Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
8 PHƯƠNG PHÁP TƯỚI NGẦM THỦ CÔNG CHO NHỮNG NƠI THIẾU NƯỚC

8 PHƯƠNG PHÁP TƯỚI NGẦM THỦ CÔNG CHO NHỮNG NƠI THIẾU NƯỚC

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chế độ tưới nước cho lúa

Lúa là cây trồng ưa nước. Lịch sử trồng lúa của các

nước trên thế giới đều cho

thấy rằng sự phát triển diện tích lúa gắn liền với quá

trình mở rộng và xây dựng hệ

thống tưới tiêu nước. Trên thực tế hầu hết diện tích

trên thế giới đều áp dụng

phương pháp tưới ngập. Đó là biểu hiện đặc thù nhất

của cây lúa so với cây trồng

khác. Vì vậy, chế độ tưới nước là một khâu quan khối

của kỹ thuật trồng lúa. Cũng

chính vì vậy mà nhiều vùng khơng đủ nguồn nước để

mở rộng diện tích trồng lúa

mặc dầu các điều kiện khác vẫn thuận lợi.

Qua nghiên cứu của rất nhiều tác giả, đã đi đến kết

luận: lúa trồng trong điều



kiện đất khô hoặc ẩm ướt rõ ràng sự hấp thụ chất

dinh dưỡng và năng suất không tốt

bằng trong điều kiện tưới ngập. Điều này cũng giải

thích tại sao 85 % diện tích

trồng lúa trên thế giới được tưới ngập. Nhưng trong

điều kiện tưới ngập không phải

lúc nào cũng có thể tìm được mối quan hệ xác định

giữa độ sâu lớp nước và năng

suất. Thường độ sâu lớp nước thích hợp ở cây lúa

thay đổi phụ thuộc vào điều kiện

khí hậu, đất đai và kỹ thuật nơng nghiệp.

Về tưới ngập, tuỳ theo từng vùng mà sử dụng các

hình thức sau:

33

- Thường xuyên tưới ngập một lớp nước trên đồng

ruộng trong suốt quá trình



sinh trưởng của lúa. Hình thức này được sử dụng từ

cổ xưa ở những nước trồng lúa

lâu đời trên thế giới.

- Ngập liên tục một thời gian từ thời kỳ mạ đến lúc

chín sữa hay từ khi lúa đẻ

nhánh đến chín sáp. Hình thức này được sử dụng ở

những vùng thiếu nguồn nước

tưới. Một số vùng do điều kiện khí hậu ẩm ướt, mưa

nhiều và chưa có hệ thống tưới

nhân tạo thì lúa được tưới theo chế độ ẩm tự nhiên.



Chiến lược quản lý tưới nước

Người quản lý trang trại xem xét một số yếu tố để

quyết định khi nào thì tưới

nước hợp lý để tối ưu hóa sản phẩm. Nhiều trong số

các yếu tố đó thay đổi theo sự

sinh trưởng, phát triển của cây trồng. Sau đây là một

số hướng dẫn chung để xem

xét phát triển một chiến lược quản lý nước và thiết

lập các mức hạn chế thiếu hụt

nước trong đất:

Thường xuyên đảm bảo độ ẩm đất phù hợp cho hạt

nãy mầm và cây con mới

trồng. Nếu đất khơng đủ độ ẩm thì phải tưới ở vùng

đất có gieo hạt hoặc trồng cây

con. K hi cây sinh trưởng, ẩm độ đất cũng rất cần

thiết cho rễ phát triển, rễ cây sẽ



không phát triển khi đất khơ, dí chặt. Tưới nước thúc

đẩy phát triển rễ, tăng khả

năng giữ nước mưa và giảm rủi ro rửa trơi dinh

dưỡng. Ví dụ đối với ngơ, giai

đoạn sinh trưởng sinh dưỡng (từ nảy mầm đến 10 lá)

thì mức thiếu hụt nước trong

đất có thể là 60 – 65 %. Ở giai đoạn này, bộ rễ chỉ đạt

1/2 đến 2/3 tiềm năng của

cây trồng. Tưới nước giữ ẩm cho ngô ở giai đoạn này

là thúc đẩy rễ phát triển sâu

hơn, tăng khả năng giữ nước khi trời mưa và giảm rủi

ro rửa trôi dinh dưỡng.

