Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sơ đồ 3.2: Lưu đồ cấp tín dụng dự án tại Chi nhánh Sở giao dịch 1

Sơ đồ 3.2: Lưu đồ cấp tín dụng dự án tại Chi nhánh Sở giao dịch 1

Tải bản đầy đủ - 0trang

42

tại chi nhánh diễn ra theo tuần tự như sau:

Tại Bộ phận Quan hệ khách hàng: Tiếp nhận hồ sơ phía khách hàng, lập báo

cáo đề xuất tín dụng. Đối với các dự án thuộc thẩm quyền phán quyết của Phó giám

đốc quan hệ khách hàng, kết quả thẩm định dự án hiệu quả khả thi chuyển sang

phòng Quản trị tín dụng xem xét giải ngân

Tại bộ phận quản lý rủi ro: Đối với các dự án của khách hàng mới, hay các dự

án vượt thẩm quyền của Phó Giám đốc Quan hệ khách hàng sẽ được chuyển sang

phòng Quản lý rủi ro được thẩm định lại. Tại bộ phận này một lần nữa thẩm định lại

tất cả các nội dung dự án. Dự án hiệu quả được cấp thẩm quyền phê duyệt. Sau đó

chuyển sang phòng Quản trị tín dụng xem xét giải ngân.

Đối với các dự án đầu tư nhà máy thủy điện, do giá trị đầu tư cũng như số tiền

đề nghị được vay thường là rất lớn. Quy trình thẩm định các dự án đầu tư thủy điện

thông thường phải được tiến hành thông qua hai bộ phận chính là bộ phận QHKH

và bộ phận quản lý rủi ro. Tương ứng với mỗi bộ phận có cấp phê duyệt riêng, cụ

thể, bộ phận quan hệ khách hàng trình lãnh đạo phụ trách quan hệ khách hàng phê

duyệt Đề xuất cấp tín dụng đối với dự án. Sau đó dự án được tiếp tục thẩm định tại

bộ phận Quản lý rủi ro, bộ phận này sẽ lập báo cáo thẩm định rủi ro dự án và trình

cấp có thẩm quyền phụ trách bộ phận mình xem xét phê duyệt. Dự án được phê

duyệt tại hai bộ phận QHKH và QLRR sẽ được chuyển qua các bộ phận tác nghiệp

để giải ngân cho khách hàng.

3.2.3. Nội dung và phương pháp thẩm định dự án đầu tư xây dựng nhà máy thủy điện

Nội dung và phương pháp thẩm định trả lời câu hỏi phân tích cái gì và bằng

cách thức nào. Về cơ bản trong việc sử dụng các phương pháp, CN Sở giao dịch 1

áp dụng các phương pháp đã nêu tại chương 1 của luận văn này (Phương pháp so

sánh, phương pháp dự báo, phương pháp triệt tiêu rủi ro…). Do vậy, trong phần này

tác giả sẽ khơng nhắc lại các phương pháp, thay vào đó tác giả sẽ trình bày các

phương pháp trong mối liên hệ với từng nội dung thẩm định khi tiến hành thẩm

định dự án đầu tư nhà máy thủy điện tại BIDV CN Sở giao dịch 1.

Để minh họa, tác giả sẽ sử dụng các dự án đầu tư đã thẩm định và đang cho

vay tại BIDV – CN Sở giao dịch 1:

* Dự án đầu tư nhà máy thủy điện Nậm Cắt (Bắc Cạn)

* Dự án đầu tư nhà máy thủy điện Hồ Bốn (Yên Bái)

* Dự án đầu tư nhà máy thủy điện Ngòi Phát (Lào Cai)

* Dự án đầu tư nhà máy thủy điện Đăk Mi 2 (Quảng Nam)



43

Các nội dung thẩm và phương pháp định dự án đầu tư nhà máy thủy điện tại

BIDV – CN Sở giao dịch 1 cụ thể như sau:

3.2.3.1. Thẩm định về khách hàng vay vốn

Thẩm định về khách hàng vay vốn đầu tư xây dựng nhà máy thủy điện gồm:

- Thẩm định định về tư cách pháp lý, năng lực điều hành và quản lý sản xuất

kinh doanh: Cán bộ thẩm định thông qua các hồ sơ pháp lý về doanh nghiệp cung

cấp (như quyết định thành lập, đăng ký kinh doanh, quyết định bổ nhiệm các chức

danh…) để kết luận doanh nghiệp có đầy đủ tư cách pháp lý vay vốn ngân hàng hay

không; Để đánh giá năng lực điều hành và quản lý sản xuất kinh doanh, cán bộ

thẩm định tiến hành xem xét trình độ của chủ doanh nghiệp, kinh nghiệm trong việc

quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh trong quá khứ để kết luận về năng lực điều

hành và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn.

