Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Phân tích thực trạng phát triển làng nghề ở huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên Huế

2 Phân tích thực trạng phát triển làng nghề ở huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên Huế

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khoá luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



nghề này đã góp phần đáng kể trong giải quyết lao động nơng nhàn và tăng thu

nhập cho các hộ gia đình như sản, chổi đót, tre đan. Đây là nhóm sản phẩm có nhiều

tiềm năng phát triển để phục vụ xuất khẩu nhất là những sản phẩm đan lát từ tre,

mây, lá đang có thị trường khá lớn cả trong và ngồi nước nhưng cần phải đổi mới

sản phẩm, mẫu mã phù hợp với thị trường.

+ Nhóm dệt, thêu: Sản phẩm dệt, thêu khá phong phú, đa dạng với nhiều

trường phái khác nhau như thêu nghệ thuật, thêu phục vụ nghi lễ, tơn giáo, thêu

xuất khẩu sang các nước EU. Nhìn chung sản phẩm thêu ở Thừa Thiên Huế có chất

lượng và tính thẩm mỹ cao được thị trường trong và ngồi nước ưa chuộng, có thể

phát triển mạnh trong những năm đến nhất là các sản phẩm thêu phục vụ xuất khẩu

và trang trí nội thất.

+ Nhóm sản phẩm chế biến lương thực và thực phẩm: Các mặt hàng của

nhóm sản phẩm này chủ yếu là sản xuất bún, chế biến nước mắm, … phát triển khá

mạnh chủ yếu phục vụ nhu cầu trong tỉnh và tại các địa phương lân cận, không bị

cạnh tranh nhiều bởi các sản phẩm cùng loại. Đây là nhóm sản phẩm có nhiều lợi

thế để phát triển do nhu cầu tiêu thụ trong nhân dân ngày càng tăng nhưng phải

quan tâm nhiều hơn đến yếu tố vệ sinh và an toàn thực phẩm cũng như bảo vệ mơi

trường của làng nghề trong q trình sản xuất.

+ Nhóm sản phẩm của nghề sản xuất nón lá và vành nón: các mặt hàng của

nhóm sản phẩm này chủ yếu là nón lá và vành nón chủ yếu phục vụ nhu cầu trong

tỉnh và một số tỉnh khác như vành nón cung cấp cho thị trường Thanh Hố.

+ Nhóm nghề tạo thế cây kiểng và sinh vật cảnh: Sản phẩm của nhóm nghề

này nổi tiếng về việc cung cấp các sản phẩm cây kiểng, non bộ, bon sai, phục vụ

nhu cầu trang trí cho các tầng lớp nhân dân trong nước, các cơ quan khách sạn lớn.

Đồng thời trồng hoa hàng hoá phục vụ cho các lễ hội, tết…

+ Nhóm sản phẩm nghề sản xuất vật liệu xây dựng: sản phẩm chủ yếu là sản

xuất vật liệu xây dựng khơng nung như bờ lơ, ngói ximăng, khai thác cát, sạn.

+ Nhóm sản phẩm nghề truyền thống sản xuất rượu thủ công: sản phẩm chủ

yếu là sản xuất ra các loại rượu bình thường để dùng hằng ngày, cho các dịp lễ,

cúng…



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



29



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



+ Nhóm sản phẩm nghề may đo và gia cơng hàng xuất khẩu: Sản phẩm của

nhóm nghề này chủ yếu quần áo phục vụ tại địa phương và một số sản phẩm may

cơng nghiệp

+ Nhóm sản phẩm các loại hình dịch vụ:

Sản phẩm của nhóm nghề này rất đa dạng nó phục vụ nhu cầu đời sống hàng

ngày của xã hội.

