Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 4.2: Dự báo công suất các nhà máy thuỷ điện

Bảng 4.2: Dự báo công suất các nhà máy thuỷ điện

Tải bản đầy đủ - 0trang

69

- Có năng lực tài chính đảm bảo năm tài chính liền kề năm đề nghị vay vốn

phải có lãi, có phương án cân đối/huy động vốn tự có khả thi tham gia vào dự án.

Đối với khách hàng mới thành lập thì phải có đủ cơ sở pháp lý chứng minh các cổ

đơng/thành viên sẽ góp đủ vốn điều lê, vốn tự có.

- Nguồn vốn tự có của CĐT tham gia vào dự án đạt tỷ lê so với tổng mức đầu

tư được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt như sau: Các dự án thuỷ điện có tổng

mức đầu tư từ 1500 tỷ đồng trở lên thì tỷ lệ vốn tự có tối thiểu 15%, tổng mức đầu

tư dưới 1500 tỷ đồng thì tối thiểu 30% (đối với các dự án không đảm bảo được tỷ lệ

này nhưng đạt tối thiểu 20% tổng mức đầu tư, được sự chấp thuận của cơ quan có

thẩm quyền và vẫn đảm bảo hiệu quả, khả năng trả nợ và các điều kiện khác, BIDV

- Chi nhánh Sở giao dịch 1 sẽ xem xét quyết định có cho dự án vay hay không).

* Điều kiện đối với dự án thuỷ điện

 Dự án thuỷ điện có cơng suất lắp máy tối thiểu là 10MW

 Việc đầu tư xây dựng dự án phải phù hợp với quy hoạch phát triển điện lực

do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Đối với các dự án chưa có trong quy hoạch

phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch đồng ý trước khi chuẩn bị

đầu tư

 Dự án đảm bảo đầy đủ các hồ sơ pháp lý và được thực hiện theo đúng các

quy định hiện hành về Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng

 Có văn bản chấp thuận mua điện và thỏa thuận phương án đấu nối vào lưới

điện quốc gia của EVN hoặc các đơn vị bán buôn, bán lẻ điện theo công suất lắp máy

của dự án.

 Dự án khả thi, có hiệu quả và đảm bảo khả năng trả nợ vốn vay

 Khách hàng cam kết mua bảo hiểm tồn bộ tài sản hình thành từ vốn vay

trong thời gian vận hành dự án. Khách hàng cam kết chuyển toàn bộ hoặc một phần

doanh thu từ dự án theo tỷ lệ hợp lý về tài khoản tiền gửi của khách hàng mở tại

BIDV - Chi nhánh Sở giao dịch 1.

4.3. Định hướng hồn thiện cơng tác thẩm định dự án thủy điện của BIDV –

Chi nhánh Sở giao dịch 1

4.3.1. Về quy trình thẩm định dự án thủy điện

Định hướng đầu tiên và quan trọng nhất đối với công tác thẩm định các dự án

ngành thủy điện đó là xây dựng một quy trình thẩm định riêng cho dự án ngành

thủy điện. Việc xây dựng thành công quy trinh thẩm định riêng cho dự án ngành

thủy điện sẽ giúp cho CBTĐ tiến hành công tác thẩm định được thuận lợi và cho kết



70

quả thẩm định đáng tin cậy và chất lượng hơn. Để xây dựng được quy trình thẩm

định riêng cho dự án ngành thủy điện như vậy thì BIDV - CN Sở giao dịch 1 cần

phải triển khai đề án nghiên cứu về qui trình thẩm định cho dự án thủy điện, ngồi

ra ngân hàng còn cần phải phối hợp với các NHTM khác để bổ sung cho quy trình

thẩm định của mình được đầy đủ và hợp lý nhất.

4.3.2. Về phương pháp thẩm định dự án thủy điện

Về phương pháp thẩm định dự án đầu tư, Ngân hàng tiếp tục áp dụng phương

pháp thẩm định theo trình tự kết hợp với phương pháp so sánh đối chiếu. Đây là

phương pháp chủ đạo áp dụng trong công tác thẩm định dự án đầu tư thủy điện của

Ngân hàng. Riêng đối với phương pháp so sánh đối chiếu thì Ngân hàng đang nghiên

cứu kỹ càng hơn về các chỉ tiêu chuẩn cho từng giai đoạn, từng phần của dự án. Dựa

vào các chỉ tiêu tiêu chuẩn đó mà CBTĐ khi tiến hành thẩm định dự án thủy điện có

thể so sánh, đánh giá được hiệu quả của dự án đầu tư so với các tiêu chuẩn, định mức.

