Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cùng với sự phát triển chung của hoạt động tài trợ dự án nói chung và dự án thủy điện nói riêng, công tác thẩm định dự án thủy điện tại BIDV – Chi nhánh Sở giao dịch 1 cũng không ngừng hoàn thiện, góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng bền vững, hiệu quả c

Cùng với sự phát triển chung của hoạt động tài trợ dự án nói chung và dự án thủy điện nói riêng, công tác thẩm định dự án thủy điện tại BIDV – Chi nhánh Sở giao dịch 1 cũng không ngừng hoàn thiện, góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng bền vững, hiệu quả c

Tải bản đầy đủ - 0trang

59

thống nhất, không chồng chéo lẫn nhau

Thứ hai: Về nội dung thẩm định

Nội dung thẩm định dự án ngành thủy điện tại BIDV CN Sở giao dịch 1 rất

đầy đủ, bao gồm: Thẩm định về hồ sơ pháp lý dự án; Thẩm định về năng lực pháp

lý và năng lực tài chính của dự án; thẩm định hiệu quả tài chính của dự án; Thẩm

định hiệu quả kinh tế xã hội của dự án. Các nội dung được tiến hành áp dụng cho

quá trình thẩm định dự án ngành thủy điện đều là các nội dung chuẩn mực theo quy

định của Ngân hàng nhà nước. CBTĐ trong hệ thống BIDV đều được đào tạo để

nắm bắt được và áp dụng các nội dung thẩm định này trong quá trình thẩm định dự

án. Việc sử dụng đầy đủ các nội dung thẩm định như trên đã giúp cho CBTĐ có thể

đưa ra những nhận xét đúng đắn trong việc quyết định cho vay vốn.

Thứ ba: Về phương pháp thẩm định

Trong quá trình thẩm định dự án thuỷ điện, tuỳ theo tính chất, đặc điểm của

từng nội dung thẩm định trong dự án thuỷ điện đề nghị vay vốn, tuỳ từng khách

hàng và điều kiện thực tế, CBTĐ đã sử dụng linh hoạt các phương pháp theo mức

độ hợp lý để đảm bảo hiệu quả thực hiện.

Các bước thẩm định được sắp xếp một cách khoa học qua đó phương pháp

thẩm định theo trình tự được áp dụng và mang lại hiệu quả cao cho công tác thẩm

định dự án thuỷ điện. Việc thẩm định tổng quát được áp dụng khi CBTĐ xem xét hồ

sơ dự án và xem xét sơ bộ một số nội dung cơ bản của dự án. Nếu trong lúc thẩm

định sơ bộ, CBTĐ phát hiện những sai sót khơng thể chấp nhận được của dự án thì

việc bác bỏ sớm dự án sẽ giúp tiết kiệm được thời gian và cơng sức cho việc thẩm

định. Sau đó việc thẩm định chi tiết được tiến hành với những nội dung quan trọng

trước theo đó kết luận về một số nội dung quan trọng này của dự án bị bác bỏ thì

cũng giúp rút ngắn thời gian thẩm định.

Ngồi các phương pháp thẩm định được thực hiện đối với hồ sơ dự án, CBTĐ

còn thực hiện phương pháp khảo sát thực tế để kiểm tra tính đúng đắn và chính xác

của những thơng tin được cung cấp từ hồ sơ khách hàng cung cấp.

Thứ bốn: Về tổ chức thẩm định và phân cấp thẩm định

Khắc phục những hạn chế trong thời gian qua và để nhằm chun mơn hố

cơng tác thẩm định dự án, các dự án thủy điện đều phải qua sự chấp thuận của Hội

Sở chính.

Bên cạnh đó, ngân hàng đã có quy định rõ ràng đó là đối với những dự án có

tổng vốn đầu tư lớn, có tính chất phức tạp về mặt kinh tế- kỹ thuật như các dự án



