Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khoá luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



nghiệp, các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống... Ngành nghề phi nơng nghiệp

còn được gọi là ngành nghề nơng thơn. “Ngành nghề nông thôn là những hoạt

động kinh tế phi nông nghiệp, bao gồm công nghiệp, thủ công nghiệp và các hoạt

động dịch vụ phục vụ cho sản xuất và đời sống" [18]. Nghị định số 66/2006/NĐCP quy định ngành nghề nông thôn gồm:

+ Chế biến, bảo quản nông, lâm, thuỷ sản.

+ Sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may,

cơ khí nhỏ.

+ Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn.

+ Gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh.

+ Xây dựng, vận tải trong nội bộ xã, liên xã và các dịch vụ khác phục vụ sản

xuất, đời sống dân cư nông thôn.

+ Tổ chức đào tạo nghề, truyền nghề; tư vấn sản xuất, kinh doanh trong lĩnh

vực ngành nghề nông thôn. [5]

Làng nghề là một cụm dân cư như làng, thôn, ấp, bản, buôn, phum, sóc, (gọi

chung là làng) có sản xuất kinh doanh ngành nghề nông thôn mà số hộ làm nghề và thu

nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao [16].

Theo giáo sư Trần Quốc Vượng thì “Làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng

trọt theo lối tiểu nơng và chăn ni nhưng cũng có một số nghề phụ khác như đan

lát, gốm sứ, làm tương... song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng

lớp thợ thủ cơng chun nghiệp hay bán chun nghiệp, có phường (cơ cấu tổ

chức), có ơng trùm, ơng cả... cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chun tâm, có quy

trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân

vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ cơng,

những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng và có quan hệ

tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị và tiến

tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngồi” [28].

Khái niệm làng nghề theo Thơng tư 116/2006/TT- BNN của Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp,

bản, làng, bn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị



SVTH: Lê Thị Hoàng Anh



5



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản

phẩm khác nhau” [4].

Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công truyền thống, là

trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và các hộ gia đình

chuyên làm nghề mang tính lâu đời, được truyền đi truyền lại qua nhiều thế hệ,

những sản phẩm này có những nét đặc thù riêng cho vùng và con người đó. Và có

sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, hệ thống

doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí là bán lẻ, các thành viên ln có ý thức tuân

theo những quy ước, chế độ, gia tộc, cùng phường nghề trong quá trình lịch sử phát

triển đã hình thành nghề ngay trên đơn vị cư vị cư trú của xóm.

Tiêu chí cơng nhận làng nghề và làng nghề truyền thống

Tiêu chí cơng nhận làng nghề

- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành

nghề nông thôn

- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm

đề nghị cơng nhận

- Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Tiêu chí cơng nhận Làng nghề truyền thống đạt 03 tiêu chí sau được quy định tại

Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP

ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn:

- Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị

công nhận.

- Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc.

- Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng

nghề.

1.1.2 Phân loại làng nghề

-



Theo thời gian hình thành, hoạt động

Làng nghề truyền thống: Là những làng nghề xuất hiện từ lâu, được truyền



qua nhiều thế hệ và còn tồn tại đến ngày nay.



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



6



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



Làng nghề mới: là làng nghề xuất hiện trong những năm gần đây. Những

làng nghề hình thành do sự lan tỏa của làng nghề truyền thống hoặc được du nhập

từ các địa phương khác. Một số làng nghề ra đời từ chủ trương chính sách của địa

phương để tạo việc làm cho người lao động.

-



Theo ngành nghề

Làng nghề được chia thành các loại làng nghề với những nghề cụ thể.

Sơ đồ về các làng nghề



Làng

nghề

chế

biến

lương

thực,

thực

phẩm



-



Làng

nghề

thủ

công

mỹ

nghệ



Làng

nghề

công

nghiệp

tiêu

dùng



Làng

nghề

sản

xuất

vật liệu

xây

dựng



Làng

nghề

buôn

bán,

dịch

vụ



Theo quy mô làng nghề

Làng nghề quy mô lớn, lan tỏa liên kết nhiều thôn/làng làm cùng một nghề



hoặc cùng một không gian địa lý lãnh thổ, tạo thành vùng nghề hoặc xã nghề; ở đó

các làng nghề có quy mơ lao động phi nơng nghiệp rất lớn, không chỉ với lực lượng

lao động tại chỗ mà còn thu hút lao động ở các làng khác đến làm thuê.