4.3.3.Về nội dung thẩm định dự án đầu tư

Về nội dung thẩm định dự án đầu tư thủy điện, Ngân hàng vẫn tiếp tục áp

dụng những nội dung thẩm định dự án được đề cập đến trong Quy trình thẩm định

do BIDV ban hành. Tuy nhiên, đối với từng dự án đầu tư thủy điện cụ thể, CBTĐ có

thể áp dụng những nội dung thẩm định dự án thủy điện đó một cách linh hoạt.

Ngồi ra, Ngân hàng cũng có định hướng hồn thiện hơn nữa nội dung thẩm

định tài chính dự án đầu tư thủy điện. Mục đích là để hồn thiện cơng tác thẩm định

dự án đầu tư thủy điện. Cụ thể Ngân hàng chủ trương hồn thiện hệ thống chỉ tiêu

tính tốn hiệu quả của dự án đầu tư: ngoài các chỉ tiêu NPV, IRR, B/C… Ngân hàng

đang bổ sung việc tính tốn một số chỉ tiêu như: chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn đầu

tư, chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn đầu tư…

4.3.4. Về thời gian thẩm định dự án đầu tư thủy điện

Thời gian thẩm định dự án đầu tư là một trong những yếu tố quan trọng, ảnh

hưởng đến cả lợi ích của Ngân hàng và của khách hàng.

- Nếu thời gian thẩm định kéo dài, đối với Ngân hàng thì dự án vay vốn đầu tư

nói chung và dự án thủy điện nói chung được xem xét kỹ, tránh những rủi ro cho

Ngân hàng khi dự án được cho vay. Tuy nhiên, thời gian thẩm định kéo dài ảnh

hưởng đến việc vay vốn đầu tư của dự án, CĐT sẽ chậm đưa dự án vào hoạt động,

có khả năng dẫn đến mất cơ hội đầu tư.

- Nếu thời gian thẩm định được rút ngắn, đối với Ngân hàng thì dự án có thể

chưa được xem xét kỹ, chưa xét đến hết những nhân tố bất lợi xảy ra khi dự án đi



71

vào hoạt động, từ đó Ngân hàng có khả năng gặp phải rủi ro khi tiến hành cho dự án

vay vốn. Tuy nhiên, đối với CĐT, thời gian thẩm định được rút ngắn, dự án sớm

được cho vay nên nhanh chóng đi vào hoạt động, tận dụng cơ hội kinh doanh đúng

lúc đem lại hiệu quả và lợi nhuận cao cho CĐT.

4.4. Giải pháp hồn thiện cơng tác thẩm định dự án thuỷ điện tại BIDV - Chi

nhánh Sở giao dịch 1

4.4.1. Xây dựng quy trình thẩm định riêng đối với dự án thủy điện

Hiện tại quy trình thẩm định dự án thủy điện được sử dụng chung một Quy

trình thẩm định dự án theo Quy định 3999/QĐ-QLTD1 ngày 14/07/2009 về quy

trình cấp tín dụng đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên do đặc thù dự án thủy điện có

nguồn vốn lớn, thời gian đầu tư dài, địa điểm đầu tư tại khu vực địa chất, địa hình

có tính chất phức tạp, vùng núi cao xa xôi và đặc biệt đây lại là lĩnh vực mang tính

độc quyền của EVN về phân phối và giá bán điện, phải được sự chấp thuận của

nhiều cơ quan hữu quan liên quan nên việc sử dụng một uy trình thẩm định chung

đối với dự án thủy điện bộc lộ một số hạn chế:

Thứ nhất, quy trình thẩm định còn chưa chi tiết, chưa quy định rõ những thủ

tục pháp lý cần thiết để tiến hành đầu tư một dự án thủy điện.

