Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Những vấn đề cơ bản về tín dụng HSSV

1 Những vấn đề cơ bản về tín dụng HSSV

Tải bản đầy đủ - 0trang

9



nợ gốc và lãi; lãi tiền vay được tính kể từ ngày đối tượng được vay vốn nhận món

vay đầu tiên đến ngày trả hết nợ gốc.

Đối tượng được vay vốn phải trả nợ gốc và lãi tiền vay lần đầu tiên ngay sau

khi HSSV có việc làm, có thu nhập nhưng không quá 12 tháng kể từ ngày HSSV kết

thúc khoá học.

Tuy nhiên trong thời hạn phát tiền vay nếu người vay có nhu cầu trả lãi thì

Ngân hàng Chính sách sẽ tiến hành thu. Chương trình tín dụng HSSV là chương

trình có thời hạn cho vay dài, việc trả lãi hàng tháng sẽ tạo lập cho hộ gia đình

nghèo thói quen tiết kiệm trả lãi dần nếu có điều kiện không để đến hạn cuối cùng

mới trả cả gốc và lãi sẽ gây khó khăn cho gia đình trong việc trả nợ.



1.1.2 Vai trò và sự cần thiết phải có Chương trình tín dụng dành cho đối

tượng HSSV

1.2.1.1 Điều kiện học tập của HSSV có hồn cảnh khó khăn ở Việt nam

Số tiền chi tiêu cho các HSSV hiện nay hồn tồn do bố mẹ cung cấp. Có thể

thấy mỗi sinh viên khi bước chân vào cánh cổng đại học, cao đẳng, trung học

chuyên nghiệp hay dạy nghề gần như là bước vào một "thế giới" mới. Trong "thế

giới" đó họ có rất nhiều sự thay đổi, từ cách ăn mặc trong môi trường mới, chi tiêu

khi xa gia đình, đặc biệt là sự thay đổi khá lớn về chi tiêu cho học tập (tiền học phí,

mua sách vở, tài liệu tham khảo...). Tất cả sự thay đổi đó đều đòi hỏi một khả năng

tài chính tốt. Điều này khơng phải gia đình nào cũng có thể đáp ứng được số tiền

dành cho việc học tập đó, đặc biệt ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, tất yếu sẽ

có rất nhiều HSSV khơng thể đi học hoặc tiếp tục theo học các trường như mong

muốn. Theo thống kế của Bộ Giáo dục và Đại học, hàng năm số lượng sinh viên

theo học các trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp phải nghỉ học giữa

chừng vì lý do khơng đủ tài chính là 1.000 HSSV.

Trong điều kiện hiện nay, khi còn thiếu lao động tay nghề cao thì việc để số

lượng sinh viên đó phải dừng việc học tập của mình là một sự lãng phí nguồn nhân

lực. Do đó, vấn đề cấp bách là chúng ta cần một biện pháp để hỗ trợ cho họ tiếp tục

con đường học tập của mình. Biện pháp đó chính là tín dụng HSSV.



1.1.2.2 Vai trò của Chương trình tín dụng HSSV



10



Chương trình tín dụng HSSV góp phần giảm tỷ lệ thất học, phục vụ cho sự

phát triển nền kinh tế tri thức, đào tạo những tài năng cho đất nước, tạo điều kiện

phát triển giáo dục đáp ứng u cầu sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất

nước; góp phần cân đối đào tạo cho các vùng miền và các đối tượng là người học có

hồn cảnh khó khăn vươn lên; giảm bớt sự thiếu hụt cán bộ, rút dần khoảng cách

chênh lệch về dân trí về kinh tế giữa các vùng miền, tạo ra khả năng đáp ứng yêu

cầu xây dựng bảo vệ đất nước trong giai đoạn mới, cải thiện đời sống một bộ phận

HSSV, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự, hạn chế được những mặt tiêu cực.



- Giáo dục đào tạo là ngoại ứng tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.

Giáo dục đào tạo đã đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức, trình độ tay nghề góp

phần phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Chương trình tín dụng HSSV góp phần

hỗ trợ cho HSSV được tham gia và tiếp tục học tập, tạo ra nguồn nhân lực đó. Qua

10 năm hoạt động, đã thu hút 2,5 triệu lao động có việc làm, giúp hơn 3 triệu HSSV

có hồn cảnh khó khăn được vay vốn. Do đó, với vai trò đó, Nhà nước cần phải có

duy trì và phát triển Chương trình tín dụng HSSV.

- Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà trường, Ngân hàng và HSSV…Nêu cao

tinh thần tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau trong sinh hoạt và học tập, tạo niềm

tin của thế hệ tri thức trẻ đối với Đảng và Nhà nước.



