Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Một số loại liên kết hóa học

Một số loại liên kết hóa học

Tải bản đầy đủ - 0trang

* Liên kết hidro



* Liên kết ion

* Liên kết Vandvan

* Liên kết kỵ nước

* Liên kết đisunfua

* Liên kết peptit

* Liên kết glicozit

a, Liên kết ion: liên kết ion là liên kết hoá học đợc tạo thành do lực hút tĩnh điện giữa các ion mang điện

ngược dấu.

b, Liên kết cộng hóa trị

• Khi hình thành liên kết cộng hóa trị, các nguyên tử có khuynh hớng dùng chung các cặp electron để đạt cấu

trúc bền của khí hiếm gần kề ( với 8 hoặc 2 electron lớp ngồi cùng).

• Các cặp electron dùng chung có thể do sự góp chung của hai nguyên tử tham gia liên kết (cộng hóa trị

thơng thờng) hoặc chỉ do một ngun tử bỏ ra (cộng hóa trị phối trí).

• Số electron góp chung của một nguyên tử thờng bằng 8 - n (n: số thứ tự của nhóm nguyên tố). Khi hết khả

năng góp chung, liên kết với các ngun tử còn lại đợc hình thành bằng cặp electron do một nguyên tử bỏ

ra (thờng là nguyên tử của nguyên tố có độ âm điện nhỏ hơn).

Ví dụ: Cơng thức phân tử

H2O

SO2



Cơng thức

.. electron

H

:O:

.. .. H

..

:O:: S:

..

.. O:



Công thức cấu tạo

H-O-H

O= S→O



c. Liên kết hidro

- Liên kết hyđro là liên kết hoá học đợc hình thành bằng lực hút tĩnh điện yếu giữa một nguyên tử hyđro

linh động với một nguyên tử phi kim có độ âm điện lớn, mang điện tích âm của phân tử khác hoặc trong

cùng phân tử.

VD

O

H O

O

C

H

H

H

H

O

H



O

H



O

H



- Bản chất của lực liên kết hyđro là lực hút tĩnh điện.

- Liên kết hiđro thuộc loại liên kết yếu, có năng lượng liên kết vào khoảng 10-40 kJ/mol, yếu hơn nhiều so

với liên kết cộng hóa trị mà năng lượng liên kết vào khoảng và trăm đến vài ngàn kJ/mol, nh ng lại gây nên

những ảnh hởng quan trọng lên tính chất vật lí (nh nhiệt độ sơi và tính tan trong nớc) cũng nh tính chất hóa

học (nh tính axit) của nhiều chất hữu cơ.

d, Liên kết Vanđecvan

- Liên kết Vanđecvan là liên kết hố học đợc hình thành bằng lực hút tĩnh điện rất yếu giữa các phân tử

phân cực thờng trực hay phân cực tạm thời.

- Lực liên kết Vanđecvan hình thành giữa tập hợp của các chất rắn, lỏng, khí.

e, Liên kết glycozit: Là loại liên kết hóa học thường thấy ở Cacbohidrat. Là liên kết hình thành giữa 2 nhóm

-OH liên kết trực tiếp với C

g, Liên kết kỵ nước: Hiện tượng các nhóm khơng phân cực luôn tự sắp xếp sao cho chúng không tiếp xúc

với các phân tử nước.Các liên kết kị nước có ý nghĩa quan trong việc duy trì tính định hìnhcủa các phân tử



P với các phân tử khác, kể cả việc phân bố của các p trên màng tế bào. Những liên kết này chiếm khoảng

1/2 tổng năng lượng tự do của q trình đóng gói các p ."



II. Nước

1. Cấu trúc và đặc tính lý hố của nước:

- Phân tử nước được cấu tạo từ 1 nguyên tử ôxy với 2 nguyên tử hyđrô bằng liên kết cộng hố trị.

- Phân tử nước có tính phân cực.

- Giữa các phân tử nước có lực hấp dẫn tĩnh điện( do liên kết hyđrô) tạo ra mạng lưới nước.