Thứ hai, quy trình thẩm định dự án đầu tư vẫn là sự thống nhất 2 ý kiến giữa

phòng Quản lý rủi ro và phòng Quan hệ khách hàng. Mỗi phòng tiến hành công tác

thẩm định một cách độc lập và lập 2 báo cáo tách biệt. Tuy nhiên, do phòng Quan

hệ khách hàng được trực tiếp tiếp xúc với khách hàng xin vay vốn khi thẩm định,

cho nên khó tránh khỏi việc đánh giá mang tính chủ quan. Trong khi đó, phòng

Quản lý rủi ro dựa chủ yếu vào hồ sơ của khách hàng xin vay vốn, mà không được

trực tiếp tiếp xúc với khách hàng. Mặc dù, việc thẩm định của Phòng Quản lý rủi ro

có mang tính chất độc lập nhưng mang nhiều tính chủ quan, khơng có cơ sở nắm bắt

thực tế. Chính vì vậy, thường dẫn đến những kết luận không thống nhất, gây ảnh

hưởng nhất định đến chất lượng của công tác thẩm định dự án đầu tư nói chung và

cơng tác thẩm định dự án đầu tư thủy điện nói riêng.

Để xây dựng được qui trình thẩm định riêng cho dự án thủy điện thì BIDV cần

phải đi sâu tìm hiểu những đặc trưng nổi bật, những yếu tố then chốt của dự án

ngành thủy điện, từ đó xây dựng quy trình thẩm định riêng cho ngành thủy điện.

Mặt khác cần phải tìm hiều những biến cố rủi ro có thể xay ra đối với dự án thủy

điện từ đó đưa những biến cố đó vào trong việc phân tích rủi ro và độ nhạy của dự

án trong quá trình thẩm định. Tuy nhiên, việc đưa ra một quy trình thẩm định riêng



72

cho dự án thủy điện không thể chỉ BIDV - Chi nhánh Sở giao dịch 1 có thể quyết

định được mà cần phải đề xuất lên Hội sở BIDV để xem xét thực hiện.

Do đó, Quy trình thẩm định của Ngân hàng cần phải được hoàn thiện, cụ thể

hơn: Ngân hàng nên giao quyền chủ động cho phòng Quản lý rủi ro trong công tác

thẩm định dự án đầu tư. Đồng thời với việc trao thêm quyền cho phòng Quản lý rủi

ro, Ngân hàng cần phải gắn quyền hạn đó với trách nhiệm để đảm bảo cho công tác

thẩm định dự án đầu tư nói chung và cơng tác thẩm định dự án đầu tư thuỷ điện nói

riêng ngày càng được nâng cao về chất lượng thẩm định.

4.4.2. Hoàn thiện phương pháp thẩm định dự án đầu tư

Phương pháp là cách thức để thực hiện công tác thẩm định dự án đầu tư. Lựa

chọn cách thức thực hiện như thế nào để áp dụng vào từng dự án là một yếu tố quan

trọng góp phần hồn thiện cơng tác thẩm định dự án đầu tư thủy điện. Tuỳ vào từng

dự án cụ thể mà CBTĐ lựa chọn phương pháp thẩm định khác nhau. Cụ thể:

* Đối với những dự án thủy điện có yếu tố kinh tế - kỹ thuật quan trọng, lựa

chọn phương pháp thẩm định so sánh chỉ tiêu vì phương pháp này cho phép CBTĐ

so sánh các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của dự án với các dự án thủy điện đã và đang

xây dựng hoặc đang hoạt động. Có thể so sánh một số chỉ tiêu sau:

- Các chỉ tiêu tổng hợp như cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư.

- Các chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư (ở mức trung bình tiên tiến).

- Các định mức tài chính doanh nghiệp phù hợp với hướng dẫn hiện hành của

Nhà nước, của ngành đối với doanh nghiệp cùng loại.

* Đối với những dự án áp dụng công nghệ mới, Chi nhánh chưa từng thẩm

định trước đây, CBTĐ nên lựa chọn phương pháp thẩm định dự báo. Cơ sở của

phương pháp này là CBTĐ dùng số liệu dự báo, điều tra để kiểm tra cung cầu sản

phẩm của dự án trên thị trường, giá cả và chất lượng của công nghệ, thiết bị, nguyên

liệu... ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả, tính khả thi của dự án.