Bảng 2.4. Những nghề, làng nghề ở huyện Quảng Điền

Địa chỉ

(xã, thị trấn)

1 Làng nghề truyền thống mây tre đan Bao La

Quảng Phú

2 Làng nghề bún bánh Ô sa

Quảng Vinh

3 Làng nghề đán lát Thủy Lập

Quảng Lợi

4 Làng nghề chế biến nước mắm Tân Thành

Quảng Công

5 Làng xây dựng Uất Mậu

Thị trấn Sịa

6 Làng cây cảnh An Gia

Thị trấn Sịa

7 Làng vành nón Hạ Lang

Quảng Phú

8 Làng nón lá Phú Lễ

Quảng Phú

9 Làng rượu Lai Hà

Quảng Thái

10 Làng chế biến nước mắm An Lộc

Quảng Công

11 Làng chế biến nước mắm Tây Hải

Quảng Ngạn

12 Làng trồng rau Thành Trung

Quảng Thành

13 Làng trồng rau Phước Yên

Quảng Thọ

14 Làng trồng rau La Vân Thượng

Quảng Thọ

15 Làng Hoa La Vân Hạ

Quảng Thọ

16 Làng trồng cây cảnh Đông Xuyên

Quảng An

(Nguồn: Báo cáo thực trạng phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền)



TT



Tên làng nghề



2.2.2 Thị trường tiêu thụ sản phẩm

Các sản phẩm làng nghề tại huyện Quảng Điền được tiêu thụ thơng qua hai

hình thức chủ yếu:

Một là, hộ gia đình tự bán sản phẩm đến cho khách hàng. Hình thức này là

phổ biến.

Hai là, thông qua các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm làng nghề.

Qua điều tra, khảo sát thực tế ở 50 hộ trong địa bàn huyện: cho thấy toàn bộ

sản phẩm của các làng nghề như đan lát, bún, nước mắm, cây cảnh… chủ yếu tiêu

thụ tại địa phương trong tỉnh và một số tỉnh lân cận. Có rất ít các sản phẩm xuất



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



30



Khoá luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



khẩu trực tiếp ra nước ngồi, phần lớn chỉ làm gia cơng xuất khẩu cho các công ty

lớn như thêu, tre đan để nhờ đó mà xuất khẩu sang nước ngồi; một số sản phẩm

chủ yếu tiêu thụ qua trung gian trong và ngồi tỉnh như nón lá, tre đan, nước mắm,

mộc mỹ nghệ nên giá của các sản phẩm này đẩy lên rất cao. Có một số sản phẩm

vừa tiêu thụ trực tiếp vừa kết hợp qua trung gian như dệt lưới, chế biến bún. Có thể

nói thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề còn nhiều hạn chế. Nếu phát

triển thêm được thị trường trong nước và một số thị trường xuất khẩu cho các sản

phẩm làng nghề tiềm năng như thêu, mộc mỹ nghệ, tre đan, dệt dèn, chắc chắn hoạt

động của nhiều làng nghề sẽ sôi động hơn và góp phần tích cực thúc đẩy chuyển

dịch cơ cấu kinh tế và lao động cho các vùng nông thôn trong tỉnh.

2.2.3 Mặt bằng và kỹ thuật công nghệ của các đơn vị sản xuất trong các làng

nghề

- Mặt bằng

Đặc điểm phổ biến của các làng nghề trong nông thơn huyện Quảng Điền là

mỗi hộ gia đình là một cơ sở sản xuất gắn liền với nhà ở, chủ yếu sử dụng lao động

thủ công. Trừ một số ngành nghề như rèn và sản xuất đồ gia dụng, mộc mỹ nghệ

các hộ có sử dụng thêm một số máy móc thiết bị và có xây dựng thêm một phần nhà

xưởng để phục vụ sản xuất nhưng không lớn mang tính chất nhà tạm.

Qua điều tra 50 hộ/cơ sở sản xuất làng nghề: cho thấy, quy mô về cơ sở vật

chất của các đơn vị sản xuất trong làng nghề tùy thuộc vào ngành nghề sản xuất. Có

những ngành nghề như sản xuất mây tre đan, nón lá, dệt lưới, thêu, sản xuất bún và

nước mắm, hầu hết sử dụng nhà ở làm nơi sản xuất vì vậy các hộ sản xuất không

cần đầu tư nhà xưởng; chủ yếu đầu tư vốn lưu động để phục vụ sản xuất. Vì vậy quy

mơ vốn bình qn của một hộ trong các nhóm nghề trên từ 2-12 triệu đồng chiếm

trên 96% tổng số hộ trong các làng nghề (trong đó nhóm nghề có bình qn vốn

thấp nhất là nón lá bình qn vốn dưới 2 triệu đồng/hộ sản xuất); số cơ sở sản xuất

ở các làng nghề mộc mỹ nghệ có mức vốn bình quân từ 20 triệu đến trên 100 triệu

đồng, chiếm chưa đến 4% tổng số hộ trong các làng nghề tồn huyện.