2. Vai trò của nước đối với tế bào:

- Là thành phần cấu tạo và dung mơi hồ tan và vận chuyển các chất cần cho hoạt động sống của

tế bào.

- Là môi trường và nguồn nguyên liệu cho các phản ứng sinh lý, sinh hoá của tế bào.

- Tham gia điều hồ, trao đổi nhiệt của tế bào và cơ thể…

Vì sao nước đá thường nổi?

 Nước đá thường nổi do

- Sự hấp thụ tĩnh điện giữa các phân tử nước tạo nên mối liên kết hydro yếu. Liên kết này mạnh

nhất khi nó nằm trên đường thẳng qua trục O-H của phân tử nước bên cạnh và yếu hơn khi nó

lệch trục O-H.

- Trong nước đá, tồn bộ liên kết đều mạnh cực đại ⇒ các phân tử phân bố trong 1 cấu trúc mạng

lưới dạng chuẩn, khoảng cách giữa các phân tử nước đá xa nhau hơn so với khoảng cách của các

phân tử nước khi ở dạng lỏng ⇒ nước đá có cấu trúc thưa hơn → nhẹ hơn và nổi trên mặt nước

III. Cacbohidrat

Cacbohiđrat (gluxit, saccarit) là những hợp chất hữu cơ tạp chức, thường có cơng thức chung là

Cn(H2O)m

• Cacbohiđrat được phân thành ba nhóm chính sau đây:

- Monosaccarit: là nhóm cacbohiđrat đơn giản nhất, khơng thể thủy phân được. Ví dụ: glucozơ,

fructozơ (C6H12O6)

- Đisaccarit: là nhóm cacbohiđrat mà khi thủy phân sinh ra 2 phân tử monosaccarit. Ví dụ:

saccarozơ, mantozơ (C12H22O11)

- Polisaccarit: là nhóm cacbohiđrat phức tạp mà khi thủy phân đến cùng sinh ra nhiều phân tử

monosaccarit. Ví dụ: tinh bột, xenlulozơ (C6H10O5)n



1. Monosaccait : (CH2O)n

- Triose (C3H6O3)

- Tetrose (C4H8O4)

- Pentose (C5H10O5)

- Hexose (C6H12O6):

Xét về cấu trúc, monosacarid là những dẫn xuất aldehyd và ceton của rượu nhiều nguyên

tử và tương tự như vậy ta có alơose hoặc cetose.



a. Triose (C3H6O3)

Đây là những monosacand có 3 nguyên tử cathon. Đại diện của nhóm này là

glycerylaldehyd và dioxyaceton.



a. Tetrose (C4H8O4)

Tetrose là monosacand mà phân tử của nó có 4 carbon. Trước kia loại này khơng được các nhà

sinh vật học chú ý lắm, nhưng sau này người ta thấy khi thuỷ phân glucid, trong những sản phẩm

trung gian của quá trình trao đổi chất, cùng với dạng phosphoryl của loại hexose, pentose, còn có

dạng tetrose như eritrophosphat.



c. Pentose (C5H10O5)

Một số đại diện của loại monosacand 5 carbon này là:



Pentose có thể tồn tại dạng vòng, chúng tham gia vào thành phần của acid nucleic



d. Hexose (C6H12O6)

Trong cơ thể đống vật và người, những hexose thường gặp là: glucose, fructose,

mannose, galactose (một phần hexose ở trạng thái tự đo, một phần ở dạng liên kết trong thành

phần của polysacand. Hexose tự nhiên: glucose, fructose, mannose, galactose thuộc loại cấu trúc

dãy D - ở trong điều kiện phòng thí nghiệm có thể nhận được đường dãy L.

Tất cả monosacand tự nhiên có vị ngọt và dễ hồ tan trong nước. Độ ngọt của mỗi loại đường

không giống nhau.

Monosacand loại hexose tương đối phổ biến như chúng ta đã trình bày ở trên.