Khi cây trồng gần đến giai đoạn sinh trưởng tới hạn

hoặc giai đoạn có nhu

cầu nước cao nhất, cần phải xem xét mức giới hạn

thiếu hụt nước trong đất để



giảm thiểu rủi ro không đáp ứng đủ nhu cầu nước của

cây dẫn đến tổn thất về năng

suất. Đối với hầu hết cây trồng, trước khi vào giai

đoạn sinh trưởng tới hạn (ví dụ:

10 – 12 lá đối với ngô, bắt đầu ra hoa đối với đậu

tương…) thì mức giới hạn thiếu

hụt nước trong đất khoảng 30 – 40 %. Trong suốt giai

đoạn sinh trưởng tới hạn

thường nhu cầu nước cao, vì vậy trong chiến lược

quản lý nước cần thiết phải có

đánh giá nhu cầu nước trong khoảng thời gian 2 - 3

ngày để hạn chế sự khủng

hoảng nước của cây trồng ở bất kỳ phần nào của

ruộng trước khi tưới. Ví dụ, sử

dụng tưới nước bằng trục xoay trong vòng 3 ngày

mới có thể tưới hết ruộng, vì



vậy cần phải biết thiếu hụt nước sẽ như thế nào sau 3

ngày để xác định thời gian

tưới nước tiếp theo. Để giảm thiểu sự rửa trôi nước

khi mưa, cần phải thường

xuyên theo dõi dự báo thời tiết trong thời gian tới để

có kế hoạch tưới nước hợp lý.

Khi cây trồng gần đến giai đoạn chín hồn tồn, mức

thiếu hụt nước trong

đất có thể tăng cao nhưng khơng ảnh hưởng đến cây

trồng. Ví dụ, đối với ngơ, khi

ngơ chín sáp thì mức giới hạn thiếu hụt nước có thể

tăng lên 60 – 70 % nhưng

không ảnh hưởng đến năng suất.

Kế hoạch quản lý nước tưới là để thiết lập cân bằng

giữa thiếu hụt nước trong

đất và lượng nước thực mà hệ thống tưới bình thường

có thể cung cấp. Đối với các



hệ thống tưới cho một loại cây trồng hoặc một loại

đất mà bị hạn chế bởi năng lực

của trạm bơm, cần phải có các chiến lược thay thế

chiến lược quản lý nước khi cần

thiết nhằm giảm thiểu rủi ro khủng hoảng nước của

cây trồng.



Lập kế hoạch quản lý tưới

Kế hoạch quản lý tưới nhằm kiểm soát cân bằng nước

trong đất (tiến đến

ngưỡng thiếu hụt nước) để sử dụng cho kế hoạch tưới

tiếp theo. Kế hoạch này yêu

cầu người quản lý kiểm soát sinh trưởng phát triển

của cây trồng, hàng ngày quan

trắc nhiệt độ cao nhất của khơng khí, ước lượng sử

dụng nước hàng ngày của cây

trồng, đo lượng mưa hoặc lượng nước tưới vào ruộng

và tính tốn sự thiếu hụt mới

về nước trong đất. Để tính tốn sự thiếu hụt nước

mới, ghi và lưu trữ dữ liệu của

sự thay đổi hàng ngày, số liệu liên quan đến cân bằng

nước trong đất phải được

31



nghi vào biểu mẫu có sẵn. Thời gian tốt nhất để lấy

số liệu là vào buổi sáng sau

khi đo lượng mưa trên đồng ruộng.

Để quyết định thời gian tưới, cần phải so sánh sự

thiếu hụt nước trong đất

ngày trước đó với chiến lược quản lý nước tưới cho

cây trồng, dự trù nhu cầu nước

của cây trồng và dự báo thời tiết.

Một chiến lược quản lý nước tưới phác thảo kế hoạch

của các nhà quản lý về

tưới nước bao gồm mức hạn chế thiếu hụt nước trong

đất có thể chấp nhận được

đối với các giai đoạn sinh trưởng phát triển khác nhau

của cây trồng.

Hiệu quả của kế hoạch phụ thuộc vào việc quan sát

và quan trắc thường



xuyên và chính xác đồng ruộng của người quản lý.

Khi ước lượng nước sử dụng

cho cây trồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khí hậu, để

thực hiện kế hoạch thành

cơng thì thường xuyên thăm đồng (3 – 7 ngày/1 lần)

để xác định thiếu hụt nước

trong đất hiện có, sau đó so sánh với biểu dự đốn

cân bằng nước trong đất. Nếu

có sự khác nhau thì cần phải thay đổi biểu dự đoán

cân bằng nước với sự đánh giá

trên đồng ruộng. Chú ý khi sử dụng bảng biểu sử

dụng nước cho cây trồng, một

tuần sau đó cần phải điều chỉnh lại cho phù hợp với

giai đoạn sinh trưởng, phát

triển của cây trồng.

Nếu bất cứ nguyên nhân nào gây nên biểu cân bằng

nước trong đất bị gián



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

8 PHƯƠNG PHÁP TƯỚI NGẦM THỦ CÔNG CHO NHỮNG NƠI THIẾU NƯỚC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×