-



Kỹ thuật cơng nghệ



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



31



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



Việc áp dụng kỹ thuật công nghệ vào sản xuất của các làng nghề qua điều tra,

cho thấy: chủ yếu là lao động thủ cơng, cụ thể có 92,68% số cơ sở chủ yếu sử dụng

lao động thủ công đặc biệt là các làng về đan lát, nón lá, thêu. Số hộ có trình độ sản

xuất bán cơ khí chiếm 7,4% (mộc, sản xuất hàng ngũ kim).

Việc đầu tư kỹ thuật về máy móc thiết bị trong quá trình sản xuất của các cơ

sở làng nghề còn nhiều yếu kém và bất cập do khả năng nguồn vốn hạn hẹp của các

thành phần kinh tế trong làng nghề; một phần còn xuất phát từ ngun nhân là trình

độ văn hóa của đa số các chủ cơ sở sản xuất trong làng nghề thấp; đồng thời các hộ

sản xuất chưa ý thức được tầm quan trọng của việc đổi mới kỹ thuật cơng nghệ do

đó ít coi trọng việc đầu tư cho lĩnh vực này.

Do đó, yêu cầu về đầu tư phát triển, đổi mới kỹ thuật và cơng nghệ sản xuất

là một đòi hỏi cấp thiết hiện nay trong các làng nghề nhất là những làng nghề sản

xuất hàng thủ công mỹ nghệ, hàng tiêu dùng và thực phẩm. Việc đổi mới ở các làng

nghề không chỉ đơn thuần là đầu tư để đưa máy móc thiết bị, cơng nghệ mới vào

các cơng đoạn sản xuất mà còn có một yếu tố khơng kém phần quan trọng đó là làm

sao đổi mới trong cách làm, cách sáng tạo và tiếp nhận của chính những người thợ

thủ cơng.

2.2.4 Hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề

Trên địa bàn huyện đã hình thành một số doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh

các sản phẩm làng nghề. Các doanh nghiệp này vừa làm nhiệm vụ cung ứng nguyên

vật liệu, vừa tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho các làng nghề. Tuy vậy, các

doanh nghiệp hình thành chủ yếu trong nghề mây tre đan, chế biến hải sản, mộc.

Còn các nghề khác như chế biến nông sản thực phẩm, nấu rượu, trồng rau, trồng

hoa, cây cảnh…chủ yếu hộ gia đình tự tổ chức sản xuất và tiêu thụ.

Tuy vậy, tại các làng nghề ở huyện Quảng Điền hình thức kinh doanh hộ gia

đình là chủ yếu. Sự xuất hiện của các doanh nghiệp còn ít. Quy mơ của các doanh

nghiệp còn nhỏ và chủ yếu các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm hàng thủ công

mây tre đan. Điều này vừa phản ánh kết quả của sự phát triển làng nghề, đồng thời

vừa là nguyên nhân hạn chế sự phát triển của các làng nghề.

Bảng 2.5. Các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm làng nghề



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



32



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn

chủ yếu ở huyện Quảng Điền



STT



Tên doanh



Địa chỉ



Ngành nghề kinh



Doanh thu



1

2



nghiệp

DNTN Tân Tiến Thị trấn Sịa

Xí nghiệp Hồi Xã Quảng



doanh

2017(tr.đồng)

Sản xuất hàng mỹ nghệ

1.750,5

Sản xuất hàng thủ công

1.721,5



3



Ân

DNTN Tiến Vũ



Vinh

Xã Quảng



mỹ nghệ

Sản xuất Mộc mỹ nghệ



4



Công ty TNHH



Vinh

Xã Quảng



Chế biến nước mắm



1.001,0



5



Tam Giang

DNTN Ngọc



Công

Xã Quảng



Mua bán hàng thủ công



1.528,0



6



Bắc

Ngạn

HTX mây tre Xã Quảng



mỹ nghệ

Sản xuất hàng thủ công



1.631



7



đan Bao La

DNTN làng



Phú

Xã Quảng



mây tre đan

Sản xuất sản phẩm đồ gỗ



1.658,0



nghề Việt



phú

tre nứa

(Nguồn: Tổng cục thống kê 2016 huyện Quảng Điền)



223,5



Qua bảng trên ta thấy được số doanh nghiệp kinh doanh trong các làng nghề

còn rất ít, nhưng doanh thu mà doanh nghiệp đạt được cũng tương đối cao. Vì vậy,

ta cần phải có chính sách thu hút hơn nữa các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh

tham gia vào làng nghề để thúc đẩy làng nghề phát triển hơn.