Gluczo:



- Glucozơ có cơng thức phân tử là C6H12O6, tồn tại ở dạng mạch hở và dạng mạch vòng;



Hoặc viết gọn là: CH2OH[CHOH]4CHO

- Glucozơ là chất kết tinh, khơng màu, nóng chảy ở 146oC (dạng α) và 150oC (dạng β), dễ tan

trong nước

- Có vị ngọt, có trong hầu hết các bộ phận của cây (lá, hoa, rễ…) đặc biệt là quả chín (còn gọi là

đường nho)

- Trong máu người có một lượng nhỏ glucozơ, hầu như không đổi (khoảng 0,1 %)

Ứng dụng

- Trong y học: dùng làm thuốc tăng lực cho người bệnh (dễ hấp thu và cung cấp nhiều năng

lượng)

- Trong công nghiệp: dùng để tráng gương, tráng ruốt phích (thay cho anđehit vì anđehit độc)





Fructơzỏ:



- Fructozơ (C6H12O6) ở dạng mạch hở là một polihiđroxi xeton, có cơng thức cấu tạo thu gọn là:



Hoặc viết gọn là: CH2OH[CHOH]3COCH2OH

- Là chất rắn kết tinh, dễ tan trong nước, có vị ngọt gấp rưỡi đường mía và gấp 2,5 lần glucozơ

- Vị ngọt của mật ong chủ yếu do fructozơ (chiếm tới 40 %)

2. Disacarid. (hay còn gọi là đường kép)

Nó được thành lập do 2 monosacand hợp lại qua mạch osid sau khi khử đi một phần tử

nước .Thành phần những đường kép chủ yếu như sau:



Mấy chất đáng chú ý là:





Saccarose (C12H22O11) : (α glucosido - 1,2, β - fructose) liên kết glucosid giữa C1 của

glucose và C2 của fructose.



- Saccarozơ là chất kết tinh, không màu, dễ tan trong nước, ngọt hơn glucozơ, nóng chảy ở nhiệt

độ 185oC

- Có nhiều trong cây mía (nên saccarozơ còn được gọi là đường mía), củ cải đường, thốt nốt…

- Có nhiều dạng sản phẩm: đường phèn, đường kính, đường cát…

- Saccarozơ được dùng nhiều trong cơng nghiệp thực phẩm, để sản xuất bánh kẹo, nước giải

khát…Trong cơng nghiệp dược phẩm để pha chế thuốc.







Lactose (β - galactosido - 1,4, α - glucose) đường của sữa hàm lượng lactose thay đổi tuỳ

loại sữa. Đây là loại đường kép độc nhất được tổng hợp ở cơ thể gia súc - Lactose có tính

oxy hố khử điển hình của đường.







Maltose (Cơng thức phân tử C12H22O11 (α - glucosido 1 ,4 - α - glucose)



Còn gọi là đường mạch nha. Đường này sinh ra trong ống tiêu hoá do sự thuỷ phân tinh bột hoặc

glycogen bồi men amylase.



- Cellohiose: (β - glucosido - 1,4, β - glucose) là đường kép thu được khi thuỷ

phân cellulose chưa triệt để.



3. Polysacarid

Polysacand là loại đa đường có trọng lượng phân tử rất cao, do nhiều gốc monosacarid hợp lại

mà thành. Công thức chung của polysacand là (C6H10O5)n. các loại polysacariô đáng kể nhất là:

- Tinh bột

- Glycogen

- Cellulose

- Kitin

a. Tinh bột

- Tinh bột là loại glucid dự trữ của thực vật được lluul thành trong q trình quang hợp. Nó là

nguồn thức ăn rất quan trọng đối với động vật, nhất là động vật nông nghiệp.



Hàm lượng của tinh bột khác nhau ở các lồi thực vật: Ví dụ: gạo tẻ chứa khoảng: 75,81% ngơ

chứa khoảng: 70,08%

- Cấu tạo hố học của tinh bột được tạo thành từ các gốc a glucose gồm 2 thành phần: + Amylose

(chiếm 10 - 20%) - chất này tan trong nước, không tạo hồ, với iod cho màu xanh, các gốc a glucose được liên kết với nhau qua mạch glucosid 1 - 4 tạo thành mạch thẳng.