60

thủy điện thì thẩm quyền thẩm định phải thuộc về hội đồng tín dụng. Việc phân cấp

thẩm định rõ ràng như vậy sẽ vừa giúp cho cơng tác thẩm định được tiến hành

nhanh chóng, khơng bị chồng chéo, rút ngắn thời gian thẩm định đồng thời tránh

được những rủi ro có thể gây ra những thiệt hại cho ngân hàng

Thứ năm: Về cán bộ thẩm định

Đội ngũ CBTĐ của hệ thống BIDV – Chi nhánh Sở giao dịch 1 là đội ngũ giàu

kinh nghiệm làm việc và có năng lực trong cơng tác thẩm định dự án xin vay vốn. Đội

ngũ CBTĐ đều được tuyển dụng từ các trường đại học như ĐH Kinh tế quốc dân, Học

viện Tài chính, Học viện Ngân hàng, ĐH Ngoại thương...nên đều là những người có

năng lực trong cơng việc và làm việc đúng ngành, đúng nghề đã học. Ngồi ra BIDV –

Chi nhánh Sở giao dịch 1 còn thường xuyên tổ chức các đợt học chuyên đề để thường

xuyên trau dồi kiến thức thực tế cho các bộ thẩm định trong q trình làm việc.

Ngân hàng ln khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ của

mình trau dồi, nâng cao nghiệp vụ thẩm định. Hơn nữa ngân hàng còn rất chú trọng

vào cơng tác đào tạo lại cán bộ, tập huấn, giao lưu, tổ chức hội nghị hội thảo mời

các chuyên gia giỏi giảng dạy về thẩm định dự án. Do đó hiện nay ngân hàng đã có

trong tay một đội ngũ cán bộ có trình độ chun mơn tương đối cao, đạo đức vững

vàng, không chỉ được trang bị các kiến thức liên quan đến đầu tư mà còn cả những

kiến thức liên ngành đa dạng khác như kiến thức phân tích tài chính doanh nghiệp,

kiến thức kế tốn…

Thứ sáu: Về cơng tác thu thập, quản lý, lưu trữ số liệu phục vụ cho q

trình thẩm định.

Nguồn thơng tin được thu thập trong quá trình thẩm định ngày càng phong

phú và đa dạng. Nếu như trước đây các thông tin về dự án dùng để phân tích được

cung cấp bởi chính CĐT, gây nên tình trạng là quá trình thẩm định hầu như chỉ xoay

quanh việc thẩm định tính hợp lý, tính chính xác đại số của các số liệu, tiến hành

phỏng vấn khảo sát thực địa thì đến nay thơng tin đã có tính nhiều chiều hơn.

Nguồn thơng tin phục vụ cho q trình thẩm định khơng chỉ căn cứ vào các tài liệu

do khách hàng cung cấp, mà còn còn căn cứ vào các tài liệu phân tích thị trường, tài

liệu lưu trữ liên ngân hàng, các văn bản luật, thông tin từ bạn hàng, đối tác, từ các

cơ quan chuyên mơn và các chun gia trong lĩnh vực có liên quan, từ trung tâm

phòng ngừa rủi ro (CIC)…

Như vậy tại BIDV cơng tác thu thập quản lý, phân tích, lưu trữ các dữ liệu về

dự án và các dữ liệu liên quan đã được quan tâm chú trọng một cách liên tục và có



61

hệ thống, làm cơ sở cho việc ra các quyết định khách quan và chính xác. Mặt khác

trong điều kiện hiện nay, các CBTĐ được trang bị và hỗ trợ khá tốt với những

phương tiện làm việc cần thiết như máy tính nối mạng, điện thoại… giúp cho

CBTĐ nhanh chóng thu thập được những thơng tin cần thiết, rút ngắn thời gian

thẩm định. Tất cả những điều đó đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho công tác

thẩm định dự án tại ngân hàng, làm tăng tính chính xác và độ thuyết phục của các

kết quả thẩm định, nhất là trong thời đại ngày nay khi mà mọi thứ đều liên tục biến

đổi và đỏi hỏi phải được cập nhật thường xuyên.

3.3.2. Hạn chế trong công tác thẩm định và nguyên nhân

3.3.2.1. Hạn chế trong công tác thẩm định dự án thủy điện

Mặc dù công tác thẩm định dự án ngành thủy điện đang ngày được nâng cao

thể hiện như bảng tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại cần giải quyết như sau:

• Chưa có quy trình thẩm định riêng đối với dự án thủy điện

Quy trình thẩm định dự án thủy điện vẫn được thực hiện chung với quy trình

thẩm định dự án chung theo Quyết định 3999/QĐ-QLTD1 ngày 14/07/2009 về trình

tự, thủ tục, thẩm quyền cấp tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp.