2.2.5 Kết quả sản xuất kinh doanh của các làng nghề

Năm 2016, giá trị sản xuất của làng nghề trên địa bàn huyện 17.902 triệu

đồng, trong đó doanh thu của nghề mây tre đan lớn nhất, đạt 8.290 triệu đồng.

Bảng 2.6. Doanh thu của các làng nghề năm 2016

TT

1

2

3

4



Tên làng nghề

Mây tre đan Bao La

Mây tre đan Thủy Lập

Bún bánh Ô Sa

Chế biến mắm, nước mắm



Địa chỉ

(xã)

Quảng Phú

Quảng Lợi

Quảng Vinh



Doanh thu

làng nghề 2016

(triệu đồng)

2.950

5.340

7.856



Quảng Công

1.756

Tân Thành

(Nguồn: số liệu điều tra và các báo cáo của phòng kinh tế- hạ tầng).



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



33



Khoá luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



Qua bảng trên cho ta thấy: doanh thu năm 2016 của các làng nghề và làng

nghề truyền thống tương đối cao, góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển của

huyện. Các sản phẩm của nghề và làng nghề tăng theo các năm và nó được thể hiện

qua bảng sau

Bảng 2.7. Sản lượng của nghề và làng nghề của huyện

Tên sản phẩm



Đơn vị tính



2016



2017



So với cùng kỳ

năm trước (%)



Cát đen, vàng

M3

43586

44112

101,2

Đá cuội Sỏi

M3

1499

1517

101,2

Nước Mắm

1000 lít

107

110

102,2

Xay xát

Tấn

43190

44189

102,3

SX nước đá

Tấn

1718

1795

104,5

SX rượu

1000 lít

163

166

101,5

Gổ xẻ các loại

M3

1029

1046

101,6

Cửa ra vào các loại

M2

4144

4211

101,6

Cầu thang gổ

M2

1532

1559

101,8

Mây tre đan các loại

1000 cái

232

235

101,5

Nón, mủ lá

1000 cái

853

870

102,0

Cửa hoa sắt

M2

11041

11589

105,0

Cửa nhơm kính

M2

13580

14278

105,1

Sa lơng gổ không khảm

Bộ

550

562

102,1

Ghế băng các loại

Cái

1638

1680

102,6

Bàn làm việc các loại

Cái

387

394

101,9

Tủ đựng tài liệu

Cái

249

252

101,4

Giường gổ

Cái

823

843

102,5

Tủ đưng áo quần bằng gỗ

Cái

398

408

102,6

Tủ chè

Cái

438

440

100,4

Hương thờ cúng

1000 thẻ

45

47

103,7

Bờ lô

1000 viên

2116

2219

104,9

(Nguồn: Báo cáo kinh tế-xã hội 2017 của huyện Quảng Điền)

2.2.6 Thu nhập của lao động trong các làng nghề

Bảng 2.8.Thu nhập bình quân của lao động trong các làng nghề



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



34



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



Tên các làng nghề

Thu nhập

Làng nghề truyền thống mây tre đan Bao La

2,5-3 triệu đồng/tháng

Làng nghề mây tre đan Thủy Lập

2,5-3 triệu đồng/tháng

Làng nghề chế biến nước mắm Tân Thành

3-3,5 triệu đồng/tháng

Làng nghề bún bánh Ôsa

3-3,5 triệu đồng/tháng

(Nguồn: Theo số liệu điều tra và các báo cáo của huyện)

Qua điều tra thực tế tại làng nghề mây tre đan Bao La, ngày công của một

thợ giỏi cao nhất là 100.000 ngày, của thợ bình thường khoảng 70.000 – 80.000

đồng/ngày; ở thơn Thuỷ Lập ngày cơng còn thấp hơn, khoảng 50.000-60.000 đồng,

còn làng nghề nước mắm và bún bánh Ơsa ngày cơng cũng tương đối cao. Nhưng

nhìn chung, có thể thấy rằng thu nhập bình qn của lao động trong các làng nghề ở

Quảng Điền còn thấp.

