Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.5: Chi tiết tổng mức vốn đầu tư của dự án

Bảng 3.5: Chi tiết tổng mức vốn đầu tư của dự án

Tải bản đầy đủ - 0trang

52

thuộc rất nhiều vào việc đánh giá và đưa ra các giả định ban đầu, các giả định này

được rút ra từ các phân tích từ những nội dung đã trình bày trong các phần trước.

Từ kết quả phân tích ở trên sẽ được lượng hoá thành những giả định để phục vụ cho

q trình tính tốn, cụ thể như sau:

Đánh giá về tính khả thi của nguồn vốn, cơ cấu vốn đầu tư: Phần này sẽ đưa

vào để tính tốn chi phí đầu tư ban đầu, chi phí vốn (lãi, phí vay vốn cố định),

chi phí sửa chữa tài sản cố định (TSCĐ), khấu hao TSCĐ phải trích hàng năm,

nợ phải trả.

Đánh giá về mặt thị trường, khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự

án và phương án tiêu thụ sản phẩm sẽ đưa vào để tính tốn: Mức huy động cơng

suất so với cơng suất thiết kế, doanh thu dự kiến hàng năm.

Đánh giá về khả năng cung cấp nguyên liệu đầu vào, sự động đối với nguyên

liệu, giá cả biến động thế nào.

Căn cứ vào tốc độ luân chuyển vốn lưu động hàng năm của dự án, của các doanh

nghiệp cùng ngành nghề và mức vốn lưu động tự có của chủ dự án (phần tài chính

doanh nghiệp) để xác định nhu cầu vốn lưu động, chi phí vốn lưu động hàng năm.

Các chế độ thuế hiện hành, các văn bản ưu đãi riêng đối với dự án để xác định

phần trách nhiệm của chủ dự án đối với ngân sách.

Trên cơ sở những căn cứ nêu trên, Cán bộ quan hệ khách hàng/quản lý rủi ro

thiết lập các bảng tính tốn hiệu quả tài chính của dự án làm cơ sở cho việc đánh giá

hiệu quả và khả năng trả nợ vốn vay.

Trong nội dung này, cán bộ thẩm định sử dụng nhiều phương pháp phân tích

khác nhau như: Phương pháp so sánh đối chiếu (so sánh các chỉ tiêu với các dự án

tương tự), phương pháp phân tích độ nhạy (phân tích biến động của các chỉ tiêu

đánh giá khi một nhân tố nào đó biến động), phương pháp dự báo (sự dụng nhiều

trong phân tích thị trường dự án, biến động đầu vào….)

Ví dụ, minh họa nội dung thẩm định tài chính dự án “Dự án Nhà máy thủy

điện Nậm Cắt” tại BIDV - CN Sở giao dịch 1 như sau:

A. Cơ sở tính tốn:

 Thu nhập của dự án:

Doanh thu của dự án được tính bằng: Sản lượng điện thương phẩm x Giá bán điện.

* Giá bán điện khởi điểm: 754 đồng/kwh (tương đương 4,2 USD cent/kwh. Tỷ

lệ tăng giá bán trên 1 năm là 1,0%.

Sản lượng điện thương phẩm = Sản lượng điện sản xuất - Tổn thất và tự dùng;

Sản lượng điện sản xuất = Điện lượng hàng năm x Cơng suất huy động



53

Trong đó: - Cơng suất lắp máy 3,2 MW.

- Điện lượng hàng năm: 13,06 triệu kwh

- Số giờ sử dụng công suất lắp máy: 4.081 giờ/năm.

- Mức công suất năm đầu: 90% công suất thiết kế.

- Mức tăng công suất hàng năm: 10%/năm.

- Tổn thất và tự dùng: 1,0% sản lượng trong năm.

- Khả năng tăng/giảm điện lượng hàng năm: 0%.