- Thẩm định hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng: Thông qua kết quả

hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong 3 năm gần nhất, cán bộ thẩm

định tiến hành phân tích, đánh giá doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp như thế

nào, mức biến động trong quá khứ ra sao. Đồng thời tiến hành phân tích điểm mạnh,

điểm yếu, cơ hội, thách thức đối với các khía cạnh thị trường của doanh nghiệp, sản

phẩm, kênh phân phối…trên cơ sở đó đưa ra được kết luận về triển vọng phát triển

của khách hàng.

- Thẩm định tình hình quan hệ với các tổ chức tín dụng của khách hàng: Cán

bộ thẩm định tiến hành xem xét khách hàng đang quan hệ với các tổ chức tín dụng

nào, số dư nợ là bao nhiêu, tình hình quan hệ có tốt khơng (có nợ gia hạn, q hạn,

khoanh nợ khơng).

- Thẩm định về tình hình tài chính của khách hàng: Thơng qua báo cáo tài

chính của khách hàng trong 03 năm gần nhất, cán bộ thẩm định tiến hành phân

tích các số liệu trong báo cáo tài chính, tính tốn các chỉ tiêu tài chính như chỉ

tiêu phản ánh khả năng thanh toán (khả năng thanh toán hiện hành, khả năng

thanh toán nhanh), chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động (vòng quay vốn lưu

động, vòng quay các khoản phải thu, vòng quay hàng tồn kho), chỉ tiêu phản ánh

khả năng sinh lời (ROA, ROE..)…qua đó đưa ra kết luận về tình hình tài chính

của doanh nghiệp vay vốn.

3.2.3.2. Thẩm định Sự cần thiết phải đầu tư

Sự cần thiết phải đầu tư là nội dung đầu tiên trong việc thẩm định dự án đầu tư.

Thông thường, trong việc thẩm định nội dung này đối với các dự án đầu tư nhà máy



44

thủy điện tại BIDV - CN Sở giao dịch 1 xem xét các khía cạnh như sau:

- Đánh giá một cách tổng quát thực trạng phát triển ngành điện tại Việt Nam,

thị trường phân phối điện và định hướng phát triển ngành điện của Việt Nam, những

đánh giá này giúp cho người cán bộ thẩm định biết được được ngành điện Việt Nam

đang phát triển ở mức độ nào, khả năng cung cấp điện của ngành điện so với nhu

cầu tiêu dùng điện của doanh nghiệp và người dân, còn nhiều cơ hội cho các doanh

nghiệp đầu tư xây dựng nhà máy thủy điện hay khơng, định hướng của chính phủ

như thế nào…

Đối với nội dung này, trong quá trình thẩm định BIDV - CN Sở giao dịch 1

thường sử dụng phương pháp thẩm định theo trình tự. Thể hiện, trước hết cán bộ

thẩm định đánh giá một cách tổng quát về thị trường điện nói chung, cơng suất lắp

đặt các nhà máy điện, sản lượng điện và nhu cầu tiêu thụ, hệ thống lưới điện quốc

gia và đặc biệt là những nội dung liên quan đến ngành thủy điện.

Ngoài ra, cán bộ thẩm định còn sự dụng phương pháp so sánh đối chiếu để

thẩm định nội dung này như so sánh đối chiếu với các văn bản, chủ trương của

Đảng và Nhà nước để khẳng định lại định hướng phát triển ngành điện của Việt

Nam, phương pháp dự báo để đưa ra dự báo mang tính nhận định về nhu cầu điện

trong tương lai.

Ví dụ khi thẩm định nội dung này tại BIDV - CN Sở giao dịch 1 “Dự án đầu

tư nhà máy thủy điện Ngòi Phát” như sau:

Trong chiến lược phát triển điện năng cho đất nước, ngành điện luôn ưu tiên

phát triển thuỷ điện, nhất là các cơng trình có lợi ích về cấp nước cho nơng

nghiệp và dân sinh, chống lũ trong mùa mưa và chống hạn trong mùa khơ vùng

hạ du. Và nhất là khuyến khích đầu tư thuỷ điện vừa và nhỏ dưới nhiều hình thức

để tận dụng nguồn năng lượng sạch và tái tạo. Tại thời điểm hiện nay, cả nước có

10 nhà máy thuỷ điện lớn với tổng công suất khả dụng 4.156MW, chiếm 43,65%

tổng công suất điện cả nước. Năm 2003, các nhà máy này sản xuất 19,1tỷ kwh

(chiếm 46,67% sản lượng điện của toàn ngành) điện với giá rẻ hơn so với nhiệt

điện chạy than và dầu diesel.