* Đối với những dự án có vốn đầu tư lớn và thời gian đầu tư kéo dài, CBTĐ

nên lựa chọn phương pháp phân tích độ nhạy của dự án để đảm bảo dự án vẫn có

thể có hiệu quá nếu có những điều kiện phát sinh ngoài mong muốn như thay đổi về

giá nguyên vật liệu, giá của thiết bị công nghệ thay đổi theo thời gian...

Như vậy, tuỳ vào từng dự án cụ thể, phương pháp thẩm định cần được thay đổi

cho phù hợp. Tuy nhiên đối với những dự án đầu tư thủy điện lớn và thời gian đầu

tư kéo dài, cho dù lựa chọn phương pháp nào để tiến hành thẩm định dự án đầu tư

thủy điện thì CBTĐ cũng phải tiến hành thẩm định theo phương pháp phân tích độ



73

nhạy bởi đây là phương pháp thẩm định khá quan trọng, cho phép CBTĐ nghiên

cứu dự án đang xem xét ở trạng thái động. Phân tích dự án đầu tư thủy điện theo

phương pháp này có thể thấy được tính hiệu quả của dự án khi dự án có một hoặc

một số yếu tố thay đổi.

4.4.3. Hồn thiện nội dung thẩm định

Nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư đóng một vai trò quan trọng quyết

định chất lượng của công tác thẩm định dự án đầu tư nói chung và dự án đầu tư thủy

điện nói riêng. Việc xem xét nội dung thẩm định tài chính dự án thuỷ điện cần nhìn

nhận trên một số khía cạnh, cụ thể:

Một là, việc xác minh lại tính chính xác số liệu do chủ đầu tư cung cấp

Để đảm bảo cho công tác thẩm định dự án đầu tư thủy điện đạt được chất

lượng cao, trước hết, cán bộ thẩm định tài chính dự án đầu tư cần phải xác minh lại

tính chính xác của các số liệu do chủ đầu tư cung cấp trong hồ sơ xin vay vốn. Điều

này có ý nghĩa hết sức quan trọng vì các số liệu đó sẽ là cơ sở để cho CBTĐ có thể

tính tốn dòng tiền của dự án đầu tư, có thể lập được bảng tính dòng tiền của dự án

đầu tư dựa trên các cơ sở căn cứ khoa học, đảm bảo tính chính xác. Như vậy, trước

hết CBTĐ cần xác định tính chính xác các thơng số nhập vào (giá trị nguyên vật

liệu đầu vào, giá bán sản phẩm đầu ra,...), từ đó tính tốn các chỉ tiêu hiệu quả tài

chính của dự án đầu tư

Hai là, các chỉ tiêu được dùng để tính tốn hiệu quả của dự án đầu tư thủy

điện.

* Về việc tính tốn lãi suất và thời gian ân hạn của dự án đầu tư

Đây là yếu tố quan trọng quyết định tính chính xác của các chỉ tiêu hiệu quả

tài chính dự án. Lãi suất chiết khấu sử dụng trong việc tính chuyển các khoản tiền

phát sinh trong thời kỳ phân tích về cùng một mặt bằng thời gian hiện tại hoặc

tương lai, đồng thời nó còn được dùng làm độ đo giới hạn để xét sự đánh giá của

các dự án đầu tư. Hiện nay Ngân hàng đang sử dụng phương pháp tính lãi suất chiết

khấu (phương pháp bình qn gia quyền) và thời gian ân hạn với các dự án thủy

điện là khá chính xác. Tuy nhiên để sử dụng phương pháp này một cách hiệu quả thì

Ngân hàng cần đưa ra các quy định chi tiết trong việc xác định thời gian ân hạn và

lãi suất chiết khấu của dự án.

* Về việc tính tốn các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án đầu tư

- Hiện nay, việc xác định hiệu quả tài chính của dự án đầu tư nói chung và dự



74

án đầu tư thủy điện nói chung tại Ngân hàng căn cứ vào các chỉ tiêu NPV, IRR. Đây

là các chỉ tiêu cơ bản để xác định hiệu quả tài chính của dự án đầu tư. Tuy nhiên, để

phản ánh chính xác hiệu quả tài chính của dự án đầu tư, CBTĐ cần phải tiến hành

tính tốn một số các chỉ tiêu khác như:

• Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư: nói lên mức độ thu hồi vốn đầu tư từ lợi nhuận

thuần thu được hàng năm. Có thể dùng tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư để so sánh giữa

các dự án và tỷ suất này phải cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng mới khuyến khích

người có tiền đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Bởi dự án có mong chóng thu hồi vốn

đầu tư thì mới nâng cao khả năng trả nợ của dự án, Ngân hàng giảm bớt được rủi ro

từ khoản vay này, tăng cường khả năng sinh lời của Ngân hàng.