 Các khoản mục chi phí:

- Chi phí hoạt động gồm:

+ Chi phí vận hành và quản lý: 1% x (Giá trị Xây lắp + Thiết bị)

+ Chi phí bảo hiểm: 0,2% x (Giá trị Xây lắp + Thiết bị)

- Chi phí thuế tài nguyên = thuế suất thuế tài nguyên x giá điện tính thuế

B. Kết quả tính tốn

 Với giả định tính tốn như nêu ở trên, kết quả tính tốn đạt được như sau:

- Về mặt hiệu quả: Dự án có hiệu quả về mặt tài chính với chỉ tiêu NPV đạt

1,609 tỷ đồng; IRR = 10,5% > 10,09% (được trình bày chi tiết tại Phụ lục 4)

- Về thời gian hoàn vốn: Thời gian hoàn vốn của dự án là 19 năm (được trình

bày chi tiết tại Phụ lục 8)

- Về khả năng trả nợ: Dự án có khả năng trả nợ trong thời gian 7,55 năm (92

tháng không kể thời gian ân hạn) (được trình bày chi tiết tại Phụ lục 9)

 Tính độ nhạy của dự án (Phụ lục 10):

Các giả định trên là tương đối hợp lý nhưng chưa tính đến các khả năng thuận

lợi, bất lợi có thể xảy ra. Vì vậy, khi thẩm định có tính tốn các chỉ tiêu của dự án

trên cơ sở các trường hợp bất thường có thể xảy ra để thấy được mức độ chịu đựng

rủi ro của dự án.

Qua phân tích độ nhạy cho thấy dự án hiệu quả tuy nhiên khá nhạy cảm với sự

biến động của các yếu tố, cụ thể như sau:

- NPV của dự án <0 khi điện lượng hàng năm giảm 3% hoặc khi chi phí hoạt

động tăng 32% hoặc khi giá bán điện khởi điểm giảm 3%

- Dự án không đảm bảo được khả năng trả nợ khi điện lượng hàng năm hoặc giá

bán khởi điểm giảm 15%.

Nhìn chung hiệu quả của dự án khá nhạy cảm với các yếu tố điện lượng hàng

năm và giá bán điện. tuy nhiên, khơng có nhiều khả năng để các yếu tố này giảm

do: Mức giá khởi điểm theo tính tốn khá thấp so với tốc độ trượt giá của nền kinh

tế VN cũng như tốc độ tăng của giá tiêu thụ điện trên thị trường của EVN và đặc



54

biệt thấp so với giá bán điện của các nước trong khu vực.

* Nhận xét: trong nội dung này, trong quá trình thẩm định cán bộ thẩm định

tiến hành thẩm định để đưa ra các giả định, dữ liệu để tính tốn, tiến hành lập các

bảng tính và tính tốn các chỉ tiêu để tiến hành thẩm định. Tuy nhiên, việc thẩm

định nội dung này, trong thực tế, cán bộ thẩm định vẫn chủ yếu sử dụng nhiều giả

định, phân tích do chủ đầu tư nêu trong dự án đầu tư, thậm chí có dự án cán bộ thẩm

định sử dụng hồn tồn các tính tốn về hiệu quả tài chính do chủ đầu tư cung cấp

để tính tốn các chỉ tiêu tài chính dự án. Do việc lập dự án nhiều khi chú trọng tới

mục đích để thuyết phục ngân hàng cho vay vốn nhiều hơn nên các giả định thường

không sát với thực tế.

3.2.3.9. Thẩm định rủi ro dự án

Trong nội dung này cán bộ QHKH phân tích các loại rủi ro, trên cơ sở đó đưa

ra các biện pháp giảm thiểu, phòng ngừa rủi ro. Một số loại rủi ro:

- Rủi ro cơ chế chính sách

- Rủi ro thị trường, thu nhập, thanh tốn

- Rủi ro cung cấp các yếu tố đầu vào

- Rủi ro kỹ thuật vận hành

- Rủi ro kinh tế vĩ mô, tỷ giá…

Cán bộ thẩm định BIDV - CN Sở giao dịch 1 sử dụng các phương pháp như

phương pháp so sánh đối chiếu (để nhận biết các rủi ro), phương pháp dự báo,

phương triệt tiêu rủi ro để thẩm định định nội dung này.