- Tinh bột là chất rắn vơ định hình, màu trắng, khơng tan trong nước nguội

- Trong nước nóng từ 65oC trở lên, tinh bột chuyển thành dung dịch keo (hồ tinh bột)

- Tinh bột có nhiều trong các loại ngũ cốc, củ (khoai, sắn), quả (táo, chuối)…



+ Amilopectin (chiếm 80 - 90%) không tan trong nước với iod cho màu tàn đỏ gồm các gốc a glucose liên kết với nhau qua mạch glucosid 1- 4 và 1-6 tạo cho phân tử tinh bột có cấu tạo phân

nhánh.



b. Glycogen (hay còn gọi là tinh bột động vật)

Đó là loại glucid dự trữ trong gan và mô bào động vật. Cấu tạo hoá học của glycogen giống tinh

bột, tức là cấu tạo từ các α - glucose, nhưng mức độ phân nhánh của glycogen mạnh hơn .

c. Cenlulose (hay còn gọi là chất xơ)

- Công thức phân tử: (C6H10O5)n; công thức của xenlulozơ có thể được viết là [C6H7O2(OH)3]n

- Đó là loại polysacarid phổ biến nhất của thực vật. Nó được cấu tạo từ nhiều gốc β - glucose qua

mạch - glucosid 1- 4 tạo thành chuỗi thẳng không phân nhánh, số lượng β - glucose khoảng vài

chục vạn. Trong thực vật, cellulose liên kết thành các bó sợi là các mi xen qua các liên kết

hydrogen.



- Cenlulose chỉ bị phân hoá bồi enzym cenlulase vi sinh vật cho nên cơ thể gia súc muốn sử dụng

cellulose phải nhờ sự hoạt động của vi sinh vật có trong dạ cỏ của lồi nhai lại bởi vì trong cơ thể

gia súc khơng có enzym cellulase.

- Xenlulozơ là chất rắn hình sợi, màu trắng, không mùi, không vị, không tan trong nước và trong

dung môi hữu cơ thông thường như benzen, ete

- Xenlulozơ là thành phần chính tạo ra lớp màng tế bào thực vật, bộ khung của cây cối



- Xenlulozơ có nhiều trong trong cây bông (95 – 98 %), đay, gai, tre, nứa (50 – 80 %), gỗ (40 –

50 %)



d. Kitin

Kitin là một polysacand thuần được cấu tạo từ các đơn vị N-acetylglucosanliên nối với

nhau bằng liên kết β - glucosid 1- 4. Sự khác nhau duy nhất về mặt hóa học giữa chính và

cellulose là sự thay thế nhóm hydroxyl ở vị trí C2 bằng một nhóm được acetyl hóa (CO 3-CONH-):



Kitin có dạng sợi giống như cellulose và động vật cũng khơng tiêu hóa được chính.

Chitin là thành phần cơ bản của lớp vỏ cứng của nhiều loài sinh vật, là polysacand phổ biến

trong tự nhiên chỉ sau cellulose.

e. Inuliên: là một polysacand dự trữ của thực vật. Đơn vị cấu tạo là fructose. Trọng lượng phân tử

của insuliên thấp vì nó chỉ có khoảng 30 gốc fructose, do đó polysacand này dễ dàng hồ tan

trong nước.

ở lồi ngũ cốc thời kỳ phát triển đầu thường có đa đường cấu tạo do fructose. Khi chín muồi đa

đường này sẽ phát triển thành tinh bột.

g. Hemiceuulose: Đấy là tên chung của nhiều loại đa đường thường gặp trong rơm, gỗ, lõi ngơ...

Đa đường loại này nếu có đơn vị cấu tạo từ:

+ Mannose thì gọi là mannan

+ Arabinose thì gọi là araban

+ Galactose thì gọi là galactan

+ Cylose thì gọi là cylan

h.Dextran: là sản phẩm của vi khuẩn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Một số loại liên kết hóa học

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×