

đã góp phần đưa các tư tưởng, trào lưu văn học tiến bộ thấm nhuần trong ý thức

của người viết.

Xét về mặt văn hóa: Khơng khí xã hội lúc này rất sơi nổi. Các nhà in, tòa soạn

xuất hiện nhiều. Sự phát triển đặc biệt của báo chí, đặc biệt là những thiên phóng

sự, điều tra, ghi lại cảnh mắt thấy tai nghe với những điều bất công ngang trái đã thúc

đẩy sự ra đời của tầng lớp công chúng mới với thị hiếu mới. Cũng từ đây, nền văn

xuôi quốc ngữ đã trưởng thành, ngôn ngữ văn học ngày càng hồn thiện, đạt tới trình

độ cao hơn.

Bên cạnh đó, ta khơng thể khơng nhắc tới sự ảnh hưởng của luồng tư tưởng dân

chủ tư sản tiến bộ, những thành tựu khoa học trên thế giới. Các nhà văn hiện thực đều

ít nhiều chịu ảnh hưởng của những luồng tư tưởng đó. Sự ra đời của chủ nghĩa hiện

thực có ý nghĩa rất lớn với văn học Việt Nam lúc bấy giờ. Bên cạnh bộ phận văn học

bất hợp pháp là thơ văn của các chiến sĩ cách mạng, cùng với trào lưu lãng mạn trong

bộ phận văn học hợp pháp, trào lưu hiện thực góp phần tạo nên tính chất phong phú,

đa dạng và phức tạp cho khuynh hướng sáng tác của văn học nước ta lúc bấy giờ.

Xuất hiện sau thế giới khoảng 100 năm, chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt

Nam không chỉ phát huy những thành tựu đã có mà còn mang những nét đặc thù

8



riêng với những sáng tạo đích thực. Nét riêng đặc sắc đó sẽ được chúng tơi triển khai ở

phần tiếp theo của chuyên đề.

2.2. Đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học Việt Nam

2.2.1. Quan điểm nghệ thuật của các nhà văn hiện thực Việt Nam

Mỗi người viết dù muốn hay không, trước khi cầm bút đều cần đề ra mục đích

sáng tác. Vì vậy, mỗi người đều hình thành hệ thống quan điểm nghệ thuật tương

ứng. Quan điểm nghệ thuật chính là quan niệm của nghệ sĩ về con người, về thế giới.

Quan điểm nghệ thuật có thể được phát biểu trực tiếp cũng có thể khơng được phát

biểu thành lời mà được thể hiện gián tiếp qua thế giới hình tượng của tác phẩm.

Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam có một quá trình hình thành và

phát triển ở các chặng đường khác nhau. Điều đó đồng nghĩa với việc quan điểm

nghệ thuật có sự vận động và phát triển. Sự vận động và phát triển này còn được thể

hiện ngay trong sáng tác của mỗi người. Trước khi đến với văn học hiện thực Nguyễn

Công Hoan, Nam Cao từng chịu ảnh hưởng của văn học lãng mạn thoát li nhưng cuối

cùng họ đã chọn con đường “đứng về phía truyền thống dân tộc và quần chúng bị áp

bức”.

Điểm chung trong quan điểm nghệ thuật của các cây bút hiện thực (1930-1945)

là sự phê phán tính chất thốt li, xa rời đời sống của các cây bút lãng mạn đồng

thời khẳng định quan điểm hiện thực của mình. Nguyễn Cơng Hoan chế giễu thứ

tiểu thuyết lâm li, dễ dãi chạy theo thị hiếu độc giả, cơng kích thứ văn chương trinh

thám du nhập từ phương tây. Ông tâm sự trong Đời viết văn của tôi: “Khi văn chương

mà viết đúng như tiếng nói và lối nói dân tộc thì nó hay, nó đứng vững mãi”. Ơng

ln quan niệm “Truyện phải có nội dung bổ ích và trước hết truyện phải thực”. Ngô

Tất Tố cũng thẳng thắn phê phán văn học lãng mạn. Ơng cho rằng Tự lực văn đồn

“Đánh phấn xoa nước hoa chọn quần áo để nhử bạn đọc phụ nữ”. Tuyên chiến gay gắt

nhất với văn học lãng mạn phải kể đến Vũ Trọng Phụng. Vũ Trọng Phụng chỉ trích

dòng văn học này: “Đó là bọn đạo đức giả không phải đường và trưởng già 100% luôn

ca tụng sự hư hỏng của đàn bà bằng những danh từ điêu trá của văn chương”.

Đồng thời, Vũ Trọng Phụng cũng khẳng định quan điểm hiện thực: “Các ông muốn

tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tơi và những nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn

tiểu thuyết là sự thực ở đời”. Ý kiến của Vũ Trọng Phụng không tránh khỏi nhiều điểm

9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: ĐẶC TRƯNG CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC 

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×