Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khố luận tốt nghiệp

-



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



Địa hình huyện Quảng Điền

Là một huyện vùng trũng tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm phía Bắc lưu vực sơng



Bồ và phía Tây phá Tam Giang nên giao thông rất tiện lợi. Về đường bộ có đường

tỉnh lộ nối với quốc lộ 1A-Sịa-An Lỗ; Sịa Tây Ba-Bao Vinh-Huế, Sịa-Phong Lai

liền với nhiều xã Phòng Điền, tuyến đường QL49 Hương Trà, Quảng Điền, Phong

Điền đến Hải Lăng (Quảng Trị), hầu hết các xã đều có đường ơtơ đi lại thuận tiện.

-



Khí hậu và thời tiết

Khí hậu ở Quảng Điền có hai mùa rõ rệt:

Mùa khơ từ tháng 3 đến thàng 8, chịu ảnh hưởng gió Tây Nam nên khơng khí



khơ nóng, oi bức.

Mùa mưa từ tháng 9 năm trước đến tháng giêng năm sau. Tháng 9-10 thường

kéo theo lũ lụt, tháng 11 mưa giai dẳng. Nhiệt độ trung bình là 25oC. Các tháng

7,8,9,10 thường hay có bão. Huyện Quảng Điền ln ln phải chịu sự đối xử

tương đối khắc nghiệt của thiên nhiên “chưa mưa đã úng, chưa nắng đã hạn” ở một

số vùng.

Tuy với điều kiện thời tiết như vậy cũng tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho

Quảng Điền phát triển kinh tế, đặc biệt là trồng trọt và nuôi trồng thủy sản.

- Tài ngun

+ Tài ngun đất:

Quảng Điền có tổng diện tích đất tự nhiên là 16.328,6 ha. Các loại đất có

diện tích tương đối lớn là đất phù sa, đất đỏ vàng, đất mùn vàng trên núi, đất cát,

mặn… phân bố trên các vùng khác nhau.

+ Tài nguyên biển và thủy sản:

Địa phương thuộc vùng đầm phá và ven biển, có diện tích mặt nước khá lớn,

tồn huyện gần 12 km bờ biển, 3.535 ha mặt nước phá Tam Giang, 340 ha mặt nước

sông hồ, 377 ha ruộng lúa vùng trũng là điều kiện để mở rộng lĩnh vực nuôi trồng

và đánh bắt nguồn lợi thủy sản. Đây được xem là mũi nhọn phát triển kinh tế theo

hướng đa dạng hóa sản phẩm. Để nuôi trồng và khai thác nguồn lợi thủy sản một

cách bền vững, huyện Quảng Điền đã chú trọng công tác khai thác kết hợp với bảo

vệ nguồn lợi thủy sản.



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



23



Khố luận tốt nghiệp

+



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



Tài nguyên rừng

Hiện nay, đất trống, đồi trọc còn khoảng 1.337,02ha chiếm 8,19% diện tích



đất tự nhiên. Đây là nguồn tài nguyên lớn tạo điều kiện thuận lợi cho huyện mở

rộng diện tích rừng trong những năm tới.

+



Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản của huyện Quảng Điền rất phong phú và đa dạng,



trong đó có các loại chủ yếu như: titan, than bùn, sét, nước khoáng.

2.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội

-



Kinh tế



Trong những năm qua, kinh tế các huyện cũng đã có bước phát triển trong

những ngành nơng nghiêp-cơng nghiệp-dịch vụ . Điều đó được thể hiện qua bảng

sau:

Bảng 2.1. Giá trị sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ của huyện qua

các năm (2011-2016) theo giá so sánh 2010

Đơn vị tính: Triệu đồng



Năm

2011

2012

Nơng nghiệp 417916,0 441297,0

Công nghiệp 77199,7 92616,2

Dịch vụ

289670,0 358590,0



2013

343915,0

93575,2

394448,0



2014

513948,0

96487,4

439849,0



2015

563774,0

109121,9

497512,0



2016

584497,0

117777,8

551482,0



( nguồn: tổng cục thống kê năm 2016)

Qua bảng trên cho ta thấy: từ năm 2012-2016 thì giá trị sản xuất trong nơng

nghiêp-cơng nghiệp-dịch vụ có xu hướng tăng qua các năm.