Ví dụ minh họa nội dung thẩm định tài chính dự án “Dự án Nhà máy thủy

điện Đak Mi 2” tại BIDV - CN Sở giao dịch 1 như sau:

* Rủi ro về khả năng cân đối đủ vốn tự có tham gia dự án của chủ đầu tư:

Theo tính tốn, dự kiến Ngân hàng sẽ tài trợ số tiền tối đa cho dự án là 53.183

triệu đồng, tương đương 60% tổng mức đầu tư (có tính tốn lại). Phần vốn tự có và

tự huy động của chủ đầu tư là 35.353 triệu đồng tăng gần 10 tỷ đồng so với kế

hoạch đầu tư vốn của doanh nghiệp. Do vậy, cơng ty cần có phương án bổ sung

phần vốn tự có. Đến thời điểm hiện tại, cơng ty đã sử dụng 23.156 triệu đồng vốn tự

có đầu tư vào dự án. Số vốn còn thiếu là 15.197 triệu đồng. Tuy nhiên, cổ đơng

chính của doanh nghiệp là Tổng cơng ty Điện lực dầu khí (chiếm 85% vốn điều lệ)

là doanh nghiệp có vốn lớn, có uy tín và năng lực tài chính do vậy khả năng cân đối

vốn của doanh nghiệp được đảm bảo.

Để phòng ngừa rủi ro, Phòng QHKH cần yêu cầu doanh nghiệp và cổ đơng có



55

văn bản chấp thuận tăng vốn, cam kết góp đủ vốn; trong trường hợp chi phí thực tế

vượt tổng mức đầu tư theo tính tốn của ngân hàng, doanh nghiệp có trách nhiệm tự

thu xếp vốn phát sinh đảm bảo dự án hồn thành đúng tiến độ. Phòng QHKH có

trách nhiệm theo dõi và quản lý việc giải ngân theo đúng tiến độ thực hiện dự án và

chỉ giải ngân khi phần vốn chủ sở hữu tham gia song song với tỷ lệ vốn tự có/vốn

vay là 40:60.

* Rủi ro về hiệu quả tài chính và khả năng trả nợ

+ Chi phí đầu tư dự án tăng:

Suất đầu tư của dự án theo tính tốn hiện tại đang ở mức khá cao so với các dự

án thuỷ điện khác, hiệu quả tài chính của dự án do vậy bị ảnh hưởng nhiều. Ngoài

ra, sự biến động bất thường trên thị trường tài chính ngân hàng cũng như xu hướng

tăng lên của thị trường nguyên vật liệu đầu vào (như sắt, thép, xi măng, tiền lương,

…) thời gian gần đây và dự báo trong thời gian tới là những yếu tố có khả năng làm

tăng chi phí đầu tư dự án. Trong q trình tính tốn lại tổng mức đầu tư, chi phí dự

phòng được tính bằng 10% chi phí xây lắp, thiết bị và chi phí khác theo quy định

nên rủi ro do các loại chi phí nguyên vật liệu đầu vào và chi phí hoạt động tăng vượt

mức dự kiến là khơng lớn.

Do vậy, trong q trình cho vay, Ngân hàng cần bám sát tiến độ thi cơng cũng

như chi phí thi cơng từng hạng mục của chủ đầu tư, so sánh với tổng dự toán đã

duyệt để có biện pháp ứng xử tín dụng phù hợp, tránh trường hợp chi phí thực tế

tăng lên do chi phí thi cơng khơng được quản lý chặt, tác động trực tiếp đến khả

năng trả nợ ngân hàng của dự án.

+ Nhà máy sau khi hồn thành khơng chạy hết cơng suất

Thuỷ điện Nậm Cắt là cơng trình có nhà máy kiểu đường dẫn, gồm đập dâng,

cửa lấy nước, kênh dẫn, đường ống áp lực và nhà máy. Điều kiện địa hình cho phép

khai thác cột nước phát điện tương đối cao là khoảng 80m. Do địa hình vùng hồ

thuỷ điện hẹp và dốc nên giải pháp tạo dung tích điều tiết theo mùa hoặc theo năm

sẽ không hiệu quả. Theo đề xuất của tư vấn, sẽ tạo dung tích điều tiết ngày đêm để

có thể vận hành linh động, phát điện vào giờ cao điểm và dồn nước trong giờ thấp

điểm để có thể thu được doanh thu cao hơn khi áp dụng giá bán điện theo giờ, nâng

cao hiệu quả kinh tế cơng trình. Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 9 sẽ hoạt động hết

công suất, thời gian 24h/24h, công suất phát điện là công suất lắp máy (3.2 MW).