Làng nghề quy mô nhỏ, là trong phạm vi một làng theo hành chính địa

phương. Ở các làng nghề này thường hoạt động kinh doanh một ngành nghề phi

nông nghiệp, được truyền trong phạm vi dòng tộc.

-



Theo tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề, có

+ Các làng nghề vừa sản xuất nơng nghiệp vừa kinh doanh các ngành nghề



phi nông nghiệp

+ Các làng nghề thủ công nghiệp chuyên nghiệp

+ Các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu.



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



7



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



Biểu đồ 2.1: Phân loại các làng nghề Việt Nam theo loại hình sản xuất

(Nguồn: Nghiên cứu về các làng nghề ở Việt Nam)

A: Vật liệu xây dựng và khai thác đá

B: Thủ công mĩ nghệ

C: Tái chế phế liệu

D: Công nghệ thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ

E: Dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da

F: Các nghề khác

1.1.3 Sự hình thành và phát triển của làng nghề

Các làng nghề Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước đây. Với sự phát

triển của nền văn minh nông nghiệp, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các

vùng nông thôn Việt Nam, ban đầu là những công việc phụ tranh thủ làm lúc nông

nhàn, để chế tại những vật dụng cần thiết trong sinh hoạt, phát triển lên thành nhu

cầu trao đổi hàng hóa và tìm kiếm thu nhập ngồi nghề nơng. Sẽ có nhiều làng nghề

cùng tồn tại ở nhiều vùng khác nhau và cho ra đời nhiều loại sản phẩm khác và

giống nhau nhưng chưa chắc chúng đã xuất hiện đồng thời. Sự hình thành các làng

nghề thường qua những cách thức sau:

Thứ nhất, một số làng nghề hình thành từ một số cá nhân hay gia đình có

những kỹ năng và sự sáng tạo nhất định. Từ sự sáng tạo của họ, quy trình sản xuất

và sản phẩm không ngừng được bổ sung và hoàn thiện. rồi họ truyền nghề cho dân

SVTH: Lê Thị Hồng Anh



8



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



cư trong làng, làm cho nghề đó ngày càng lan truyền ra khắp làng và tạo thành làng

nghề.

Thứ hai, phần lớn các làng nghề được hình thành trên cơ sở có những nghệ

nhân, với nhiều lý do khác nhau đã từ nơi khác đến truyền nghề cho dân làng.

Thứ ba, một số làng nghề hình thành do có những người đi nơi khác học

nghề rồi về dạy lại cho những người khác trong gia đình, dòng họ và mở rộng dần

phạm vi ra khắp làng.

Thứ tư, một số làng nghề mới hình thành trong những năm gần đây, sau năm

1954 được hình thành một cách có chủ ý do các địa phương thực hiện chủ trương

phát triển nghề phụ trong các hợp tác xã nông nghiệp.

Thứ năm, trong thời kỳ đổi mới hiện nay, có một số làng nghề đang được

hình thành trên cơ sở sự lan toả dần từ một số làng nghề truyền thống, tạo thành một

cụm làng nghề trên một vùng lãnh thổ lân cận với làng nghề truyền thống.

-



Để các làng nghề này tồn tại và phát triển lâu dài thì cần có những điều kiện sau:

Một là, gần đường giao thông. hầu hết các làng nghề cổ truyền đều nằm trên



các đầu mối giao thông quan trọng, đặc biệt là những đầu mối giao thông thuỷ bộ.

Hai là, gần nguồn ngun liệu. hầu như khơng có làng nghề nào lại khơng

gắn bó chặt chẽ với một trong những nguồn nguyên liệu chủ yếu phục vụ cho sản

xuất của làng nghề.

Ba là, gần nơi tiêu thụ hoặc thị trường chính, đó là những nơi tập trung dân

cư với mật độ khá cao, gần bến sông, bãi chợ và đặc biệt là rất gần hoặc không quá

xa các trung tâm thương mại.