• Thời gian thu hồi vốn đầu tư: là số thời gian cần thiết để dự án hoạt động thu

hồi đủ số vốn đầu tư đã bỏ ra. Nó chính là khoảng thời gian để hồn trả vốn đầu tư

ban đầu bằng các khoản lợi nhuận thuần hoặc tổng thu nhập thuần và khấu hao thu

hồi hàng năm. Với việc tính tốn chỉ tiêu này nhà đầu tư phải quan tâm lựa chọn

phương thức hoạt động vào các thời kỳ ( mùa mưa và mùa khô ) tùy từng mùa thì

cơng suất của dự án khác nhau. Bên cạnh đó nhà đầu tư phải tính cả mức độ khấu

hao hàng năm làm sao để không làm cho chi phí sản xuất quá cao, vừa kịp thời thu

hồi đủ vốn đầu tư trước khi máy móc lạc hậu về mặt kỹ thuật. Đây là một chỉ tiêu

khá quan trọng bởi đây cũng là một chỉ tiêu phản ánh hiệu quả về mặt tài chính của

dự án, chủ đầu tư nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư và có lãi, khả năng trả nợ vay

ngân hàng của dự án càng được đảm bảo.

- Ngân hàng cần chú trọng hơn nữa vào nghiên cứu dự án đầu tư ở trạng thái

động. Hiện nay, ngoài 2 phương pháp chủ yếu hay dùng là thẩm định theo trình tự

và phương pháp đối chiếu so sánh, công tác thẩm định dự án đầu tư thủy điện ở

Ngân hàng đã đề cập đến việc thẩm định phân tích độ nhạy của dự án. Việc nghiên

cứu hiệu quả của dự án đầu tư trong điều kiện một hoặc một số yếu tố của dự án

thay đổi giúp cho Ngân hàng thấy được tính ổn định trong các kết luận về tính hiệu

quả của dự án, tránh được những rủi ro có thể xảy ra trong tương lai của dự án.

Để thực hiện được điều này, các CBTĐ cần phải lựa chọn được các yếu tố

không an toàn, cho các yếu tố này thay đổi theo một tỷ lệ phần trăm nhất định so

với số liệu ban đầu, sau đó tính lại các chỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án theo sự điều

chỉnh này. Điều quan trọng khi sử dụng phương pháp này là phải dự đoán được xu

hướng và mức độ thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng. Đây cũng là cơ sở để xác định

yếu tố nào có tác động lớn nhất đến dự án, nhằm đánh giá mức độ “an toàn” của dự



75

án, từ đó có những biện pháp điều chỉnh thích hợp trong quá trình đưa dự án đi vào

hoạt động.

Do đó, trong phân tích tình huống, Chi nhánh cần đưa ra tính tốn hiệu quả tài

chính của dự án ở phương án tốt nhất (chí phí xây dựng nguyên vật liệu đầu vào thấp

nhất, giá bán sản phẩm cao nhất, công suất đạt cao nhất…) và phương án xấu nhất

(chi phí xây dựng nguyên vật liệu đầu vào cao nhất, giá bán sản phẩm thấp nhất, công

suất thiết kế đạt thấp nhất…) và xác suất cụ thể xảy ra của từng phương án đó. Từ đó,

Ngân hàng có thể đo lường được mức độ rủi ro lớn nhất hoặc thấp nhất của dự án

đang xem xét.

4.4.4. Tăng cường công tác thu thập và xử lý thông tin phục vụ thẩm định

Thông tin là một yếu tố hết sức quan trọng, là nguồn nguyên liệu chính để

đánh giá tính khả thi của dự án, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng của công tác thẩm

định dự án đầu tư tại Ngân hàng. Vì vây, để hồn thiện cơng tác thẩm định dự án

đầu tư Thủy điện, Ngân hàng cần phải luôn cố gắng xây dựng, củng cố và phát triển

hệ thống thông tin phục vụ công tác thẩm định. Tức là, Ngân hàng cần nâng cao khả

năng thu thập thông tin cũng như chất lượng của nguồn thông tin thu thập được.