Trong mùa kiệt, từ tháng 11 đến tháng 4, nhà máy sẽ làm việc theo chế độ ngày

không hồn tồn, lưu lượng nước khơng đủ để chạy máy nên hồ sẽ tích nước 24h và



56

sẽ phát cơng suất tổ máy trong một số giờ nhất định (4-10h), có thể chạy 1 hoặc

toàn bộ tổ máy với mục tiêu là phát công suất đảm bảo (0.57 MW). Tuy nhiên,

trong trường hợp tình trạng khơ hạn xảy ra kéo dài có thể dẫn tới cơng suất phát

dưới mức đảm bảo, hoặc phải ngừng hoạt động dẫn đế ảnh hưởng tới sản lượng điện

bán ra và tác động trực tiếp đến hiệu quả tài chính dự án.

+ EVN khơng mua hết điện sản xuất ra hoặc mức giá bán điện bình quân khởi

điểm không đạt 4,4 UScent/kwh

Hiện tại, doanh nghiệp chưa có hợp đồng mua bán điện cụ thể cũng như giá

bán điện mà Công ty Điện lực 1 sẽ mua của nhà máy, do đó, trong trường hợp Cơng

ty Điện lực 1 khơng mua hết tồn bộ số điện phát ra hoặc mua với giá thấp hơn giá

tính tốn (4,4 UScent/Kw) thì đầu ra của dự án sẽ khơng được đảm bảo, dự án sẽ

vận hành khơng có hiệu quả, ảnh hưởng tới nguồn thu và khả năng trả nợ ngân hàng

của dự án. Tuy nhiên, như đã đề cập trên đây:

Thứ nhất, việc đầu tư xây dựng nhà máy Thuỷ điện Nậm Cắt tại xã Đôn Phong

huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn có cơng suất nhỏ (3,2MW) và nằm trong quy

hoạch được Bộ công thương duyệt, đã được EVN chấp thuận mua điện do vậy hầu

như khơng có khả năng EVN không mua hết điện thương phẩm của Nhà máy thuỷ

điện Nậm Cắt;

Thứ hai, việc EVN mua điện của các doanh nghiệp hiện nay được căn cứ trên

cơ sở biểu giá chi phí tránh được do Cục điều tiết điện lực Bộ cơng thương ban

hành hàng năm được tính trên sản lượng điện của các nhà máy theo từng mùa và

từng giờ vận hành (cao điểm-bình thường-vận hành).

Trong quá trình thực hiện dự án, Phòng QHKH cần thường xun bám sát các

nội dung thỏa thuận của chủ đầu tư dự án với Công ty Điện lực 1 về việc mua bán

điện, đồng thời trong quá trình dự án đi vào vận hành, thường xuyên bám sát tình

hình hoạt động của nhà máy để đưa ra biện pháp ứng xử tín dụng phù hợp, đảm bảo

thu nợ đầy đủ và đúng hạn.

u cầu cơng ty có bảo lãnh vay vốn của Tổng cơng ty Điện lực Dầu khí Việt

Nam đồng thời cam kết huy động mọi nguồn lực có thể để trả nợ Ngân hàng.

* Rủi ro tỷ giá

Trong dự án này, chi phí thiết bị chiếm khoảng 28,4% tổng mức đầu tư dự án

trong đó phần lớn các thiết bị của dự án là thiết bị nhập khẩu từ Trung Quốc và phải

thanh toán bằng ngoại tệ. Trường hợp doanh nghiệp vay Ngân hàng để thanh tốn



57

tồn bộ chi phí nhập khẩu thiết bị, khi trả nợ ngân hàng, do dòng thu từ dự án là thu

bằng VND nên doanh nghiệp sẽ phải mua ngoại tệ để thanh toán và doanh nghiệp

có thể gặp khó khăn trong cân đối nguồn ngoại tệ trả nợ Ngân hàng. Ngoài ra,

trường hợp đồng VND mất giá, chi phí thiết bị sẽ tăng cao so với dòng thu của dự

án, giảm thấp hiệu quả tài chính dự án.

Để giảm rủi ro doanh nghiệp cần có những biện pháp phòng ngừa hữu hiệu

trong từng thời kỳ trên cơ sở ý kiến tư vấn từ ngân hàng hoặc các chuyên gia tài

chính.

* Rủi ro do cháy nổ, thiên tai

Cơng trình xây dựng và máy móc thiết bị của nhà máy có thể bị hư hỏng, bị

phá hoạt một phần hoặc toàn bộ bởi các nguyên nhân do cháy nổ, thiên tai, địch hoạ

ảnh hưởng đến hoạt động của nhà máy tác động tới dòng thu của dự án, ảnh hưởng

tới khả năng trả nợ ngân hàng.