Bốn là, sức ép về kinh tế. biểu hiện rõ nhất thường là sự hình thành và phát

triển của các làng nghề ở những nơi ít ruộng đất, mật độ dân số cao, đất chật người

đông, thêm vào đó có khi còn là do chất đất hoặc khí hậu khơng phù hợp làm cho

nghề nơng khó có điều kiện phát triển để đảm bảo thu nhập và đời sống dân cư

trong làng.

Năm là, lao động và tập quán sản xuất ở từng vùng. nếu khơng có những

người tâm huyết với nghề, có nhiều quan hệ gắn bó với nghề và có khả năng ứng



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



9



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



phó với những tình huống xấu, bất lợi thì làng nghề cũng khó có thể tồn tại một

cách bền vững.

1.1.4 Đặc điểm của làng nghề

+ Điều kiện sản xuất kinh doanh gắn bó với hộ gia đình nơng thơn và ngành nơng

nghiệp

Nghề thủ cơng truyền thống bắt đầu từ nông nghiệp và gắn liền với sự phân

công lao động ở nông thôn nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt tự cung tự cấp của

người nông dân và chủ yếu phục vụ nông nghiệp. Nông thôn là nguồn cung cấp

nguyên liệu, nguồn nhân lực, nguồn vốn chủ yếu và là thị trường tiêu thụ rộng lớn.

Lao động trong các làng nghề chủ yếu là nghề nông, địa điểm sản xuất nghề

thủ công truyền thống là tại gia đình họ. Họ tự quản lý, phân cơng lao động, thời

gian cho phù hợp giữa việc sản xuất nông nghiệp lúc mùa vụ với nghề thủ công lúc

nông nhàn.

+ Về sản phẩm

Sản phẩm của làng nghề nhằm phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất. Nó là

các vật dụng hàng ngày, có thể là những sản phẩm vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá

trị thẩm mỹ hoặc chỉ là vật để dụng trang trí ở nhà, cơng sở, nơi tơn nghiêm như

đình chùa. Các sản phẩm của làng nghề mang tính chủ quan sang tạo, hồn tồn phụ

thuộc vào trình độ và bàn tay khéo léo của người thợ. Dưới bàn tay tài hoa của

người thợ thủ công, một số sản phẩm thủ công mỹ nghệ đạt độ tinh xảo điêu luyện,

có giá trị nghệ thuật cao.

Do đặc điểm sản xuất kinh doanh nên sản phẩm của làng nghề in đậm dấu ấn

người thợ nên khó sản xuất đại trà, mà chỉ sản xuất đơn chiếc. Nhược điểm này làm

cho làng nghề khó đáp ứng đơn đặt hàng lớn do chất lượng sản phẩm không đồng

đều.

+ Kỹ thuật công nghệ

Kỹ thuật sản xuất đặc trưng trong làng nghề là công cụ thủ công, phương

pháp công nghệ mang tính cổ truyền do lịch sử để lại và do chính người lao động

trong làng nghề tạo ra. Kỹ thuật đặc biệt nhất của làng nghề là những bí quyết, kinh



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



10



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



nghiệm của người thợ được tích lũy qua nhiều thế hệ, giữ được tính chất bí truyền

của nghề.

Do không được tổng kết thành lý luận hoặc được ghi chép mà chỉ được

truyền miệng hoặc truyền nghề trực tiếp trong gia đình, trong dòng họ, trong làng

nên trong lịch sử có những bí quyết đã thất truyền.

+ Tổ chức sản xuất kinh doanh

Mơ hình tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề hiện nay chủ yếu

là hộ gia đình với đặc điểm lao động là các thành viên trong gia đình, chỉ khi thời

vụ hoặc có đơn hàng lớn thì mới thuê thêm lao động. Mọi thành viên trong gia đình

đều có thể tham gia, tùy theo độ tuổi, trình độ tay nghề để làm cơng việc phù hợp

nhưng bao giờ cũng có ít nhất 1 hoặc 2 người chịu trách nhiệm chính về kỹ thuật,

quản lý, điều hành, giao dịch. Vì vậy mơ hình sản xuất hộ gia đình là quy mơ nhỏ.