Trước hết Ngân hàng cần phải đa dạng hoá các nguồn cung cấp thông tin để

giảm rủi ro về thông tin, nâng cao chất lượng thông tin, phục vụ tốt cho cơng tác

thẩm định tài chính dự án đầu tư. Ngoài các hồ sơ, tài liệu mà khách hàng gửi đến,

Ngân hàng còn phải khai thác một cách triệt để nguồn thông tin qua những lần tiếp

xúc trực tiếp với khách hàng. Bên cạnh đó CBTĐ phải thường xuyên xuống tận cơ

sở để thẩm định tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng và đặc biệt nên bố

trí những chuyến đi đột xuất để thu thập được những thông tin chính xác và đáng tin

cậy hơn.

Ngồi ra, CBTĐ có thể thu thập thêm thơng tin từ bên ngồi. Đây cũng là một

nguồn thông tin quan trọng phục vụ cho cơng tác thẩm định. CBTĐ có thể thu thập

được thơng tin bằng nhiều cách khác nhau:

- Tiến hành đi khảo sát thực tế, nghiên cứu thị trường

- Thông qua các Ngân hàng, các Tổ chức tín dụng khác, các bạn hàng… mà

khách hàng có quan hệ.

- Ngồi ra, thơng tin còn được thu thập thơng qua báo chí, các phương tiện

thông tin đại chúng, thông qua mạng internet...

Thông tin thu thập này sẽ giúp cho CBTĐ có được những đánh giá chính xác về

tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và thị trường tiêu thụ sản phẩm

dự án đầu tư. Đặc biệt cần chú ý khai thác nguồn thông tin về khách hàng từ đồng nghiệp,



76

các bạn hàng, đối tác của khách hàng cũng như các cơ quan quản lý, công ty tư vấn, công

ty kiểm tốn…. Để thu được những thơng tin đầy đủ và khách quan.

Bước công việc



Thu thập thông tin nội bộ



Thu thập thông tin với

khách hàng

Thu thập thông tin từ các

Chi nhánh bạn



Thu thập thơng tin bên

ngồi

Hồn chỉnh bảng nghiên

cứu sơ bộ



Tiến trình thực hiện

- Nếu là khách hàng cũ nắm các vấn đề liên quan về việc chấp hành

kỷ luật tín dụng, thói quen, phong cách kinh doanh,...

- Nếu có dự án tương tự đã thẩm định cho vay thì có thể xem xét so

sánh, đối chiếu về các chỉ tiêu của phương án tài chính

- Căn cứ bảng kết quả nghiên cứu sơ bộ về năng lực CĐT, lên kế

hoạch làm việc.

- Hình thức: phỏng vấn và tham quan, khảo sát cơ sở sản xuất

- Đối với các doanh nghiệp có dự án tương tự đã vận hành được

Chi nhánh bạn thẩm định cho vay

- Có thể áp dụng khi những doanh nghiệp đã sản xuất sản phẩm

tương tự mà các Chi nhánh khác đã xem xét thẩm định.

- Các doanh nghiệp cùng ngành: so sánh hoạt động của CĐT với các

doanh nghịêp có liên quan. Các doanh nghiệp đánh giá như thế nào

về CĐT

- Phương tiện thông tin đại chúng

- Các cơ quan quản lý.

Ghi lại tồn bộ thơng tin thu thập được nhằm hoàn chỉnh nội dung

chưa đầy đủ trên bảng nghiên cứu sơ bộ về CĐT



Bảng 4.3: Thu thập các thông tin liên quan đến chủ đầu tư và dự án

(Nguồn: Quyết định số 3999/QĐ-QLTD1 ngày 14/07/2009) [9]

Với việc xây dựng tốt hệ thống thông tin và đa dạng hố các nguồn thơng tin

thu thập, thì Ngân hàng sẽ có được hệ thống thơng tin tương đối đầy đủ và chính

xác về sản phẩm dự án, về khách hàng của Ngân hàng, do đó chất lượng cơng tác

thẩm định tài chính dự án đầu tư sẽ hiệu quả cao. Ngồi ra, giữa các NHTM cần

hình thành mối quan hệ về thẩm định với nhau để khai thác thông tin được thuận

lợi, tất cả các ngân hàng cùng giám sát được một khách hàng và có điều kiện để trao

đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong hoạt động thẩm định dự án.