Có thể nói BIDV đã có những quy định nhằm hướng dẫn nội dung và trình tự

thẩm định đối với một dự án thủy điện. Tuy nhiên, quy định này là một phần nằm

trong quy định về cho vay đối với một khách hàng doanh nghiệp nên nó vẫn chưa

được thể hiện rõ.

• Đội ngũ CBTĐ còn yếu về khía cạnh kỹ thuật của dự án

Hầu hết công tác thẩm định đều dựa trên những văn bản mà CĐT nộp cho

Ngân hàng. Những đánh giá nhận định về dự án chỉ là những đánh giá trên giấy tờ,

trên văn bản chứ chưa thực sự nắm bắt được tình hình thực tế nơi dự án sẽ thực

hiện. Để thẩm định được tất cả các nội dung của dự án thì CBTĐ phải là người am

hiểu tất cả các lĩnh vực chuyên ngành như xây dựng, thủy văn, kinh tế... Đó là điểm

mà CBTĐ của BIDV Chi nhánh Sở giao dịch 1 nói riêng cũng như cán bộ của hệ

thống Ngân hàng nói chung đang gặp khó khăn. Hầu hết CBTĐ của BIDV Chi

nhánh Sở giao dịch 1 đều được tuyển dụng từ các trường đại học kinh tế như ĐH

Kinh tế quốc dân, ĐH Ngoại thương, Học viện Tài Chính, Học viện Ngân hàng...

nên chỉ có thể nắm được các bước thẩm định về chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu kinh tế

xã hội chứ không thể am hiểu về quy trình xây dựng, về thủy văn, khí hậu của địa

điểm xây dựng dự án. Do đó trong q trình thẩm định vẫn còn tồn tại những điểm

mà CBTĐ chưa thật sự nắm bắt được tường tận.



62

• Về phương pháp thu thập thông tin

Việc thu thập thông tin được thực hiện chủ yếu từ những văn bản mà CĐT

cung cấp như Giấy chứng nhận đầu tư của UBND tỉnh nơi cấp phép dự án, Chấp

thuận đầu tư dự án thủy điện của Bộ Công thương, Kết quả thẩm định của cơ quan

chuyên ngành về dự án thủy điện, Quyết định giao đất, cho thuê đất của UBND tỉnh

đối với CĐT, ...

Về những thông tin trong hồ sơ dự án đầu tư, CBTĐ phải thực hiện kiểm tra

lại những nội dung này qua các định mức phê duyệt về chỉ tiêu, giá thành thành xây

dựng của cơ quan nhà nước. Những văn bản này có thể lấy được từ trên mạng hoặc

qua cơ quan nhà nước, Đối với những thông tin về địa chất, địa lý, đặc điểm tự

nhiên của khu vực đặt dự án, CBTĐ thường vẫn phải dựa vào thông tin cho Chủ

đầu tư cung cấp và kiểm chứng lại trên các phương tiện thơng tin đại chúng.

• Về nội dung thẩm định

Đối với dự án thủy điện, do đặc thù của ngành thủy điện, nội dung thẩm định

được thực hiện riêng theo Quyết định số 5497/QĐ-TĐ1 ngày 20/09/2007 (Phụ lục

II). Phụ lục này cũng đã quy định khá chi tiết các nội dung cần thẩm định đối với

một dự án thủy điện.

Về khía cạnh kỹ thuật của dự án. Đây là nội dung có tính chun mơn khá sâu

của dự án thủy điện mà cán bộ thẩm định còn nhiều hạn chế trong công tác thẩm

định. Việc khảo sát thực địa nơi đặt dự án, nghiên cứu địa hình, địa chất còn gặp

nhiều hạn chế.

Về khía cạnh thị trường của dự án thuỷ điện: Đây là một nội dung quan trọng

vì nội dung này ảnh hưởng lớn đến đầu ra và cụ thể là đến doanh thu của dự án.

Việc phân tích nội dung này tại BIDV – Chi nhánh Sở giao dịch 1 chủ yếu dựa

trên số liệu về tình hình cung cầu điện được dự báo từ những Quy hoạch điện

và một số phân tích dự báo khác. Đặc biệt tài liệu thường xuyên được sử dụng

là Quy hoạch điện VII – quy hoạch điện tổng quát nhất và mới nhất hiện nay.