Trong q trình sản xuất, cũng đã xuất hiện mơ hình tổ sản xuất là sự liên

kết, hợp tác giữa các hộ gia đình để cùng sản xuất, chia sẻ những khó khăn và lợi

ích thơng qua thỏa thuận bằng hợp đồng miệng giữa các hộ gia đình.

Mặt khác, thời gian gần đây cũng đã xuất hiện mơ hình hợp tác xã theo Luật

hợp tác xã và doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp. Mặc dù mới xuất hiện và

chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng các mơ hình sản xuất này đã khẳng định được vai trò của

mình trong xu thế hội nhập của các làng nghề.

1.1.5 Vai trò của làng nghề trong q trình phát triển kinh tế-xã hội

Các làng nghề ngày càng có vai trò quan trọng trong q trình phát triển kinh

tế nơng thơn.

- Làng nghề góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, hạn chế

di dân tự do.

Sản xuất của làng nghề chủ yếu bằng phương pháp thủ cơng, khơng đòi hỏi

cao về chun mơn kỹ thuật, nghiệp vụ hay trình độ ngoại ngữ. Do đó phát triển

làng nghề tạo việc làm cho nhiều lao động. Trước hết là trong gia đình, trong làng

xã, ngồi ra còn thu hút được nhiều lao động từ các địa phương khác. Mặt khác,

làng nghề phát triển sẽ hình thành các nghề khác, các hoạt động dịch vụ liên quan,

tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút thêm nhiều lao động. Điều này khơng chỉ có ý



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



11



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội, an ninh trật tự, bởi vì hạn chế

được vấn đề di dân từ vùng này sang vùng khác, từ nông thôn ra thành thị.

- Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng nguồn lực trong nhân dân

Việt Nam là quốc gia chủ yếu sản xuất nông nghiệp nhưng ngày nay đất đai

đô thị hóa nên ruộng đất bị giảm, nơng nghiệp chủ yếu là theo thời vụ. Nên lực

lượng lao động nhàn rỗi tăng nhanh. Chính vì vậy, nghành nghề phi nơng nghiệp

dần dần phát triển, thu hút nguồn lao động nhàn rỗi rất mạnh. Ngành nghề phi nông

nghiệp đa phần không đòi hỏi vốn đầu tư lớn; bởi rất nhiều nghề chỉ cần một số

công cụ thủ công, thô sơ do người thợ thủ công tự sản xuất được hoặc đặt mua với

số vốn nhỏ. Hơn nữa đặc điểm sản xuất trong các làng nghề là quy mô nhỏ, cơ cấu

vốn và lao động ít nên rất phù hợp với khả năng huy động vốn và các nguồn lực vật

chất của các gia đình ở nơng thơn. Với mức đầu tư khơng lớn, đây là lợi thế để các

làng nghề có thể huy động các loại vốn nhàn rỗi trong dân vào hoạt động sản xuất

kinh doanh. Giúp tăng thu nhập cho người lao động.

- Phát triển làng nghề là góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

nghiệp nông thôn theo hướng CNH-HĐH

Phát triển làng nghề tạo điều kiện rút ngắn khoảng cách kinh tế giữa nông

thôn và thành thị. Làng nghề phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở nông

thôn mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động, thu hút nhiều lao động, khác với sản

xuất nông nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một q trình liên tục, đòi hỏi

một sự thường xuyên cung ứng dịch vụ vật liệu và tiêu thụ sản phẩm. Do đó dịch vụ

nơng thơn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng phong phú, đem lại thu

nhập cao cho người lao động. Sự phát triển này đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế nơng

thơn, từ đó đã tạo ra nền kinh tế đa dạng ở nông thôn.

- Làng nghề thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng, thay đổi bộ mặt nông thơn

Làng nghề phát triển có nhu cầu xây dựng nhà xưởng, đường sá, hệ thống

cấp điện, nước, bưu điện… Ngược lại làng nghề phát triển, người dân có thu nhập

cao, có điều kiện đóng góp để xây dựng cơ sở hạ tầng, đồng thời người dân có nhu

cầu và điều kiện trao đổi hàng hoá, mua sắm các tiện nghi sinh hoạt, xây dựng nhà



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



12



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



cửa và do đó hình thành trung tâm giao lưu buôn bán. Những trung tâm này ngày

càng đựơc mở rộng và phát triển, tạo nên một sự đổi mới trong nông thôn.