+ Trong nơng nghiệp, hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ cho sản xuất nông

nghiệp được đầu tư mới và nâng cấp lên, cùng với sự phát triển và hoạt động có

hiệu quả của hệ thống khuyến nơng, góp phần đưa nhanh tiến bộ khoa học công

nghệ vào sản xuất và chế biến đã làm tăng năng suất, sản lượng và giá trị sản xuất

nông nghiệp. Nếu như giá trị sản xuất nông nghiệp (tính theo giá so sánh 2010) năm

2012 là 441297,0 triệu đồng thì năm 2016 là 584497,0 triệu đồng, tăng 1,3 lần so

với năm 2012.

+ Các ngành nghề, tiểu thủ cơng nghiệp tiếp tục duy trì và có chiều hướng



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



24



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



phát triển ( tăng 1,27 lần so với năm 2012).

+ Về thương mại, hoạt động trao đổi hàng hoá và du lịch của khu vực này

tăng khá nhanh trong những năm vừa qua. Và với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp

và là nơi có nhiều di sản thiên nhiên và văn hóa, huyện thu hút nhiều khách du lịch

đến tham quan. Nhờ vậy, phát triển du lịch gắn với làng nghề đã và sẽ là điều kiện

tốt để tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ cho các địa phương.

Đơn vị: %



(Nguồn: Báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội huyện Quảng Điền hàng năm

từ 2010 đến 2017).

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu kinh tế của huyện Quảng Điền (2010 – 2017)

Nhận xét: Những năm qua cơ cấu kinh tế của huyện Quảng Điền chuyển dịch

nhanh, đúng hướng theo hướng dịch vụ - công nghiệp – nông nghiệp. Tỷ trọng khu

vực công nghiệp – xây dựng tăng nhanh, từ 15,5% năm 2010 lên 25,8% năm 2017;

tỷ trọng khu vực dịch vụ tăng tương ứng qua các thời điểm trên là 35,2%; 38,1%;

40,5%; tỷ trọng khu vực nông – lâm nghiệp và thủy sản liên tục giảm, tương ứng

trong các năm kể trên là 54,1%,50,2% và 33,7%.

-



Kết cấu hạ tầng nông thôn



Hiện nay tất cả các hệ thống đường trục huyện đã được nâng cấp đổ bê tông

+ Giao thông

Là một huyện vùng trũng tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm phía Bắc lưu vực sơng

Bồ và phía Tây phá Tam Giang nên giao thơng rất tiện lợi.



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



25



Khoá luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



+ Hệ thống cấp điện

Ngồi hệ thống điện lưới quốc gia. Đã có 100% xã, thị trấn có điện lưới quốc gia

với tỷ lệ số hộ sử dụng điện đến nay đạt trên 98,5%.

+ Hệ thống cấp nước sạch

Hệ thống cấp nước ở huyện Quảng Điền, nguồn nước lấy từ sông Bồ và

Sông Hương.

Với hệ thống cấp nước trên đến nay đã có khoảng 81,5% số hộ dân trên địa

bàn được sử dụng nước sạch.

+ Hệ thống thông tin liên lạc

Hệ thống thông tin liên lạc ở huyện Quảng Điền tương đối phát triển, về Bưu

chính đã có các dịch vụ chất lượng cao như EMS, CTN, PTN…

-



Dân số và lao động

Dân số trung bình năm 2016 là 83.872 người (theo niên giám thống kê 2016



huyện Quảng Điền). Trong đó nam 41.240; nữ 42.632. Mật độ dân số bình quân 514

người/km2. Phân bố dân cư không đồng đều được thể hiện qua bảng dưới đây:

Bảng 2.2. Cơ cấu dân số khu vực thành thị và nông thôn của

huyện Quảng Điền

2011



Khu vực



2016



Người

Tỷ lệ %

Người

Tỷ lệ %

Tổng số

83.456

100,00

83.872

100,00

Khu vực thành thị

9.903

11,87

10.796

12,87

Khu vực nông thôn

73.553

88,13

73.076

87,13

(Nguồn: [6, tr.18] niên giám thống kê 2016 huyện Quảng Điền)

Tổng số lao động 41.092 lao động, chiếm khoảng 48,99%. Trong đó:

+

+



Lao động sản xuất Nông Nghiệp 17234 lao động, chiếm 20,55%

Lao động sản xuất Công Nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 7954 lao động chiếm



9,48%

+ Lao động trong Thương mại và Dịch vụ 14836 lao động, chiếm 17,68%

- Y tế

Bảng 2.3. Số cơ sở y tế, giường bệnh và cán bộ y tế

Cơ sở y tế



2012

12



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



2013

12



2014

12



2015

12



2016

12

26



Khố luận tốt nghiệp

Bệnh viện

Trạm y tế

Giường bệnh

Cán bộ ngành y

Cán bộ ngành



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn

1

11

113

138

8



1

11

113

138

16



1

11

113

137

17



1

11

113

138

17



1

11

113

134

15



dược

(Nguồn: Niêm giám thống kê 2016 huyện Quảng Điền)

Qua bảng sau cho ta thấy 100% số xã có trạm y tế cấp xã, số giường bệnh

ngày càng được bổ sung, số bác sĩ ngày càng tăng đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh

cho nhân dân tuy nhiên số y sĩ kỹ thuật viên đang ngày càng giảm, số dược sỹ thiếu

vì vậy cần bổ sung kịp thời để phục vụ tốt hơn nữa công tác khám chữa bệnh và cấp

bán thuốc cho bà con.

2.1.3 Đánh giá sự ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội đến sự phát

triển làng nghề ở huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên Huế

- Thuận lợi

Quảng Điền là huyện có nhiều cảnh quan đẹp, có các di tích lịch sử - văn hóa

giá trị, có các làng nghề truyền thống... là những tiềm năng đa dạng có thể khai thác

phát triển mạnh du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng.

Quảng Điền có hệ thống giao thơng đa dạng với đầy đủ đường bộ, đường

biển, đường sắt và kết cấu hạ tầng đã có nhiều tiến bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc

giao lưu, vận chuyển hàng hoá trong và ngồi nước.

Người dân Quảng Điền cần cù, thơng minh, khéo tay, có tinh thần đồn kết,

sáng tạo, cần kiệm.

Có nhiều nguồn nguyên liệu tại chỗ giúp làng nghề phát triển.

-



Khó khăn

Sự cố mơi trường biển tiếp tục tác động tiêu cực đến tình hình phát triển kinh



tế - xã hội trên địa bàn, nhất là ngành khai thác thủy sản mặc dù đã có chuyển biến,

song khó khơi phục sản xuất như trước sự cố.

Điều kiện nguồn lực còn hạn chế, hạn chế đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật.

Cơng tác giải phóng mặt bằng và hỗ trợ, tái định cư còn gặp nhiều khó khăn do các

chính sách về đất đai, đền bù, tái định cư còn nhiều bất cập.



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



27



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



Mức độ trang, thiết bị công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước trên

địa bàn tỉnh vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của các đơn vị, nhất là tại các bộ phận một

cửa của UBND cấp xã. Mạng cáp quang tốc độ cao đến các xã chưa được đầu tư

đồng bộ

Việc thực hiện các nhiệm vụ cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh

vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp.

Giáo dục phổ thơng và dạy nghề còn nhiều khó khăn. Các cơ sở dạy nghề

khó khăn trong cơng tác tuyển sinh.