1.1.2.3 Sự cần thiết khách quan của Chương trình tín dụng cho HSSV qua hệ

thống NHCSXH

Chương trình tín dụng đối với HSSV được áp dụng hỗ trợ cho HSSV có hồn

cảnh khó khăn để theo học đại học, cao đẳng và học nghề là một chính sách có ý

nghĩa cho chính gia đình và cả người vay tiền, có ý nghĩa cả về kinh tế và chính trị xã hội nhằm đầu tư để phát triển nguồn nhân lực, nhất là cơ cấu nguồn nhân lực cho

các vùng nơng thơn, vùng khó khăn.

* Xét về giác độ gia đình và cá nhân HSSV có hồn cảnh khó khăn: Giảm

thiểu được tình trạng nhiều gia đình phải đi vay nặng lãi khi không chu cấp đủ cho

con đi học, việc con đi học khơng còn là mối lo của họ nữa. Họ sẽ yên tâm hơn để

sản xuất kinh doanh. Bản thân các em HSSV cũng chuyên tâm hơn trong q trình

học tập của mình, khơng còn phải lo nghĩ nhiều trong việc trang trải chi tiêu. Do đó,



11



các em cũng sẽ học tập tốt hơn, đạt kết quả cao hơn. Khi sử dụng vốn vay này các

em sẽ quyết tâm học tập tốt hơn, được tiếp cận với nhiều dịch vụ giáo dục chuyên

nghiệp cải thiện và bổ sung kiến thức.

* Xét trên giác độ kinh tế: Việc hỗ trợ HSSV có hồn cảnh khó khăn đã góp

phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh

cho các doanh nghiệp và góp phần vào sự phát triển chung của đất nước ngày càng

giàu mạnh hơn.

Nhờ tiếp cận nguồn vốn ưu đãi này, đã có nhiều HSSV có hồn cảnh kinh tế

khó khăn có nguy cơ bỏ học được tiếp tục học nghề, tạo nguồn nhân lực có tay nghề.

* Xét trên giác độ chính trị - xã hội: Chương trình tín dụng đã góp phần tạo

được lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước. Chương trình cũng tránh được

vấn đề nhiều HSSV vì tới bước đường cùng phải bỏ học hoặc sa vào những hành

động phạm pháp. Mặt khác, chương trình cũng góp phần thực hiện cơng bằng xã

hội, đảm bảo cho mọi người đều có điều kiện tiếp cận dịch vụ giáo dục chuyên

nghiệp. Tóm lại, việc thực hiện Chương trình tín dụng cho HSSV đã góp phần đảm

bảo an sinh xã hội.

Bài học rút ra từ một số nước trên thế giới cho thấy những nước có nền kinh tế

phát triển là những nước đã quan tâm đầu tư cho giáo dục đào tạo. Bởi vậy, trong bối

cảnh Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển kinh tế, mở cửa hội nhập kinh tế quốc

tế, nhất là Việt Nam đã gia nhập WTO. Đảng và Nhà nước ta lại càng chú trọng tới

sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự

nghiệp của Nhà nước và của toàn dân. Để phát triển sự nghiệp giáo dục, tăng

cường hiệu lực quản lý Nhà nước về giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân

lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước, đáp ứng

nhu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công

bằng, dân chủ văn minh.

Tuy nhiên, có một thực tế đáng lo ngại ở nước ta hiện nay là HSSV có hồn

cảnh khó khăn chiếm tỷ lệ cao so với tổng số HSSV đang theo học tại các trường đại

học, cao đẳng, trung học chun nghiệp, học nghề có hồn cảnh khó khăn, nếu khơng



12



được sự hỗ trợ của Nhà nước thì bộ phận HSSV này khó có thể theo học được, đất

nước sẽ mất đi một số lượng lớn nhân tài, những vùng sâu, vùng xa, vùng núi hải đảo

khơng có điều kiện tiếp nhận cán bộ.

Nhận thức được đầy đủ những vấn đề này, ngày 02/03/1998, Thủ tướng

Chính phủ đã ký Quyết định số 51/1998/QĐ-TTg thành lập Quỹ tín dụng đào tạo để

hỗ trợ vốn cho HSSV có hồn cảnh khó khăn nhằm mục đích:

- Giúp HSSV giải quyết những vấn đề khó khăn trong thời gian học tập tại

trường để tiếp tục theo học, giải quyết những khó khăn cho cha mẹ HSSV.

- Giúp HSSV và cha mẹ HSSV (hoặc người đỡ đầu) xác định rõ trách nhiệm của

mình trong quan hệ vay mượn, khuyến khích người vay sử dụng vốn vào mục đích

học tập tốt để sau này ra trường có việc làm, từ đó có thu nhập trả nợ Ngân hàng.