Từ năm 2003 đến 2010, để phục vụ cho nền kinh tế đang trên đà phát triển

cao, cùng với việc đầu tư hàng loạt các nhà máy điện chạy than, khí và diesel, theo

tổng sơ đồ V ngành điện cần phải xây dựng mới và mở rộng thêm 44 nhà máy thuỷ

điện các loại với tổng công suất 5.149MW, (kể cả các nhà máy thuỷ điện do các

doanh nghiệp ngồi EVN đầu tư). Ngồi ra, còn có 80 nhà máy thuỷ điện vừa và



45

nhỏ sẽ do các doanh nghiệp trong nước đầu tư, chưa tính trong tổng sơ đồ điện V

hiệu chỉnh đã được Chính phủ phê duyệt.

Dự kiến đến 2020, nước ta sẽ xây dựng hầu hết các nhà máy thuỷ điện có khả

năng đem lại tổng công suất khoảng 16.500MW, tăng gấp hơn 3 lần hiện nay; đảm

bảo cung cấp khoảng 44.240GWh.

Hiện nay, EVN đã tổ chức khởi công được 04 nhà máy thuỷ điện với cơ chế

đặc biệt (chỉ định thầu): Thủy điện A Vương, Thủy điện Pleikrông, Thủy điện

Quảng Trị, Thủy điện Buôn Kuốp. Theo kế hoạch EVN sẽ khởi công 9 nhà máy

thuỷ điện mới: Bản Lả, Sông Ba Hạ, Thác Mơ mở rộng, Đồng Nai 3, Đồng Nai 4,

Thượng Kon Tum, Bản Chát, Buôn Tua Srah, Sêsan 4.

* Nhận xét: Về cơ bản trong nội dung này theo phân tích của cán bộ thẩm

định tại BIDV - CN Sở giao dịch 1 đã đánh giá được sự cần thiết phải đầu tư. Tuy

nhiên, việc thẩm định chủ yếu dựa trên thông tin trong dự án do chủ đầu tư cung

cấp, cán bộ thẩm định tiến hành đối chiếu với các thông tin thu thập được để kiểm

tra thông tin chủ đầu tư đưa ra có chính xác hay khơng (ví dụ về các định hướng

phát triển ngành điện, thực trạng phân phối và cung cấp điện…). Mặt khác thẩm

định sự cần thiết phải đầu tư thường chỉ dừng lại ở dạng nhận biết cơ hội đầu tư, và

mang tính chất định tính.

3.2.3.3. Thẩm định về thị trường, khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của

dự án

Thị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án đóng vai trò rất quan

trọng, quyết định việc thành bại của dự án. Đối với nội dung này trong dự thẩm

định dự án đầu tư nhà máy thủy điện, cán bộ thẩm định BIDV - CN Sở giao dịch 1

tiến hành phân tích như sau:

Do đặc điểm ngành điện mang tính độc quyền để bảo đảm an ninh năng lượng

quốc gia nên thị trường phân phối điện hiện chỉ do EVN thực hiện. Việc phân tích

thị trường chủ yếu phân tích về phương án mua điện của EVN, thỏa thuận giá bán

điện cho EVN khi dự án hoàn thành đi vào hoạt động và phương án đấu nối vào hệ

thống điện quốc gia.

Để thẩm định nội dung này BIDV - CN Sở giao dịch 1 thường sử dụng phương

pháp thẩm định theo trình tự (Đánh giá từ tổng thể đến chi tiết), phương pháp dự

báo (dự báo tình hình cung cầu, giá sản phẩm dịch vụ dự án…), phương pháp so

sánh đối chiếu (so sánh các chỉ tiêu với các dự án tương tự).

Ví dụ khi thẩm định “Dự án thủy điện Nậm Cắt”, BIDV - CN Sở giao dịch 1



46

đánh giá khía cạnh thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm của dự án như sau:

 Thị trường mục tiêu và khả năng cạnh tranh của sản phẩm dự án

Tại công văn số 4091/PC1-P9 ngay 05/10/2009 của Cơng ty Điện lực 1 thuốc

Tập đồn điện lực Việt Nam gửi Công ty CP thuỷ điện Nậm Cắt v/v mua điện của

dự án Nhà máy thuỷ điện Nậm Cắt, Công ty Điện lực 1 “chấp thuận mua điện của

dư án Nhà máy thuỷ điện Nậm Cắt”, tuy nhiên, chưa có thoả thuận Hợp đồng mua

bán điện.