2.2 Phân tích thực trạng phát triển làng nghề ở huyện Quảng Điền tỉnh Thừa

Thiên Huế

2.2.1 Số lượng và các sản phẩm làng nghề của huyện Quảng Điền

-



Số lượng làng nghề

Tính đến năm 2017 thì huyện Quảng Điền cơng nhận ba làng nghề đó là:



làng nghề Bún Bánh Ơ Sa, xã Quảng Vinh; làng nghề Chế biến mắm nước mắm Tân

Thành, xã Quảng Công; làng nghề Đan lát mây tre Thủy Lập, xã Quảng Lợi. Và 1

làng nghề truyền thống được trao cho làng nghề Đan lát mây tre Bao La, xã Quảng

Phú

-



Sản phẩm của nghề và làng nghề

Hầu hết sản phẩm của làng nghề và các nghề trên địa bàn là sản phẩm phi



nơng nghiệp, vừa có giá trị kinh tế vừa có giá trị văn hóa truyền thống riêng. Các

làng nghề trên địa bàn tỉnh hiện tập trung vào những nhóm sản phẩm chủ yếu sau:

+ Nhóm sản phẩm nghề và các nghề sản xuất đồ gỗ cao cấp và đồ gỗ mỹ

nghệ: Sản phẩm của các hộ làm nghề chủ yếu một số sản phẩm vừa kết hợp tính

truyền thống với tính hiện đại để phục vụ nhu cầu trang trí nội thất tại địa phương

cũng như trong như các loại bàn, ghế, tủ, giường ngủ, sập…

+ Nhóm sản nghề và làng nghề đan lát: Là nhóm sản phẩm khá đa dạng, với

nhiều chủng loại và quy cách khác nhau tùy theo đặc thù của nghề. Tuy nhiên mẫu

mã, chất lượng sản phẩm còn nhiều hạn chế, sản phẩm chủ yếu phục vụ nhu cầu nội

địa và trong tỉnh, một số sản phẩm tre đan bước đầu đang làm gia công xuất khẩu

cho các công ty lớn nhưng chất lượng sản phẩm khơng ổn định. Tuy vậy, nhóm

SVTH: Lê Thị Hồng Anh



28



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



nghề này đã góp phần đáng kể trong giải quyết lao động nông nhàn và tăng thu

nhập cho các hộ gia đình như sản, chổi đót, tre đan. Đây là nhóm sản phẩm có nhiều

tiềm năng phát triển để phục vụ xuất khẩu nhất là những sản phẩm đan lát từ tre,

mây, lá đang có thị trường khá lớn cả trong và ngoài nước nhưng cần phải đổi mới

sản phẩm, mẫu mã phù hợp với thị trường.

+ Nhóm dệt, thêu: Sản phẩm dệt, thêu khá phong phú, đa dạng với nhiều

trường phái khác nhau như thêu nghệ thuật, thêu phục vụ nghi lễ, tôn giáo, thêu

xuất khẩu sang các nước EU. Nhìn chung sản phẩm thêu ở Thừa Thiên Huế có chất

lượng và tính thẩm mỹ cao được thị trường trong và ngồi nước ưa chuộng, có thể

phát triển mạnh trong những năm đến nhất là các sản phẩm thêu phục vụ xuất khẩu

và trang trí nội thất.

+ Nhóm sản phẩm chế biến lương thực và thực phẩm: Các mặt hàng của

nhóm sản phẩm này chủ yếu là sản xuất bún, chế biến nước mắm, … phát triển khá

mạnh chủ yếu phục vụ nhu cầu trong tỉnh và tại các địa phương lân cận, không bị

cạnh tranh nhiều bởi các sản phẩm cùng loại. Đây là nhóm sản phẩm có nhiều lợi

thế để phát triển do nhu cầu tiêu thụ trong nhân dân ngày càng tăng nhưng phải

quan tâm nhiều hơn đến yếu tố vệ sinh và an toàn thực phẩm cũng như bảo vệ môi

trường của làng nghề trong q trình sản xuất.

+ Nhóm sản phẩm của nghề sản xuất nón lá và vành nón: các mặt hàng của

nhóm sản phẩm này chủ yếu là nón lá và vành nón chủ yếu phục vụ nhu cầu trong

tỉnh và một số tỉnh khác như vành nón cung cấp cho thị trường Thanh Hố.