Bảng 2.9. Số lao động trong các làng nghề

STT



1

2

3

4



Địa chỉ



Tên làng nghề



(xã)



Mây tre đan Bao La

Mây tre đan Thủy

Lập

Bún bánh Ô Sa

Chế biến mắm, nước

mắm Tân Thành



Số hộ làm



Số lao



nghề/Tổng



động



Ghi chú



số hộ



Quảng Phú



134/309



1.395



Quảng Lợi



352/555



2.980



Quảng Vinh



71/171



617



Quảng Công



61/172



767



Làng nghề

truyền thống



Làng nghề



(Nguồn số liệu thống kê 2015-2016, huyện Quảng Điền)

Qua khảo sát và phỏng vấn các hộ trong làng nghề mây tre đan Bao La thì

họ cho hay: “Nhờ có nghề đan lát này giúp cơ có thêm thu nhập để trang trải cho gia

đình của mình”. Vì thế, sự phát triển của các làng nghề đã thu hút được một lượng

lao động lớn, góp phần giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn. Năm 2016

các làng nghề đã thu hút được 5.759 lao động. Trong đó các làng nghề mây tre đan

thu hút nhiều nhất là 4375 lao động.

2.2.7 Về sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường

- Sử dụng tài ngun



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



35



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



Hầu hết các nguồn nguyên liệu chính phục vụ cho sản xuất ở các làng nghề

đều sẵn có trong tỉnh nên các cơ sở trực tiếp thu mua với người cung cấp nguyên

liệu; chỉ có khoảng 5% số cơ sở là phải thu mua nguyên liệu ngoài tỉnh hoặc trong

nước đó là các ngành nghề mộc mỹ nghệ, sản xuất đồ ngũ kim gia dụng và thêu.

Tuy nhiên có một số ngun liệu chính phục vụ cho các làng nghề khơng thể mua tự

do ngồi thị trường như gỗ quý hiếm cho sản xuất mộc cao cấp, một số loại lâm sản

phụ khác phục vụ cho các nghề mây tre đan nón lá là người dân phải tự khai thác và

tìm nguồn để thu mua cũng gặp khơng ít khó khăn do tính mùa vụ hoặc khơng hợp

pháp. Những loại nguyên liệu đặc thù này rất cần có sự quan tâm và tạo điều kiện

của nhà nước bằng những cơ chế chính sách cụ thể để giúp các cơ sở sản xuất ổn

định hơn.

- Bảo vệ môi trường

Một đặc điểm nữa của các làng nghề liên quan đến việc bảo vệ môi trường là

hầu hết các cơ sở sản xuất trong làng nghề đều đặt tại nhà dân (lấy nhà ở làm nơi

sản xuất), tình trạng sản xuất xen lẫn với sinh hoạt của gia đình đã gây nhiều bất cập

trong công tác bảo vệ môi trường. Do nằm xen lẫn trong khu dân cư nên việc thu

hồi và quản lý chất thải trong quá trình sản xuất của các cơ sở ở làng nghề là rất khó

khăn; hầu hết nước thải sản xuất đều được thải chung với đường cống nước thải và

nước sinh hoạt của làng hoặc thải trực tiếp ra ao hồ, ruộng đồng. Sau đó các loại

nước thải này được đưa ra sơng hoặc kênh mương phục vụ tưới tiêu. Tất cả nước

thải sản xuất ra đều chưa được xử lý và các làng nghề chưa có tổ chức thu gom các

loại chất rắn chung mà chủ yếu từng cơ sở tự thu gom và xử lý theo nhiều cách khác

nhau chưa đảm bảo vệ sinh mơi trường, từ đó gây ra nhiều khó khăn cho việc sản

xuất kinh doanh của làng nghề và cộng đồng các địa phương lân cận. Ngoài ra, một

số làng nghề có độ ơ nhiễm bụi khói, mùi và tiếng ồn rất lớn (như chế biến thực

phẩm, gia công sửa chữa cơ khí, cưa xẻ gỗ).