Về giá bán điện: Chủ đầu tư và Công ty điện lực 1 chưa thoả thuận về giá

bán điện. Qua tham khảo giá bán điện của một số dự án trong các năm gần đây, giá

mua điện của EVN vào khoảng 4 đến 4,8 Uscent/kwh. Nhìn chung trong quá trình

đàm phán giá bán điện các doanh nghiệp đều gặp khó khăn do EVN đang là đơn vị

độc quyền trong ngành điện. Tuy nhiên, nếu so sánh với mức giá mua điện của EVN

từ Trung Quốc hoặc mức giá các nước trong khu vực thì các mức giá này còn khá

thấp. Đối với dự án Nhà máy Thuỷ điện Nậm Cắt, khi dự án chính thức phát điện,

dự kiến năm 2011, với tình hình trượt giá như hiện nay, giá bán điện bình quân chủ

đầu tư thỏa thuận được với EVN có khả năng đạt mức 4,4 USCent/kwh. Như vậy,

việc áp dụng mức giá 4,4 USCent/kwh để tính giá điện bán ra là chấp nhận được.

 Phương án đấu nối Nhà máy vào hệ thống điện quốc gia

Theo biên bản thoả thuận tuyến đường dây 35Kv và vị trí điểm đấu nối dự án

Nhà máy thuỷ điện Nậm Cắt ngày 28/02/2005 thì tồn bộ tuyến đường dây trung áp

và vị trí điểm đấu nối đi qua địa bàn các xã Dương Quang, Đơn Phong hồn toàn

phù hợp với quy hoạch lâu dài của địa phương, tuyến đường đi vượt qua suối, lên

sườn đồi, bám sát theo tuyến đường dây cũ, đường kênh của nhà máy thuỷ điện cũ

và đường giao thông, chủ yếu đi trên đồi, không cắt qua nhà dân. Tuy nhiên, biên

bản này dựa trên chấp thuận mua điện của TCT điện lực Việt Nam số 6648

CV/EVN-KH ngày 31/12/2004 đối với Tổng công ty xây dựng Sông Hồng.

Theo công văn số 4091/PC1-P9 ngay 05/10/2009 của Cơng ty Điện lực 1

thuốc Tập đồn điện lực Việt Nam gửi Công ty CP thuỷ điện Nậm Cắt v/v mua điện

của dự án Nhà máy thuỷ điện Nậm Cắt thì Cơng ty CP thuỷ điện Nậm Cắt cần làm

việc với Công ty Điện lực 1 để đạt được các thoả thuận: đấu nối dự án vào lưới điện

quốc gia, thiết bị do lường và điều khiển, thiết bị hệ thống đo đếm và vị trí đặt hệ

thống đo đếm. Như vậy, Công ty CP thuỷ điện Nậm Cắt cần xây dựng lại phương án

đấu nối nhà máy vào hệ thống điện quốc gia trên cơ sở thoả thuận lại với Công ty

Điện lực 1.



47

* Nhận xét: Về cơ bản, những phân tích về thị trường và khả năng tiêu thụ sản

phẩm của dự án đã thể hiện được sự đánh giá bao quát khá đầy đủ các khía cạnh

liên quan, cán bộ sử dụng đa dạng các phương pháp khi thẩm định, việc đánh giá đi

từ phân tích nhu cầu tổng quan về sản phẩm của dự án, cung sản phẩm trên thị

trường cho đến những đánh liên quan trực tiếp đến phương thực tiêu thụ và dự kiến

khả năng tiêu thụ sản phẩm của dự án.

3.2.3.4. Thẩm định khả năng cung cấp nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào

Đối với nhà máy thủy điện, khối lượng xây lắp thường chiếm tỷ trọng lớn nhất

trên tổng giá trị cơng trình. Để xây dựng cơng trình sẽ cần một khối lượng nguyên

vật liệu rất lớn. Nguồn cung cấp nguyên vật liệu đầy đủ là yếu tố quan trọng đảm

bảo thực hiện được tiến độ xây dựng dự án đề ra. Đánh giá các vật liệu như đá, cát,

sỏi, đất đắp, nguồn điện thi cơng.