+ Nhóm nghề tạo thế cây kiểng và sinh vật cảnh: Sản phẩm của nhóm nghề

này nổi tiếng về việc cung cấp các sản phẩm cây kiểng, non bộ, bon sai, phục vụ

nhu cầu trang trí cho các tầng lớp nhân dân trong nước, các cơ quan khách sạn lớn.

Đồng thời trồng hoa hàng hoá phục vụ cho các lễ hội, tết…

+ Nhóm sản phẩm nghề sản xuất vật liệu xây dựng: sản phẩm chủ yếu là sản

xuất vật liệu xây dựng khơng nung như bờ lơ, ngói ximăng, khai thác cát, sạn.

+ Nhóm sản phẩm nghề truyền thống sản xuất rượu thủ công: sản phẩm chủ

yếu là sản xuất ra các loại rượu bình thường để dùng hằng ngày, cho các dịp lễ,

cúng…



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



29



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



+ Nhóm sản phẩm nghề may đo và gia công hàng xuất khẩu: Sản phẩm của

nhóm nghề này chủ yếu quần áo phục vụ tại địa phương và một số sản phẩm may

công nghiệp

+ Nhóm sản phẩm các loại hình dịch vụ:

Sản phẩm của nhóm nghề này rất đa dạng nó phục vụ nhu cầu đời sống hàng

ngày của xã hội.

Bảng 2.4. Những nghề, làng nghề ở huyện Quảng Điền

Địa chỉ

(xã, thị trấn)

1 Làng nghề truyền thống mây tre đan Bao La

Quảng Phú

2 Làng nghề bún bánh Ô sa

Quảng Vinh

3 Làng nghề đán lát Thủy Lập

Quảng Lợi

4 Làng nghề chế biến nước mắm Tân Thành

Quảng Công

5 Làng xây dựng Uất Mậu

Thị trấn Sịa

6 Làng cây cảnh An Gia

Thị trấn Sịa

7 Làng vành nón Hạ Lang

Quảng Phú

8 Làng nón lá Phú Lễ

Quảng Phú

9 Làng rượu Lai Hà

Quảng Thái

10 Làng chế biến nước mắm An Lộc

Quảng Công

11 Làng chế biến nước mắm Tây Hải

Quảng Ngạn

12 Làng trồng rau Thành Trung

Quảng Thành

13 Làng trồng rau Phước Yên

Quảng Thọ

14 Làng trồng rau La Vân Thượng

Quảng Thọ

15 Làng Hoa La Vân Hạ

Quảng Thọ

16 Làng trồng cây cảnh Đông Xuyên

Quảng An

(Nguồn: Báo cáo thực trạng phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quảng Điền)



TT



Tên làng nghề



2.2.2 Thị trường tiêu thụ sản phẩm

Các sản phẩm làng nghề tại huyện Quảng Điền được tiêu thụ thơng qua hai

hình thức chủ yếu:

Một là, hộ gia đình tự bán sản phẩm đến cho khách hàng. Hình thức này là

phổ biến.

Hai là, thơng qua các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm làng nghề.

Qua điều tra, khảo sát thực tế ở 50 hộ trong địa bàn huyện: cho thấy toàn bộ

sản phẩm của các làng nghề như đan lát, bún, nước mắm, cây cảnh… chủ yếu tiêu

thụ tại địa phương trong tỉnh và một số tỉnh lân cận. Có rất ít các sản phẩm xuất