- Làng nghề truyền thống có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn, kế thừa

và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.

“Mỗi một làng nghề là một địa chỉ văn hố, nó phản ánh nét văn hoá độc đáo

của từng địa phương, từng vùng” [18]. Sản phẩm của mỗi một làng nghề mang

những nét, những sắc thái độc đáo của dân tộc. Những giá trị văn hóa của dân tộc

thể hiện tư duy của người Việt, phong tục tập quán đặc sắc, truyền thống dân tộc,

phong cách sống... đều được thể hiện qua nét vẽ, hình mẫu, cách trang trí và cấu

trúc của sản phẩm. Điều đó chỉ có được ở nghề truyền thống mới lột tả hết giá trị

nhân văn, giá trị văn hóa. Những sản phẩm thủ cơng đều chứa đựng tình cảm, lòng

u thiên nhiên đất nước qua bàn tay tài hoa của con người. Đây cũng chính là ưu

thế của các sản phẩm truyền thống của người Việt khi mở rộng giao lưu trên thị

trường quốc tế và mở rộng quan hệ văn hóa, nghệ thuật với các nước trên thế giới.

Vì thế chúng ta cần gìn giữ và khơng ngừng phát triển những văn hố tốt đẹp ẩn

chứa trong các sản phẩm này.

- Làng nghề góp phần phát triển du lịch

Giữa du lịch làng nghề và làng nghề truyền thống có mối quan hệ chặt chẽ

hữu cơ tác động qua lại với nhau. Phát triển du lịch tại các làng nghề là một giải

pháp hữu hiệu để phát triển kinh tế- xã hội ở làng nghề nói chung theo hướng tích

cực và bền vững. Ngược lại các làng nghề cũng tạo nên sức hấp dẫn mới lạ thu hút

du khách và có những tác động mạnh mẽ trở lại đối với du lịch trong một mục tiêu

phát triển chung. Làng nghề là nơi bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật, kỹ thuật sản

xuất từ đời này sang đời khác đúc kết ở những nghệ nhân tài hoa. Bên trong các

làng nghề thường chứa đựng những nét văn hóa thuần Việt với khơng gian văn hóa

nơng nghiệp: Cây đa, giếng nước, sân đình, với những câu hát dân gian, cánh cò

trắng, lũy tre xanh... Đằng sau lũy tre làng là những mảng màu trầm mặc, những nét

tinh hoa văn hóa của dân tộc, hiền hòa, n ả khiến cho du khách ghé thăm đều có

cảm giác yên lành, thư thái. Có thể nói rằng du lịch làng nghề truyền thống sẽ là địa

chỉ lý tưởng để du khách tham quan tìm hiểu các giá trị văn hóa, các phong tục tập



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



13



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



quán lễ hội trong điều kiện hiện đại khi mà nền sản xuất công nghiệp khiến môi

trường ồn ào đến ghẹt thở. Đặc biệt du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi bắt gặp

những sản phẩm thủ cơng độc đáo chỉ có được những người nghệ nhân tài hoa và có

thể mua những món đồ lưu niệm tinh tế có một khơng hai ở các làng q này. Làng

nghề và làng nghề truyền thống là tài nguyên du lịch nhân văn góp phần thu hút số

lượng lớn khách du lịch, làm cho hoạt động du lịch thêm phong phú đa dạng, tạo

nên nhiều lựa chọn hấp dẫn cho du khách. Ngồi ra du lịch làng nghề còn làm đa

dạng các sản phẩm du lịch.

1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề

Sự hình thành và phát triển của những làng nghề có tính chất tự nhiên.

Nhưng trong sự phát triển đó chịu nhiều tác động của các nhân tố. Những nhân tố

này có sự biến đổi trong từng thời kỳ và tác động theo hướng khác nhau, chúng có

thể là nhân tố thúc đẩy nhưng ngược lại cũng có thể là những nhân tố kìm hãm sự

phát triển. Ở mỗi vùng, mỗi làng nghề, mỗi địa phương do có những đặc điểm khác

nhau về các điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và văn hóa nên sự tác động của các

nhân tố không giống nhau. Để hiểu hơn những ảnh hưởng của các nhân tố này thì ta

cùng tìm hiểu cụ thể:

1.2.1 Nhân tố truyền thống

Thực tế cho thấy các làng nghề tồn tại, phát triển được do có sự kế tục của

đời con, đời cháu, nghề được bậc tiền bối truyền lại cho lớp hậu sinh bằng miệng.