Chi phí đầu vào chủ yếu trong quá trình vận hành nhà máy thủy điện là lưu

lượng nước. Đây là đầu vào có sự biến động và ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập

của dự án. Khi tiến hành thẩm định nội dung này, cán bộ thẩm định BIDV - CN Sở

giao dịch 1 thường sử dụng phương pháp so sánh dự báo để xác định lưu lượng

nước .

Ví dụ, khi thẩm định nguồn nguyên liệu đầu vào của Nhà máy thủy điện Ngòi

Phát, sản lượng phát điện của nhà máy phụ thuộc rất lớn vào lưu lượng dòng chảy.

Nếu Sơng Ngòi Phát có lưu lượng nước đảm bảo phát điện (mức nước tại hồ chứa

đạt Mức nước dâng bình thường) thì đảm bảo cả 3 tổ máy có thể phát điện. Trong

trường hợp mức nước dưới mức dâng bình thường thì phải xem xét cho ngừng hoạt

động 1 hoặc 2 tổ máy. Nếu mức nước ở dưới mức nước chết thì phải cho nhà máy

ngừng hoạt động.

Nhìn chung đây là loại rủi ro bất khả kháng, đơn vị tư vấn và chủ đầu tư phải

chịu trách nhiệm về các tính tốn, thiết kế đưa ra.

* Nhận xét: Như đã khẳng định, thẩm định về nguyên liệu đầu vào của dự án

đầu tư nhà máy thủy điện là hết sức quan trọng do lưu lượng nước là một trong các

yếu tố quan trọng nhất đối với hoạt động của dự án sau này.

Do vậy, khi thẩm định nội dung này theo quan điểm của tác giả, người cán bộ

thẩm định ngoài việc thẩm định xem tính ổn định của nguyên liệu đầu vào của dự

án, còn cần phải tiến hành phân tích kỹ lưỡng sự biến động của nguồn đầu vào này

trong mùa khơ hoặc mùa mưa. Cán bộ thẩm định có thể sử dụng phương pháp dự

báo trên cơ sở thu thập số liệu về biến động lưu lượng dòng chảy trong q khứ,



48

trên cơ sở đó tiến tiến hành phần tích thống kê để xác định xu hướng biến động

trong tương lai.

3.2.3.5. Thẩm định về phương diện kỹ thuật

Phương diện kỹ thuật nhà máy thủy điện rất phức tạp, cán bộ thẩm định rất

khó có thể tự thẩm định được nội dung này. Thông thường trong việc thẩm định các

dự án đầu tư nhà máy thủy điện, đối với nội dung này cán bộ thẩm định thường

chấp nhận các phân tích kỹ thuật theo dự án đầu tư được khách hàng cung cấp.

Các vấn đề kỹ thuật chủ yếu cần được đánh giá đối với các dự án thủy điện

được nêu dưới đây:

Địa điểm đầu tư: Địa điểm đầu tư dự án có ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện

thi cơng, khả năng cung cấp nguyên vật liệu, tiến độ thực hiện, chi phí đầu tư và

hiệu quả của dự án. Do đó, khi thẩm định về địa điểm đầu tư dự án CBQHKH xem

xét một số yếu tố liên quan như Vị trí địa lý, số lượng/mật độ… Trên cơ sở này,

CBTĐ đưa ra đánh giá về những thuận lợi, khó khăn trong việc lựa chọn vị trí/địa

điểm xây dựng dự án.

Điều kiện địa hình, địa chất, địa chấn:

Điều kiện địa hình, địa chất tại khu vực đầu tư dự án có tác động đến điều kiện

thi cơng cơng trình, độ ổn định và bền vững của cơng trình. Các yếu tố liên quan

đến điều kiện địa hình, địa chất bao gồm: Mức độ phức tạp về địa hình địa mạo tại

địa điểm xây dựng; Độ cao, độ dốc của địa hình khu vực xây dựng; Mức độ khảo

sát địa hình. Mức độ đứt gãy địa chất khu vực xây dựng; Các tính chất cơ lý của đất

đá nền.

Để có thể đánh giá được các yếu tố về địa hình, địa chất khu vực dự án,

CBQHKH căn cứ vào các kết quả khảo sát, kết luận của đơn vị tư vấn lập dự án,

đặc biệt là kết luận của tư vấn thẩm định báo cáo đầu tư/dự án đầu tư (nếu có) và ý

kiến tham gia của các Bộ, ngành liên quan để kết luận dự án/cơng trình bị ảnh

hưởng bởi các yếu tố nào: động đất, đứt gãy, thẩm thấu, có đảm bảo hoạt động được

bình thường khơng.