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



30



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



khẩu trực tiếp ra nước ngoài, phần lớn chỉ làm gia công xuất khẩu cho các công ty

lớn như thêu, tre đan để nhờ đó mà xuất khẩu sang nước ngoài; một số sản phẩm

chủ yếu tiêu thụ qua trung gian trong và ngồi tỉnh như nón lá, tre đan, nước mắm,

mộc mỹ nghệ nên giá của các sản phẩm này đẩy lên rất cao. Có một số sản phẩm

vừa tiêu thụ trực tiếp vừa kết hợp qua trung gian như dệt lưới, chế biến bún. Có thể

nói thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề còn nhiều hạn chế. Nếu phát

triển thêm được thị trường trong nước và một số thị trường xuất khẩu cho các sản

phẩm làng nghề tiềm năng như thêu, mộc mỹ nghệ, tre đan, dệt dèn, chắc chắn hoạt

động của nhiều làng nghề sẽ sơi động hơn và góp phần tích cực thúc đẩy chuyển

dịch cơ cấu kinh tế và lao động cho các vùng nông thôn trong tỉnh.

2.2.3 Mặt bằng và kỹ thuật công nghệ của các đơn vị sản xuất trong các làng

nghề

- Mặt bằng

Đặc điểm phổ biến của các làng nghề trong nông thôn huyện Quảng Điền là

mỗi hộ gia đình là một cơ sở sản xuất gắn liền với nhà ở, chủ yếu sử dụng lao động

thủ công. Trừ một số ngành nghề như rèn và sản xuất đồ gia dụng, mộc mỹ nghệ

các hộ có sử dụng thêm một số máy móc thiết bị và có xây dựng thêm một phần nhà

xưởng để phục vụ sản xuất nhưng khơng lớn mang tính chất nhà tạm.

Qua điều tra 50 hộ/cơ sở sản xuất làng nghề: cho thấy, quy mô về cơ sở vật

chất của các đơn vị sản xuất trong làng nghề tùy thuộc vào ngành nghề sản xuất. Có

những ngành nghề như sản xuất mây tre đan, nón lá, dệt lưới, thêu, sản xuất bún và

nước mắm, hầu hết sử dụng nhà ở làm nơi sản xuất vì vậy các hộ sản xuất không

cần đầu tư nhà xưởng; chủ yếu đầu tư vốn lưu động để phục vụ sản xuất. Vì vậy quy

mơ vốn bình qn của một hộ trong các nhóm nghề trên từ 2-12 triệu đồng chiếm

trên 96% tổng số hộ trong các làng nghề (trong đó nhóm nghề có bình qn vốn

thấp nhất là nón lá bình quân vốn dưới 2 triệu đồng/hộ sản xuất); số cơ sở sản xuất

ở các làng nghề mộc mỹ nghệ có mức vốn bình qn từ 20 triệu đến trên 100 triệu

đồng, chiếm chưa đến 4% tổng số hộ trong các làng nghề tồn huyện.

-



Kỹ thuật cơng nghệ



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



31



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



Việc áp dụng kỹ thuật công nghệ vào sản xuất của các làng nghề qua điều tra,

cho thấy: chủ yếu là lao động thủ cơng, cụ thể có 92,68% số cơ sở chủ yếu sử dụng

lao động thủ công đặc biệt là các làng về đan lát, nón lá, thêu. Số hộ có trình độ sản

xuất bán cơ khí chiếm 7,4% (mộc, sản xuất hàng ngũ kim).

Việc đầu tư kỹ thuật về máy móc thiết bị trong q trình sản xuất của các cơ

sở làng nghề còn nhiều yếu kém và bất cập do khả năng nguồn vốn hạn hẹp của các

thành phần kinh tế trong làng nghề; một phần còn xuất phát từ ngun nhân là trình

độ văn hóa của đa số các chủ cơ sở sản xuất trong làng nghề thấp; đồng thời các hộ

sản xuất chưa ý thức được tầm quan trọng của việc đổi mới kỹ thuật cơng nghệ do

đó ít coi trọng việc đầu tư cho lĩnh vực này.

Do đó, yêu cầu về đầu tư phát triển, đổi mới kỹ thuật và công nghệ sản xuất

là một đòi hỏi cấp thiết hiện nay trong các làng nghề nhất là những làng nghề sản

xuất hàng thủ công mỹ nghệ, hàng tiêu dùng và thực phẩm. Việc đổi mới ở các làng

nghề không chỉ đơn thuần là đầu tư để đưa máy móc thiết bị, cơng nghệ mới vào

các cơng đoạn sản xuất mà còn có một yếu tố khơng kém phần quan trọng đó là làm

sao đổi mới trong cách làm, cách sáng tạo và tiếp nhận của chính những người thợ

thủ cơng.