Việc triển khai tốt chương trình cho vay HSSV góp phần làm cho chính sách

đi nhanh vào cuộc sống, giúp cho hàng triệu HSSV có hồn cảnh khó khăn có cơ

hội ngang bằng với các HSSV khác về học tập tại các trường đại học, cao đẳng,

trung cấp và học nghề.



1.2 Các tiêu chí đánh giá Chương trình tín dụng HSSV qua hệ thống

NHCSXH

Theo lý thuyết về quản lý dự án, đánh giá một Chương trình là q trình xác

định, phân tích một cách có hệ thống và khách quan các kết quả, mức độ hiệu quả

và các tác động, mối liên hệ của dự án trên cơ sở các mục tiêu của Chương trình.

Việc đánh giá Chương trình nhằm các mục tiêu: khẳng định lại tính cần thiết của

Chương trình, đánh giá các mục tiêu, xác định tính khả thi, hiện thực, hợp lý, hợp

pháp của Chương trình, nhằm làm rõ thực trạng diễn biến của Chương trình, những

điểm mạnh, điểm yếu, những sai lệch, mức độ rủi ro của Chương trình. Từ đó, có

các giải pháp quản lý, thực hiện phù hợp, xem xét tính khoa học, hợp lý của các

phương pháp được áp dụng trong việc triển khai thực hiện Chương trình.

Theo đó, để đánh giá một chương trình thường bao gồm 05 tiêu chí sau: Tính

phù hợp, tính hiệu quả, tính hiệu lực, tác động và tính bền vững.



1.2.1 Tính phù hợp của Chương trình



13



Tính phù hợp có nghĩa là đánh giá mức độ phù hợp của Chương trình với

mục tiêu phát triển của vùng, ngành và yêu cầu của đối tượng thụ hưởng; đánh giá

xem hoạt động của Chương trình có phù hợp với mục tiêu chiến lược của vùng,

ngành, có đáp ứng yêu cầu của đối tượng thụ hưởng hay không.

Để đánh giá tính phù hợp của Chương trình tín dụng HSSV, cần xem xét

đánh giá các yếu tố cấu thành nên sự phù hợp của Chương trình: Chính sách tín

dụng đối với HSSV là một chính sách có ý nghĩa về kinh tế, chính trị và xã hội,

phù hợp với lòng dân, tạo được sự đồng thuận cao của các ngành, các cấp, của

cộng đồng xã hội. Tính phù hợp thể hiện trong các khâu từ khâu tạo lập, huy

động nguồn vốn đến việc tổ chức cho vay, thu hồi và xử lý nợ. Chương trình có

sự gắn kết giữa kinh tế và xã hội trong cơng tác xóa đói giảm nghèo, an sinh xã

hội, sự bình đẳng trong giáo dục, góp phần tạo nguồn nhân lực cho phát triển

kinh tế, xã hội của đất nước.



1.2.2. Tính hiệu quả của Chương trình

Tính hiệu quả có nghĩa là xem xét mức độ đạt được các mức tiêu của một

chương trình so với các yếu tố đầu vào; đánh giá xem một chương trình có đạt được

mục đích đặt ra và liệu có thể giảm đươcc quy mơ đầu vào mà khơng ảnh hưởng

đến mục đích hay khơng. Hay nói cách khác, tính hiệu quả của Chương trình là

tương quan so sánh giữa kết quả do Chương trình đó đưa lại so với chi phí và cơng

sức đã bỏ ra cho kết quả đó.

Việc xem xét Chương trình tín dụng HSSV mang lại hiệu quả bằng cách:

xem xét trước hết là giảm tỷ lệ thất học, cải thiện đời sống một bộ phận HSSV, góp

phần đảm bảo an ninh trật tự, hạn chế những mặt tiêu cực, tệ nạn xã hội.

Khi đánh giá hiệu quả của Chương trình cần phải xác định hiệu quả tổng hợp

của Chương trình, đó là, hiệu quả tổng hợp cả về kinh tế – xã hội của chính sách.

Hiệu quả tổng hợp phản ánh mức độ đạt được các kết quả về kinh tế và tác động xã

hội theo mục tiêu đã đề ra với một chi phí và cơng sức nhất định. Trong q trình

đánh giá chính sách, có nhiều chỉ tiêu khơng thể lượng hóa được, mà chỉ có thể xác

định về mặt định tính, nhất là những tác động xã hội. Đối với hiệu quả kinh tế thì có



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Những vấn đề cơ bản về tín dụng HSSV

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×