Ví dụ khi thẩm định “Dự án đầu tư nhà máy thủy điện Nậm Cắt”, báo cáo đề

xuất cho vay dự án tại BIDV - CN Sở giao dịch 1 nêu:

- Tiềm năng và triển vọng thuỷ điện vừa và nhỏ ở Bắc Kạn:

Việc đấu nối vào lưới điện 35Kv thực hiện rất thuận lợi do nhà máy chỉ cách



49

tuyến đường dây này khoảng 6 km, đường dây 35Kv để đấu nối nhà máy với lưới

điện khu vực dài khoảng 6,1 km. Khu vực xây dựng nhà máy cũng khơng có hộ dân

sinh sống, chỉ có một phần nhỏ giá trị đất canh tác và cây cối, hoa màu trên đất nên

việc đền bù giải phóng mặt bằng sẽ khơng gặp nhiều khó khăn.

- Khí tượng thuỷ văn: khu vực Nhà máy thuỷ điện Nậm Cắt mang đặc điểm

khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm phân làm 2 mùa rõ rệt là mùa đơng khơ lạnh ít

mưa và mùa hè nóng ẩm nhiều mưa. Nhiệt độ trung bình Bắc Kạn là 22ºC, cao nhất

là 40.5ºC, thấp nhất là -1ºC, độ ẩm tương đối trung bình là 84%. Lượng mưa hàng

năm trung bình dao động trong khoảng 1.400-1.700 mm và có xu thế tăng dần theo

độ cao lưu vực. Trong đó có sự tương phản sâu sắc về lượng mưa, thời gian mưa

trong 2 mùa: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, chiếm

từ 70-80% tổng lượng mưa năm, thời kỳ mưa lớn là các tháng 6, 7 và 8. Mùa khô

bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, chỉ chiếm từ 20-30% tổng lượng mưa

năm, trong đó 2 tháng ít nhất là tháng 12 đến tháng 2.

- Về dòng chảy: dòng chảy trong năm chia làm 2 mùa: mùa mưa và mùa khơ,

có sự tương phản sâu sắc về lượng và thời gian do ảnh hưởng của mưa. Mùa lũ

thường bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 9, tổng lượng dòng chảy mùa lũ

chiếm 65-70% tổng lượng dòng chảy năm, tháng có dòng chảy lớn nhất thường rơi

vào tháng 7, tháng 8. Mùa kiệt bắt đầu từ tháng 10 và kết thúc vào tháng 5 năm sau,

thời kỳ kiệt nhất là tháng 12 đến tháng 4 năm sau, trong đó tháng 3 là tháng có lưu

lượng trung bình nhỏ nhất.

Về thẩm định thiết bị của dự án: cán bộ thẩm định cũng liệt kê lại các hạng

mục chính, Phương án bố trí cơng trình và giải pháp kết cấu chính.

* Nhận xét: Cán bộ thẩm định đã nghiên cứu và trình bày tương đối đầy đủ

các nội dung về địa điểm đầu tư dự án. Chấp nhận theo đánh giá của đơn vị tư vấn

về địa hình, địa chất, khí hậu, thủy văn trên dòng suối Nậm Cắt, hội tụ đủ điều kiện

để xây dựng nhà máy thủy điện quy mơ vừa và nhỏ. Cơng trình được xây dựng tại

địa điểm ít ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất hiện tại của dân cư địa phương.

Nội dung thiết bị cần thiết cho dự án thuỷ điện Nậm Cắt hoạt động được là

một trong những nội dung cho thấy hạn chế của CBTĐ. CBTĐ do ít có hiểu biết kỹ

thuật chuyên sâu của dự án nên không thể đánh giá được thiết bị loại nào là không

phù hợp, thiết bị loại nào là phù hợp từ đó cân đối được chi phí đầu tư cho thiết bị.

Có thể thấy, CBTĐ thiên về chấp nhận ý kiến của tư vấn lập dự án và yêu cầu nêu

ra đối với CĐT là tham khảo ý kiến của cơ quan chuyên ngành và đơn vị tư vấn lập



50

dự án cũng như tư vấn thẩm định

3.2.3.6. Thẩm định phương diện tổ chức, quản lý thực hiện dự án

Về cơ bản đối với nội dung này, trong quá trình thẩm định thường bị bỏ qua

hoặc chỉ đánh giá một cách chung chung về kinh nghiệm tổ chức khai thực hiện

dự án.