Tại thời điểm đề nghị vay vốn thực hiện dự án, CĐT mới chỉ đạt được thoả

thuận sơ bộ về giá bán điện với EVN và chưa có phương án đấu nối cụ thể vào

hệ thống điện quốc gia.

* Hệ thống trang thiết bị, công nghệ thơng tin hỗ trợ cho cơng tác thẩm định

còn hạn chế

Những công cụ, các phần mềm hiện đại giúp hỗ trợ cho công tác thẩm định dự

án thuỷ điện chưa được đầu tư đúng mức và phổ biến cho đội ngũ CBTĐ. Công tác



63

thẩm định vẫn chủ yếu dựa vào năng lực của người thẩm định với kỹ năng sử dụng

phần mềm Excel truyền thống.

Trong thời gian qua mặc dù BIDV – Chi nhánh Sở giao dịch 1 đã có sự quan

tâm và có những nỗ lực đáng kể trong việc nâng cao chất lượng thông tin cũng như

áp dụng các thiết bị cơng nghệ hiện đại nhưng nhìn chung vẫn chưa mang lại hiệu

quả thích đáng. Hệ thống thu thập và xử lý thông tin chưa đáp ứng yêu cầu của công

tác thẩm định dự án thủy điện. Các máy tính được nối mạng trong tồn hệ thống

nhưng việc xử lý và truyền tin chưa đạt hiệu quả cao. Hoạt động đầu tư đòi hỏi phải

có được các thông tin trên nhiều lĩnh vực khác nhau về luật pháp, về giá cả vật tư,

thiết bị và sản phẩm, về tín dụng, tiền tệ, lạm phát.. ở trong nước và thế giới; về các

chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật ngành trong nước, khu vực và thế giới. Vấn đề thu thập, lưu

trữ thơng tin, phân tích và xử lý thơng tin, vấn đề dự báo trung hạn và dài hạn vẫn là

khâu yếu trong quản lý kinh tế-tài chính nói chung và trong thẩm định dự án nói

riêng. Điều đó ảnh huởng đến mức độ chính xác của phân tích hiệu quả tài chính,

kinh tế, xã hội và mơi trường của dự án.

3.3.2.2. Nguyên nhân

- Thứ nhất, cơ chế chính sách Nhà nước chưa đầy đủ, đồng bộ, nhất quán

Để tiến hành thẩm định các dự án, CBTD cần tra cứu và áp dụng rất nhiều các

quy định về nghiệp vụ tín dụng, kế tốn, quản lý đầu tư xây dựng…nhưng hệ thống

các văn bản này còn có sự chồng chéo, thiếu nhất quán hoặc chưa bao quát hết các

tình huống xảy ra nên trong thực tế. Ngoài ra, các văn bản lại thay đổi thường xuyên

nên việc cập nhật và nắm vững chúng là điều khơng dễ. Từ đó dẫn đến khả năng rủi

ro cho BIDV – CN Sở giao dịch 1 khi chính sách thay đổi làm cho hiệu quả của dự

án có thể bị thay đổi theo chiều hướng xấu. Công tác thẩm định dự án thủy điện vì

thế cũng bị ảnh hưởng.

- Thứ hai, trình độ lập dự án của khách hàng còn hạn chế

Nhiều CĐT chưa có kinh nghiệm và năng lực trong việc lập và thẩm định dự

án nhưng lại không thuê tư vấn nên báo cáo khả thi không cung cấp đủ thông tin

cần thiết của dự án. Khi thẩm định CBTD phải thu thập và xử lý lại từ đầu nên mất

nhiều thời gian, công sức, làm thời gian thẩm định bị kéo dài. Hơn nữa, dự án

thường lập theo hướng có lợi cho khách hàng để thuyết phục BIDV – CN Sở giao

dịch 1 cho vay nên số liệu khơng chính xác, ảnh hưởng đến công tác thẩm định dự

án thủy điện.

- Thứ ba, mơi trường kinh tế xã hội còn nhiều bất ổn



64

Môi trường kinh tế xã hội ở nước ta đang trong quá trình phát triển và hội

nhập nên còn nhiều bất ổn. Điều này gây khó khăn trong việc dự báo các yếu tố dự

án trong tương lai cũng như tiên lượng và phòng tránh rủi ro. Vì vậy, kết quả thẩm

định không đúng với thực tế nếu dự án hoạt động trong thời gian dài.