Nhìn chung, với thực trạng hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong các làng nghề

hiện nay là không thể áp dụng được các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường theo

phương thức tập trung và đồng bộ vì có q nhiều ngõ, xóm nhỏ hẹp cùng với hệ

thống thoát nước lạc hậu theo tự nhiên tạo nên hoặc theo tập quá sinh hoạt của từng



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



36



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



người dân ở các địa phương còn rất thô sơ, lạc hậu. Các làng nghề đều nằm ở vùng

nơng thơn, nên các xã đều khơng có cán bộ chuyên trách về bảo vệ môi trường. Hơn

nữa ý thức bảo vệ môi trường của người dân và các cơ sở sản xuất còn rất kém,

nhiều lao động ở các làng nghề khơng có cả trang thiết bị bảo hộ lao động tối thiểu

như găng tay, kính, khẩu trang đúng tiêu chuẩn. Đây là vấn đề gây ảnh hưởng rất

lớn đến phát triển kinh tế của làng nghề với sức khỏe của cộng đồng dân cư trong

địa phương rất cần có sự quan tâm của nhà nước và chính quyền địa phương.

2.2.8 Thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của làng nghề

- Thành tựu

Qua kết quả điều tra 50 hộ cơ sở sản xuất và qua báo cáo kinh tế-xã hội của

huyện cho thấy làng nghề và ngành nghề đã giải quyết việc làm ổn định cho trên

15.000 lao động ở nơng thơn với mức thu nhập bình qn từ 2.000.000-2.500.000

đồng/người/tháng, trong đó chưa tính số lao động thời vụ bình quân mỗi năm làm từ

4 -5 tháng với mức thu nhập từ 1.500.000 - 2.500.000 đồng/người/tháng. Trong các

ngành nghề thì ngành nghề đan lát, nón lá, thêu có mức thu nhập thấp nhất, tuy

nhiên nếu các hộ biết tận dụng lao động nhàn rỗi của các thành viên trong gia đình

thì hằng tháng mỗi hộ làm nghề ở nơng thơn cũng có mức thu nhập từ 1.500.000 –

2.000.000 đồng. Đặc biệt chỉ có các nghề như mộc mỹ nghệ, đúc đồng, sản xuất

hàng ngũ kim gia dụng đòi hỏi người thợ phải có tay nghề từ khá trở lên. Đây là

những ngành nghề có mức thu nhập cao nhất đối với thợ có tay nghề, bình qn mỗi

tháng đạt từ 3.000.000-3.500.000 đồng, còn thợ trung bình khoảng 2.500.0003.000.000 đồng/tháng.

Số lao động của các làng nghề và ngành nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa

bàn tỉnh chiếm tỷ trọng từ 37 -39% so tổng số lao động của khu vực sản xuất công

nghiệp dân doanh hằng năm. Đồng thời khu vực sản xuất của các làng nghề và

ngành nghề TTCN hằng năm cũng đóng góp khoảng từ 39-40% trong tổng giá trị

sản xuất cơng nghiệp khu vực dân doanh (ngồi quốc doanh) và chiếm khoảng 8 9% so với giá trị sản xuất cơng nghiệp tồn tỉnh.

Hầu hết các ngành nghề truyền thống, nhất là các ngành nghề sản xuất hàng

thủ công mỹ nghệ đang phát triển đều kế thừa những thành tựu kỹ thuật truyền



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



37



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



thống đã được đúc kết từ lâu đời. Nhiều sản phẩm không chỉ phục vụ du lịch, trang

trí nội thất mà còn góp phần tơn tạo, phục hồi các di tích lịch sử văn hóa trong và

ngoài tỉnh như các sản phẩm đúc đồng, đúc tượng đài các danh nhân văn hóa, đại

hồng chung; các sản phẩm mộc phục chế cung đình, các cơng trình kiến trúc cổ, nhà

cổ,… có thể nói việc khơi phục, phát triển các nghề thủ công mỹ nghệ trong những

năm qua ở huyện Quảng Điền đã góp phần đáng kể trong việc giữ gìn, phục hồi các

di sản văn hóa và các di tích lịch sử của nước nhà và địa phương. Đây là những nổ

lực lớn của những người thợ thủ công ở các làng nghề đã cố gắng kế thừa và phát

huy truyền thống nghề nghiệp, đã góp phần khơng nhỏ vào việc duy trì, bảo tồn di

sản văn hóa lâu đời của cha ơng.