Khi thẩm định nội dung về phương thức tổ chức quản lý thực hiện dự án, cán

bộ thẩm định BIDV - CN Sở giao dịch 1 thường sử dụng phương pháp so sánh đối

chiếu để xem xét. Cán bộ thẩm định xem xét kinh nghiệm quản lý triển khai dự án

của chủ đầu tư đối với các dự án trước đây để đánh giá năng lực trong việc vận hành

và khai thác dự án. Đối với các dự án thủy điện, Chủ đầu tư thường thực tiếp là đơn

vị thực hiện triển khai dự án và vận hành dự án sau khi đi vào hoạt động.

* Nhận xét: Như vậy, về cơ bản việc thẩm định năng lực quản lý, khai thác

trong dự án thủy điện tại BIDV CN Sở giao dịch 1 dựa trên việc đánh giá kinh

nghiệm của khách hàng trong việc vận hành các dự án tương tự trong quá khứ, tuy

nhiên việc đánh giá là rất chung chung. Theo quan điểm của tác giả, cần có đánh giá

về kinh nghiệm điều hành của những người trực tiếp quản lý dự án sau này như

Giám đốc, Phó Giám đốc Cơng ty, Trưởng ban Quản lý dự án.

3.2.3.7. Thẩm định tổng mức đầu tư và tính khả thi phương án nguồn vốn

Khi tiến hành thẩm định nội dung này tại BIDV CN Sở giao dịch 1, cán bộ

thẩm định thường xem xét hai nội dung:

- Thẩm định tổng mức đầu tư: Xem xét đánh giá mức độ chính xác của tổng

vốn đầu tư. Đối với dự án đầu tư nhà máy thủy điện, các chi phí hình thành nên tổng

mức đầu tư gồm: Phần xây lắp (chiếm chủ yếu), Thiết bị, Chi phí đền bù GPMB,

Chi phí khác, Dự phòng phát sinh và lãi phát sinh trong quá trình xây dựng.

- Thẩm định về nguồn vốn đầu tư: Ở nội dung này, cán bộ thẩm định tiến hành

xem xét cơ cấu nguồn vốn thực hiện dự án, vốn tự có của chủ đầu tư là bao nhiêu,

vốn vay ngân hàng là bao nhiêu và tính khả thi của các phương án vốn.

Trong quá trình thẩm định nội dung này phương pháp được cán bộ thẩm định

BIDV - CN Sở giao dịch 1 áp dụng là phương pháp so sánh, đối chiếu. Chẳng hạn

như thẩm định tổng mức đầu tư, cán bộ thẩm định thường so sánh với các dự án

thủy điện đã được thực hiện gần đây để đánh giá mức độ hợp lý.

Ví dụ khi thẩm định tổng mức đầu tư và phương án vốn “Dự án đầu tư nhà

máy thủy điện Hồ Bốn” tại BIDV - CN Sở giao dịch 1 như sau:



51

Đơn vị: tỷ đồng Việt Nam

STT

1

2

3

4

5

6



Hạng mục

- Xây lắp:

- Thiết bị:

- Chí phí khác:

- Chi phí đền bù, GPMB:

- Dự phòng:

- Lãi trong q trình xây dựng:

Tổng mức vốn đầu tư



Giá trị

153.5

90.6

24.3

18.6

29.3

27.5

343.8



Bảng 3.5: Chi tiết tổng mức vốn đầu tư của dự án

Nguồn : Báo cáo thẩm định nhà máy thủy điện Hồ Bốn [15]

Các nguồn vốn tham gia đầu tư:

- Vốn vay ngân hàng thương mại (85%) tổng vốn đầu tư: 291.511 triệu đồng.

- Vốn tự có tham gia (15%): 51.443 triệu đồng

* Nhận xét: Việc xác định số vốn đầu tư được thực hiện bởi đội ngũ những

cán bộ ngành xây dựng biết bóc tách bản vẽ và xác định được chi phí tứng hạng

mực. Đối với phần này, CBTD cũng có xu hướng sử dụng thơng tin mà Chủ đầu

tư cấp.

Do đó, để việc thẩm định nội dung này một cách chính xác, theo ý kiến của tác

giả, chi nhánh nên yêu cầu, chủ đầu tư th một đơn vị thẩm định có uy tín để tiến

hành xác minh tổng vốn đầu tư thực tế.