Như vậy, có thể thấy rằng có nhiều nguyên nhân khách quan gây cản trở đến

Công tác thẩm định dự án thủy điện cho vay. Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố

khách quan thì những yếu tố chủ quan của BIDV – Chi nhánh Sở giao dịch 1 sẽ

quyết định công tác thẩm định dự án cho vay. Vì vậy, cần thiết phải xem xét các

nhân tố chủ quan của BIDV – Chi nhánh Sở giao dịch 1 để có thể tìm ra được các

giải pháp thích hợp và có ý nghĩa thiết thực.



65



CHƯƠNG 4

GIẢI PHÁP HỒN THIỆN CƠNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN

THỦY ĐIỆN TẠI BIDV – CHI NHÁNH SỞ GIAO DỊCH 1

4.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của thủy điện trong hệ thống điện Việt Nam

Ngành điện là một ngành năng lượng quan trọng của mỗi quốc gia, đặt dưới sự

quản lý và kiểm sốt chặt chẽ mang tính độc quyền của nhà nước. Do đó, việc xây

dựng và phát triển các dự án thủy điện phải tuân thủ theo quy hoạch phát triển điện

lực của quốc gia đó. Để định hướng cho quá trình phát triển ngành điện Việt Nam,

ngày 21/07/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định 1208/QĐ-TTg phê duyệt

Quy hoạch phát triển Điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020, có xét đến năm 2030

(còn gọi là Quy hoạch điện VII).

- Phát triển ngành điện phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

của đất nước, bảo đảm cung cấp đủ điện nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội.

- Sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng trong nước cho phát triển

điện, kết hợp với việc nhập khẩu điện, nhập khẩu nhiên liệu hợp lý, đa dạng hóa các

nguồn năng lượng sơ cấp cho sản xuất điện, bảo tồn nhiên liệu và bảo đảm an ninh

năng lượng cho tương lai.

- Từng bước nâng cao chất lượng điện năng để cung cấp dịch vụ điện với chất

lượng ngày càng cao. Thực hiện giá bán điện theo cơ chế thị trường nhằm khuyến

khích đầu tư phát triển ngành điện; khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm và có hiệu

quả.

- Phát triển điện đi đôi với bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái; bảo

đảm phát triển bền vững đất nước.

- Từng bước hình thành, phát triển thị trường điện cạnh tranh, đa dạng hóa

phương thức đầu tư và kinh doanh điện. Nhà nước chỉ giữ độc quyền lưới điện

truyền tải để đảm bảo an ninh hệ thống năng lượng quốc gia.

- Phát triển ngành điện dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn tài

nguyên năng lượng sơ cấp của mỗi miền; tiếp tục đẩy mạnh cơng tác điện khí hóa

nơng thơn, đảm bảo cung cấp đầy đủ, liên tục, an toàn cho nhu cầu điện tất cả các

vùng trong toàn quốc.

4.1.1. Tiềm năng của thuỷ điện Việt Nam

- Đặc điểm hình thái, khí tượng thuỷ văn:

Trong tổng diện tích 331,000km2 của Việt Nam, đồi núi và cao nguyên đã



66

chiếm tới 4/5 diện tích. Ngồi ra, nước ta nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều,

nóng và ẩm. Lượng mưa trung bình năm khoảng 2000 mm. Lượng mưa nơi nhiều

nhất đạt tới 4000 – 5000mm, nơi mưa thấp nhất cũng đạt đến 1000mm. Mùa mưa

trong năm thường kéo dài 3-5 tháng.

Hệ thống sông ngòi Việt Nam có mật độ cao. Tổng số các con sơng có chiều

dài lớn hơn 10km là 2400. Hầu hết sơng ngòi Việt Nam đều đổ ra biển Đơng. Hàng

năm mạng lưới sông suối Việt Nam vận chuyển ra biển một lượng nước 870 tỷ

m3/năm tương ứng với lưu vực bình quân khoảng 37500 m3/năm.