Trong năm 2017 huyện cũng đã có nhiều chính sách làm thúc đẩy làng

nghề phát triển như:

Trong năm huyện đã mở được lớp học nghề cho nhân dân ở 8 xã, đào tạo tập

trung cho 120 học viên, tổng kinh phí trên 80 triệu đồng. Bình qn 1 lớp học là 10

triệu đồng.

Đơn đốc, hướng dẫn các cơ sở sản xuất triển khai thực hiện có hiệu quả

các đề án khuyến cơng năm 2017. Hiện nay, có 03 đề án đang triển khai theo

đúng tiến độ kế hoạch. Và có 1 đề án sẽ được tiến hành vào năm 2018 đó là xây

dựng nhà trưng bày sản phẩm làng nghề Bao La ( giai đoạn 1: năm 2018, tổng

mức đầu tư khoảng 3,5 tỷ đồng).



Hình 2.2: Mơ hình nhà trưng bày sản phẩm làng nghề Bao La

(Nguồn: phòng kinh tế-hạ tầng)

SVTH: Lê Thị Hồng Anh



38



Khoá luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



Huyện đã hướng dẫn, hỗ trợ 08 cơ sở tham gia trưng bày các nông sản, đặc sản,

hàng thủ công mỹ nghệ đặc trưng của huyện tại Hội nghị kết nối cung cầu hàng hóa lần

2 tại Sở Cơng Thương. Qua đó, một số cơ sở đã ký kết biên bản ghi nhớ với các nhà

phân phối để tiêu thụ sản phẩm tại các siêu thị trong và ngoài tỉnh.

Huyện đã tổ chức cuộc bình chọn sản phẩm cơng nghiệp nơng thơn tiêu biểu

trên địa bàn huyện năm 2017 nhằm phát hiện và tôn vinh các sản phẩm công

nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nơng thơn có chất lượng, giá trị sử dụng, có tiềm năng

phát triển sản xuất, mở rộng thị trường, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng trong và

ngoài tỉnh; đồng thời, lựa chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu của

huyện tham gia bình chọn cấp tỉnh. Kết quả có 24 sản phẩm của 11 cơ sở đăng ký

tham gia được công nhận là sản phẩm công nghiệp nông thơn tiêu biểu, trong đó có

01 giải nhất, 02 giải nhì và 03 giải ba.

-



Hạn chế



+



Thị trường

Thiếu trung tâm trưng bày và giới thiệu sản phẩm làng nghề chung của tỉnh



và các làng nghề cũng chưa có nhà trưng bày giới thiệu sản phẩm.

Các cơ sở còn thiếu năng động trong việc tìm thị trường mới, chưa tạo ra

nhiều đối tác liên kết để tiêu thụ sản phẩm; một số cơ sở sản xuất chưa mạnh dạn

đầu tư, phần lớn còn trong chờ ỷ lại sự bao cấp của Nhà nước

Sản phẩm làng nghề hầu hết chưa xây dựng được thương hiệu, chưa có chỗ

đứng vững chắc trên thị trường trong và ngồi nước, một số sản phẩm có nguy cơ

mất dần tính độc đáo và giá trị truyền thống vốn có, tình trạng mất vệ sinh an tồn

thực phẩm của một số sản phẩm chế biến nơng sản có nguy cơ xẩy ra.

Việc du nhập, nhân cấy nghề mới để hình thành làng nghề còn hạn chế, một

số nghề mới du nhập từ các tỉnh khác tính ổn định hoạt động nghề chưa cao, thường

bị động trong nguồn cung nguyên liệu và thị trường tiêu thụ.

+ Năng lực quản lý

Vai trò quản lý nhà nước của cơ quan chuyên ngành nhiều mặt còn lúng túng,

thiếu tiếp cận với thị trường bên ngồi để nắm bắt thơng tin định hướng cho các cơ

sở sản xuất và tháo gở những khó khăn, vướng mắc trong thực tiển ở cơ sở; quá

trình tham mưu các chính sách hỗ trợ khuyến khích cho các cơ sở còn thiếu kịp

SVTH: Lê Thị Hồng Anh



39



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Phân tích thực trạng phát triển làng nghề ở huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên Huế

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×