Đối với việc thẩm định phương án vốn tự có và huy động khác, thông thường

doanh nghiệp mới chỉ đưa dự kiến về nguồn vốn này trong dự án gửi ngân hàng,

chưa có giấy tờ gì thể hiện cho tính khả thi của nguồn vốn. Chẳng hạn trong ví dụ

trên, doanh nghiệp dự kiến vốn tự có sẽ được lấy từ vốn tự có, phát hành trái phiếu

và nguồn vốn của đơn vị. Tại thời điểm thẩm định chưa có giấy tờ gì thể hiện cho

các phương án này, tuy nhiên, cổ đông của chủ đầu tư dự án là doanh nghiệp có vốn

lớn, có uy tín và năng lực tài chính do vậy khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp

được đảm bảo.

Theo tác giả, để đảm bảo cho dự án có đầy đủ nguồn vốn để thực hiện, chi

nhánh nên đưa vào điều kiện sẽ tiến hành giải ngân trên cơ sở vốn đối ứng, tức là

chỉ giải ngân sau khi phần vốn tự có của chủ đầu tư được thực hiện.

3.2.3.8. Thẩm định về mặt hiệu quả tài chính của dự án

Tất cả những phân tích, đánh giá thực hiện ở trên nhằm mục đích hỗ trợ cho

phần tính tốn, đánh giá hiệu quả về mặt tài chính và khả năng trả nợ của dự án đầu

tư thủy điện. Việc xác định hiệu quả tài chính của dự án có chính xác hay khơng tuỳ



52

thuộc rất nhiều vào việc đánh giá và đưa ra các giả định ban đầu, các giả định này

được rút ra từ các phân tích từ những nội dung đã trình bày trong các phần trước.

Từ kết quả phân tích ở trên sẽ được lượng hoá thành những giả định để phục vụ cho

quá trình tính tốn, cụ thể như sau:

Đánh giá về tính khả thi của nguồn vốn, cơ cấu vốn đầu tư: Phần này sẽ đưa

vào để tính tốn chi phí đầu tư ban đầu, chi phí vốn (lãi, phí vay vốn cố định),

chi phí sửa chữa tài sản cố định (TSCĐ), khấu hao TSCĐ phải trích hàng năm,

nợ phải trả.

Đánh giá về mặt thị trường, khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự

án và phương án tiêu thụ sản phẩm sẽ đưa vào để tính tốn: Mức huy động công

suất so với công suất thiết kế, doanh thu dự kiến hàng năm.

Đánh giá về khả năng cung cấp nguyên liệu đầu vào, sự động đối với nguyên

liệu, giá cả biến động thế nào.

Căn cứ vào tốc độ luân chuyển vốn lưu động hàng năm của dự án, của các doanh

nghiệp cùng ngành nghề và mức vốn lưu động tự có của chủ dự án (phần tài chính

doanh nghiệp) để xác định nhu cầu vốn lưu động, chi phí vốn lưu động hàng năm.

Các chế độ thuế hiện hành, các văn bản ưu đãi riêng đối với dự án để xác định

phần trách nhiệm của chủ dự án đối với ngân sách.

Trên cơ sở những căn cứ nêu trên, Cán bộ quan hệ khách hàng/quản lý rủi ro

thiết lập các bảng tính tốn hiệu quả tài chính của dự án làm cơ sở cho việc đánh giá

hiệu quả và khả năng trả nợ vốn vay.

Trong nội dung này, cán bộ thẩm định sử dụng nhiều phương pháp phân tích

khác nhau như: Phương pháp so sánh đối chiếu (so sánh các chỉ tiêu với các dự án

tương tự), phương pháp phân tích độ nhạy (phân tích biến động của các chỉ tiêu

đánh giá khi một nhân tố nào đó biến động), phương pháp dự báo (sự dụng nhiều

trong phân tích thị trường dự án, biến động đầu vào….)

Ví dụ, minh họa nội dung thẩm định tài chính dự án “Dự án Nhà máy thủy

điện Nậm Cắt” tại BIDV - CN Sở giao dịch 1 như sau:

A. Cơ sở tính toán:

 Thu nhập của dự án:

Doanh thu của dự án được tính bằng: Sản lượng điện thương phẩm x Giá bán điện.

* Giá bán điện khởi điểm: 754 đồng/kwh (tương đương 4,2 USD cent/kwh. Tỷ

lệ tăng giá bán trên 1 năm là 1,0%.

Sản lượng điện thương phẩm = Sản lượng điện sản xuất - Tổn thất và tự dùng;

Sản lượng điện sản xuất = Điện lượng hàng năm x Công suất huy động



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sơ đồ 3.2: Lưu đồ cấp tín dụng dự án tại Chi nhánh Sở giao dịch 1

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×