Đề nghị chủ đầu tư mua bảo hiểm mọi rủi ro đối với cơng trình xây dựng và

máy móc thiết bị trong tồn bộ thời gian thi cơng và vận hành dự án của nhà bảo

hiểm có uy tín và năng lực và người thụ hưởng thứ nhất trong trường hợp xảy ra rủi

ro là chi nhánh Sở Giao dịch 1 BIDV.

* Nhận xét: Về cơ bản, trong quá trình thẩm định nội dung này tại BIDV CN

Sở giao dịch 1, cán bộ thẩm định đã nhận định được các rủi ro và đưa các biện pháp

phòng ngừa.

3.2.3.10. Thẩm định tài sản bảo đảm tiền vay

Thông thường việc thẩm định về tài sản đảm bảo tiền vay dự án đầu tư nhà

máy thủy điện tại BIDV - CN Sở giao dịch 1 chỉ đơn thuần là liệt kê tài sản đảm

bảo. Giá trị tài sản đảm bảo được lấy là giá trị đầu tư của nhà máy.

Theo quan điểm của tác giá, đối với nội dung này, cán bộ thẩm định ngoài việc

nêu tài sản đảm bảo cho khoản vay cần thẩm định về khả năng phát mại của tài sản

(trong trường hợp phải xử lý tài sản thì có dễ dàng để bán, chuyển nhượng không,

giá cả thế nào). Ngoài ra, để nâng cao trách nhiệm, cán bộ thẩm định cần yêu cầu

khách bổ sung thêm các tài sản đảm bảo khác để bảo đảm cho khoản vay.

Tóm lại, trong phần này tác giả đã trình bày việc thẩm định các dự án nội dung

trong thẩm định dự án đầu tư mua tàu biển tại Chi nhánh ngân hàng ĐT&PT Bắc

Hà Nội, các phương pháp phân tích, dẫn chứng ví dụ thực tế để minh họa, cuối cùng

là những nhận xét của tác giả. Qua đó có thể khái quát lại như sau: Các nội dung



58

thẩm định bao quát khá đầy đủ các khía cạnh, sử dụng đa dạng các phương pháp

trong q trình phân tích. Tuy nhiên việc đánh giá chưa sâu, khơng có nhiều

đánh giá độc lập của cán bộ thẩm định, còn dựa nhiều vào dự án do doanh

nghiệp cung cấp, chưa thật sự coi trọng đúng mức tầm quan trọng của một số nội

dung thẩm định (thẩm định biến động giá đầu vào, thẩm định về nhân lực khai

thác tàu, kỹ thuật ….), sử dụng nhiều phương pháp tuy nhiên vẫn mang nhiều

tính hình thức. Đối với các vấn đề trên tác giả sẽ trình bày cụ thể trong các phần

sau của luận văn này.

3.3. Đánh giá kết quả công tác thẩm định dự án thủy điện trong hoạt động cho

vay tại BIDV – Chi nhánh Sở giao dịch 1 giai đoạn 2007 - 2011.

Nhận xét, kể từ khi được thành lập đến nay, Chi nhánh Sở giao dịch 1 đã tuân

thủ đúng quy trình thẩm định dự án đầu tư trong cho vay. Các dự án đầu tư đều

được thẩm định kỹ càng, chi tiết. Các dự án sau khi hoàn thành đưa vào sản xuất sử

dụng rất hiệu quả và luôn đảm bảo việc trả nợ vốn vay ngân hàng đẩy đủ, đúng hạn.

3.3.1. Những kết quả đạt được

Cùng với sự phát triển chung của hoạt động tài trợ dự án nói chung và dự án

thủy điện nói riêng, cơng tác thẩm định dự án thủy điện tại BIDV – Chi nhánh Sở

giao dịch 1 cũng khơng ngừng hồn thiện, góp phần khơng nhỏ vào sự tăng trưởng

bền vững, hiệu quả của mảng tín dụng dự án nói chung. Cụ thể, cơng tác thẩm định

dự án thủy điện đã đạt được những kết quả sau:

Thứ nhất: Về quy trình thẩm định

Có thể nói quy trình thẩm định dự án đầu tư của ngân hàng trong thời gian qua

có những tiến bộ vượt bậc. Từ khi Hội đồng quản trị ban hành "Quy trình nghiệp vụ

tín dụng" theo tiêu chuẩn mới, được áp dụng cho nghiệp vụ thẩm định dự án để xem

xét cho vay trung và dài hạn hoặc bảo lãnh vay vốn tại BIDV, công tác thẩm định

dự án đầu tư đã có những chuyển biến tích cực. Các bước các cơng đoạn được quy

định khá bài bản và logic từ việc hướng dẫn khách hàng làm hồ sơ vay vốn, tiếp

nhận hồ sơ vay, thẩm định hồ sơ vay, thẩm định khách hàng đến thẩm định dự án

đầu tư, lập thành tờ trình… Quy trình này còn được áp dụng thống nhất trong tồn

hệ thống và nhìn chung trong thời gian qua đã được CBTĐ tuân thủ nghiêm túc.

Mặt khác quy trình thẩm định dự án được xây dựng dựa trên cơ sở sự phối hợp

thống nhất để đưa ra quyết định. Đó là sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban và

các bộ phận chức năng trong q trình thẩm định, sự phối hợp này diễn ra khá hiệu

quả, đã phát huy được tính độc lập của mỗi bộ phận đồng thời tạo ra mối quan hệ



59

thống nhất, không chồng chéo lẫn nhau

Thứ hai: Về nội dung thẩm định

Nội dung thẩm định dự án ngành thủy điện tại BIDV CN Sở giao dịch 1 rất

đầy đủ, bao gồm: Thẩm định về hồ sơ pháp lý dự án; Thẩm định về năng lực pháp

lý và năng lực tài chính của dự án; thẩm định hiệu quả tài chính của dự án; Thẩm

định hiệu quả kinh tế xã hội của dự án. Các nội dung được tiến hành áp dụng cho

quá trình thẩm định dự án ngành thủy điện đều là các nội dung chuẩn mực theo quy

định của Ngân hàng nhà nước. CBTĐ trong hệ thống BIDV đều được đào tạo để

nắm bắt được và áp dụng các nội dung thẩm định này trong quá trình thẩm định dự

án. Việc sử dụng đầy đủ các nội dung thẩm định như trên đã giúp cho CBTĐ có thể

đưa ra những nhận xét đúng đắn trong việc quyết định cho vay vốn.

Thứ ba: Về phương pháp thẩm định

Trong quá trình thẩm định dự án thuỷ điện, tuỳ theo tính chất, đặc điểm của

từng nội dung thẩm định trong dự án thuỷ điện đề nghị vay vốn, tuỳ từng khách

hàng và điều kiện thực tế, CBTĐ đã sử dụng linh hoạt các phương pháp theo mức

độ hợp lý để đảm bảo hiệu quả thực hiện.

Các bước thẩm định được sắp xếp một cách khoa học qua đó phương pháp

thẩm định theo trình tự được áp dụng và mang lại hiệu quả cao cho công tác thẩm

định dự án thuỷ điện. Việc thẩm định tổng quát được áp dụng khi CBTĐ xem xét hồ

sơ dự án và xem xét sơ bộ một số nội dung cơ bản của dự án. Nếu trong lúc thẩm

định sơ bộ, CBTĐ phát hiện những sai sót khơng thể chấp nhận được của dự án thì

việc bác bỏ sớm dự án sẽ giúp tiết kiệm được thời gian và cơng sức cho việc thẩm

định. Sau đó việc thẩm định chi tiết được tiến hành với những nội dung quan trọng

trước theo đó kết luận về một số nội dung quan trọng này của dự án bị bác bỏ thì

cũng giúp rút ngắn thời gian thẩm định.

Ngoài các phương pháp thẩm định được thực hiện đối với hồ sơ dự án, CBTĐ

còn thực hiện phương pháp khảo sát thực tế để kiểm tra tính đúng đắn và chính xác

của những thông tin được cung cấp từ hồ sơ khách hàng cung cấp.

Thứ bốn: Về tổ chức thẩm định và phân cấp thẩm định

Khắc phục những hạn chế trong thời gian qua và để nhằm chun mơn hố

cơng tác thẩm định dự án, các dự án thủy điện đều phải qua sự chấp thuận của Hội

Sở chính.

Bên cạnh đó, ngân hàng đã có quy định rõ ràng đó là đối với những dự án có

tổng vốn đầu tư lớn, có tính chất phức tạp về mặt kinh tế- kỹ thuật như các dự án



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.5: Chi tiết tổng mức vốn đầu tư của dự án

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×