4.4.5. Hồn thiện cơng tác tổ chức thẩm định dự án

4.4.5.1. Chun mơn hố trong thẩm định dự án thuỷ điện

Chun mơn hố ngay từ xa xưa đã được chứng minh là một trong những cách

giúp tạo bước tiến vượt bậc trong hoạt động sản xuất của con người, nâng cao năng

suất lao động. Đây là một nguyên tắc đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng nhưng vô cùng



77

hiệu qủa.

Đối với việc thẩm định dự án trong lĩnh vực thuỷ điện tại BIDV – Chi nhánh

Sở giao dịch 1, chun mơn hố cho một số cán bộ thường xuyên thẩm định là cần

thiết.

Lý do thứ nhất, thuỷ điện là một ngành quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong

các ngành được cấp tín dụng tại BIDV – Chi nhánh Sở giao dịch 1.

Lý do thứ hai, các dự án thuỷ điện thường có kỹ thuật phức tạp lại mang tính

chuyên ngành cao. Để thẩm định được dự án thuỷ điện đặc biệt với nội dung kỹ

thuật của dự án đòi hỏi CBTĐ phải có hiểu biết tương đối sâu về lĩnh vực này.

Trong khi đó, những CBTĐ của BIDV – Chi nhánh Sở giao dịch 1 chủ yếu được

đào tạo ở các trường đại học thuộc khối kinh tế, hiểu biết về lĩnh vực thuỷ điện chỉ

có thể có được nhờ q trình tự tìm hiểu, học hỏi tích luỹ qua thời gian. Vì vậy, để

giúp cho CBTĐ dễ nắm bắt những kiến thức về thuỷ điện và áp dụng được vào

trong thẩm định dự án, việc một số CBTĐ thường xuyên được giao thẩm định các

dự án thuỷ điện và từ đó giành thời gian nhiều hơn để tìm hiểu chuyên sâu lĩnh vực

thuỷ điện là cần thiết. Muốn làm được việc đó, chun mơn hoá trong thẩm định là

tất yếu.

CBTĐ một khi đã được chun mơn hố sẽ giúp cho chất lượng thẩm định dự

án thuỷ điện nâng cao. Nếu chun mơn hố đối với thẩm định dự án thuỷ điện

được thực hiện sẽ giúp khắc phục tình trạng CBTĐ hiểu biết khơng nhiều về lĩnh

vực kỹ thuật của dự án thuỷ điện mà vẫn được giao thẩm định dự án thuỷ điện và từ

đó chất lượng thẩm định dự án thuỷ điện sẽ được nâng cao bởi công tác thẩm định

được giao đúng người, đúng việc để mang lại hiệu quả cao nhất.

4.4.5.2. Xây dựng quy trình tái thẩm định dự án thuỷ điện

Tái thẩm định ở ngân hàng là một khâu quan trọng nhằm giúp đánh giá hiệu

quả cho vay đối với dự án từ đó đúc rút được các kinh nghiệm, bài học cho quá

trình thẩm định các dự án về sau. Với vai trò như vậy, việc tái thẩm định dự án thuỷ

điện cần được BIDV – Chi nhánh Sở giao dịch 1 quan tâm.

Trước đây, BIDV cũng đã từng muốn xây dựng một quy trình tái thẩm định

hồn chỉnh cho các dự án nói chung và tiến tới xây dựng quy trình riêng cho các dự

án thuỷ điện. Tuy nhiên, vấn đề này chưa được phát động thực hiện một cách chính

thức. Là đơn vị dẫn đầu trong hệ thống BIDV, lại có quan hệ mật thiết với Hội sở

chính, BIDV – Chi nhánh Sở giao dịch 1 cũng có thể trở thành nơi phát động, đề đạt



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 4.2: Dự báo công suất các nhà máy thuỷ điện

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×