2.2.4 Hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề

Trên địa bàn huyện đã hình thành một số doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh

các sản phẩm làng nghề. Các doanh nghiệp này vừa làm nhiệm vụ cung ứng nguyên

vật liệu, vừa tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho các làng nghề. Tuy vậy, các

doanh nghiệp hình thành chủ yếu trong nghề mây tre đan, chế biến hải sản, mộc.

Còn các nghề khác như chế biến nông sản thực phẩm, nấu rượu, trồng rau, trồng

hoa, cây cảnh…chủ yếu hộ gia đình tự tổ chức sản xuất và tiêu thụ.

Tuy vậy, tại các làng nghề ở huyện Quảng Điền hình thức kinh doanh hộ gia

đình là chủ yếu. Sự xuất hiện của các doanh nghiệp còn ít. Quy mơ của các doanh

nghiệp còn nhỏ và chủ yếu các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm hàng thủ công

mây tre đan. Điều này vừa phản ánh kết quả của sự phát triển làng nghề, đồng thời

vừa là nguyên nhân hạn chế sự phát triển của các làng nghề.

Bảng 2.5. Các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm làng nghề



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



32



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn

chủ yếu ở huyện Quảng Điền



STT



Tên doanh



Địa chỉ



Ngành nghề kinh



Doanh thu



1

2



nghiệp

DNTN Tân Tiến Thị trấn Sịa

Xí nghiệp Hoài Xã Quảng



doanh

2017(tr.đồng)

Sản xuất hàng mỹ nghệ

1.750,5

Sản xuất hàng thủ công

1.721,5



3



Ân

DNTN Tiến Vũ



Vinh

Xã Quảng



mỹ nghệ

Sản xuất Mộc mỹ nghệ



4



Công ty TNHH



Vinh

Xã Quảng



Chế biến nước mắm



1.001,0



5



Tam Giang

DNTN Ngọc



Công

Xã Quảng



Mua bán hàng thủ công



1.528,0



6



Bắc

Ngạn

HTX mây tre Xã Quảng



mỹ nghệ

Sản xuất hàng thủ công



1.631



7



đan Bao La

DNTN làng



Phú

Xã Quảng



mây tre đan

Sản xuất sản phẩm đồ gỗ



1.658,0



nghề Việt



phú

tre nứa

(Nguồn: Tổng cục thống kê 2016 huyện Quảng Điền)



223,5



Qua bảng trên ta thấy được số doanh nghiệp kinh doanh trong các làng nghề

còn rất ít, nhưng doanh thu mà doanh nghiệp đạt được cũng tương đối cao. Vì vậy,

ta cần phải có chính sách thu hút hơn nữa các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh

tham gia vào làng nghề để thúc đẩy làng nghề phát triển hơn.

2.2.5 Kết quả sản xuất kinh doanh của các làng nghề

Năm 2016, giá trị sản xuất của làng nghề trên địa bàn huyện 17.902 triệu

đồng, trong đó doanh thu của nghề mây tre đan lớn nhất, đạt 8.290 triệu đồng.

Bảng 2.6. Doanh thu của các làng nghề năm 2016

TT

1

2

3

4



Tên làng nghề

Mây tre đan Bao La

Mây tre đan Thủy Lập

Bún bánh Ô Sa

Chế biến mắm, nước mắm



Địa chỉ

(xã)

Quảng Phú

Quảng Lợi

Quảng Vinh



Doanh thu

làng nghề 2016

(triệu đồng)

2.950

5.340

7.856



Quảng Công

1.756

Tân Thành

(Nguồn: số liệu điều tra và các báo cáo của phòng kinh tế- hạ tầng).



SVTH: Lê Thị Hoàng Anh



33



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×