Những bí quyết nghề nghiệp trong làng nghề được giữ bí mật khắt khe. Điều này

khơng tránh khỏi sự thất truyền vì một ngun nhân nào đó. Và đây là nhân tố

không chỉ ảnh hưởng tới các hoạt động sản xuất tiêu dùng, đời sống dân cư mà còn

có tác dụng bảo tồn những nét văn hóa đặc trưng làng nghề, từng vùng miền. Tuy

nhiên, những quy định vẫn còn hạn chế của các luật lệ làng nghề cũng cản trở

không nhỏ tới việc mở rộng sản xuất kinh doanh của làng nghề. Cái khó hiện nay là

ta phải làm sao đưa được những tiến bộ khoa học công nghê vào làng nghề nhưng

vẫn giữ được bản sắc, tinh hoa của vốn nghề cũ.

1.2.2 Nhân tố thị trường

- Ngun liệu



SVTH: Lê Thị Hồng Anh



14



Khố luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Văn Sơn



Nguyên liệu luôn gắn liền với sản phẩm và chất lượng sản phẩm, giá thành, lợi

nhuận của các doanh nghiệp. Nguồn nguyên liệu chính tại địa phương, đây chính là

lợi thế của làng nghề. Thị trường nguyên liệu khơng chính thức, phương thức thanh

tốn do hai bên tự thỏa thuận, phụ thuộc thời vụ do tư thương cung cấp nên giá cả

lên xuống theo mùa. Sử dụng nguyên liệu đa dạng hoặc thay thế sẽ là xu hướng cần

được quan tâm để làng nghề phát triển bền vững.

-



Thị trường

Hầu hết các sản phẩm của làng nghề Việt Nam chưa có thương hiệu, thiếu các



chuẩn quy định về chất lượng, về quy cách kỹ thuật nên chưa tạo ra được lợi thế về

độc quyền trong buôn bán quốc tế và gặp cản trở từ các hàng rào kỹ thuật của các

nước nhập khẩu, nhất là các nước phát triển. Mặt khác, các sản phẩm tiểu thủ công

nghiệp hầu hết đều sử dụng tài nguyên thiên nhiên nên đều liên quan đến các quy

định quốc tế về vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái và chưa thực hiện quy trình quản

lý chất lượng, nên khi thâm nhập vào thị trường các nước như Mỹ, EU, Nhật Bản…

đều gặp những cản trở từ những quy định của các nước nhập khẩu.

2.2.3 Nhân tố vốn

Vốn có vai trò quan trọng, quyết định trực tiếp vào quá trinh sản xuất kinh

doanh trong làng nghề. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh gay gắt

trên thị trường hiện nay, thì đòi hỏi các cơ sở sản xuất kinh doanh trong làng nghề

phải có lượng vốn lớn đầu tư khoa học-công nghệ, đổi mới trang thiết bị ở một số

công đoạn sản xuất phù hợp để thay thế lao động thủ công, tăng năng suất lao động,

nâng cao chất lượng, giá thành phù hợp để đáp ứng nhu cầu mở rộng thị trường.

Vốn tồn tại dưới hai hình thức: vốn tài chính và vốn hiện vật, trong đó vốn

tài chính trong làng nghề là tiền; còn vốn hiện vật tồn tại dưới hình thức vật chất

của quá trình sản xuất trong làng nghề như cơ sở vật chất của các hợp tác xã thủ

cơng trước kia, máy móc, ngun liệu và đặc biệt còn có nguồn vốn phi vật chất là

kinh nghiệm bí quyết nghề nghiệp.

2.2.4 Nhân tố kết cấu hạ tầng

Kết cấu hạ tầng ở nông thôn bao gồm: kỹ thuật, điện nước, giao thông, thông

tin liên lạc, phương tiện đi lại... hạ tầng xã hội như: phòng khám đa khoa, bệnh



SVTH: Lê Thị Hoàng Anh



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×