- Tiềm năng thuỷ điện Việt Nam

Với đặc điểm về hình thái khí tượng, thuỷ văn như trên, tiềm năng lý thuyết về

thuỷ điện Việt Nam đứng vào hàng thứ 14 trên thế giới được xác định khoảng 300

tỷ kwh (tính cho những con sơng dài hơn 10km). Tiềm năng kinh tế - kỹ thuật xác

định khoảng 75 - 80 tỷ kwh tương đương với công suất lắp máy khoảng 18000 20000MW.

Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà tăng trưởng mạnh mẽ, hoạt động sản xuất

kinh doanh và tiêu dùng xã hội ngày càng gia tăng. Do đó, nhu cầu đối với điện

năng phục vụ cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt cũng ngày càng tăng. Đây là điều

kiện thuận lợi cơ bản cho sự phát triển ngành điện nói chung và các nhà máy thủy

điện nói riêng (thuỷ điện chiếm khoảng 46% trong cơ cấu điện phát ra).



Biểu đồ 4.1: Dự báo nhu cầu điện năng đến năm 2030

(Nguồn: Báo cáo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam năm 2010 - 2011)[4]

4.1.2. Vai trò của nguồn thuỷ điện trong hệ thống nguồn điện Việt Nam

Một nền kinh tế phát triển phải gắn với sự phát triển của ngành năng lượng

quốc gia, nhằm đảm bảo cung cấp đủ nguồn điện cho các hoạt động sản xuất, kinh

doanh và phát triển kinh tế. Việt Nam cũng khơng nằm ngồi quy luật đó khi ngành



67

điện luôn được xem là ngành then chốt, trọng điểm và nhận được nhiều sự quan tâm

của Nhà Nước. Trong cơ cấu nguồn điện nước ta hiện nay, thủy điện hiện đang đóng

góp tới hơn 45.6% tổng nguồn điện cung cấp, có thể nói đây là tỷ trọng rất lớn. Cụ

thể cơ cấu nguồn điện nước ta hiện nay như sau:



Biểu đồ 4.2. Cơ cấu nguồn điện năm 2011

(Nguồn: Báo cáo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam năm 2010 - 2011)[4]

Ngành điện đang có xu hướng dịch chuyển cơ cấu rõ rệt theo định hướng phát

triển và quy hoạch điện VII của Chính phủ, theo đó giảm dần tỷ trọng đóng góp của

thủy điện và tăng dần tỷ trọng nhiệt điện. Tuy tỷ trọng thủy điện có giảm nhưng vẫn

chiếm phần lớn trong cơ cấu nguồn điện của nước ta trong thời gian tới. Do vậy

chắc chắn trong tương lai thuỷ điện vẫn sẽ được quan tâm khai thác để tạo ra sản

lượng điện ngày càng lớn hơn đáp ứng cho nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế.

Cùng với đó các dự án thuỷ điện hiện đang được đầu tư sẽ được tiếp tục đầu tư để

hoàn thành đúng tiến độ, những dự án thuỷ điện mới cũng cần được bắt đầu xây

dựng theo đúng quy hoạch điện đã đặt ra.

4.1.3. Kế hoạch phát triển thuỷ điện trong thời gian tới

Theo kế hoạch cụ thể của ngành điện trong thời gian tới, giai đoạn 2015-2020 thì

trung bình mỗi năm công suất sẽ tăng 7000MW.

Chỉ tiêu

Công suất lắp máy

Sản lượng điện sản xuất

Sản lượng điện thương phẩm

Sản lượng điện thương phẩm bình quân



Đơn vị

MW

Tỷ kWh

Tỷ kWh

kWh/người/năm



2015

25,85727,000

124

107

1,200



2020

60,00070,000

257

223

2,300



2030

100,000 –

130,000

587

493

6,900



Bảng 4.1: Dự báo sản lượng điện sản xuất

(Nguồn: Quy hoạch phát triển Điện lực quốc gia giai đoạn 2010-2020, có

hướng đến năm 2030)[5]

Trong đó, kế hoạch phát triển thuỷ điện cũng được đặt ra với sự tăng lên



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cùng với sự phát triển chung của hoạt động tài trợ dự án nói chung và dự án thủy điện nói riêng, công tác thẩm định dự án thủy điện tại BIDV – Chi nhánh Sở giao dịch 1 cũng không ngừng hoàn thiện, góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng bền vững, hiệu quả c

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×