Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sơ đồ 1.1: Quy trình thẩm định dự án tại các NHTM

Sơ đồ 1.1: Quy trình thẩm định dự án tại các NHTM

Tải bản đầy đủ - 0trang

12

Bước 4: Lập báo cáo kết quả thẩm định dự án đầu tư theo quy định của ngân

hàng.

Bước 5: Trình lên cấp có thẩm quyền phê duyệt.

2.1.6. Nội dung thẩm định dự án đầu tư tại NHTM

Nhìn chung, trong việc thẩm định một dự án đầu tư, NHTM thường thẩm định

ba nội dung lớn: Thẩm định về khách hàng vay vôn, thẩm định về dự án vay vốn và

thẩm định về biện pháp bảo đảm tiền vay. Trong luận văn này tác giả chủ yếu đề cập

đến việc thẩm định dự án đầu tư vay vốn. Các nội dung thẩm định lần lượt được

trình bày cụ thể dưới đây:

2.1.6.1. Thẩm định khách hàng vay vốn

Thẩm định khách hàng vay vốn là nội dung được các NHTM xem xét trước

khi thẩm định vào dự án đầu tư đề nghị vay vốn. Thông thường, tại các NHTM khi

thẩm định về khách hàng vay vốn thường tiến hành đánh giá về tư cách pháp lý,

năng lực điều hành quản lý của doanh nghiệp; đánh giá về hoạt động sản xuất kinh

doanh và tình hình tài chính của khách hàng thơng qua báo cáo tài chính do doanh

nghiệp cung cấp trong 3 năm gần nhất, các báo cáo chi tiết tình hình các khoản phải

thu, phải trả… Ngoài ra, các ngân hàng thương mãi sẽ tiến hành thẩm định tình hình

quan hệ tín dụng của khách hàng tại các tổ chức tín dụng khác để nắm được mức dư

nợ của khách hàng tại các tổ chức tín dụng khác như thế nào, lịch sử quan hệ ra sao.

Từ đó để có được những kết luận thẩm định về khách hàng vay vốn.

Đánh giá về lịch sử hoạt động, đánh về mơ hình tổ chức và bố trí lao động của

khách hàng, đánh về về năng lực quản trị điều hành của Ban giám đốc, Ban Quản lý

dự án đầu tư, đánh giá về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong thời gian

gần nhất, nhất là đánh giá năng lực tài chính của Công ty qua số vốn điều lệ, số liệu

báo cáo tài chính 3 năm gần nhất qua bảng chi tiết các khoản phải thu, phải trả,

hàng tồn kho, để đảm bảo công ty phải hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi tại thời

điểm vay vốn. Việc phân tích năng lực tài chính được thể hiện thơng qua các chỉ

tiêu như chỉ tiêu về khả năng thanh toán (thanh tốn nhanh, thanh tốn hiện hành),

nhóm chỉ tiêu hoạt động (như vòng quay vốn lưu động, vòng quay khoản phải thu,

vòng quay hàng tồn kho), nhóm chỉ tiêu cơ cấu nợ (như nợ phải trả/tổng tài sản, nợ

dài hạn/vốn chủ sở hữu) và nhóm chỉ tiêu thu nhập (ROS, ROA, ROE).

Một phần nội dung thẩm định cũng rất quan trọng là thẩm định năng lực thực

hiện dự án của chủ đầu tư. Việc triên khai thực hiện dự án đầu tư đảm bảo tiến độ,

đúng thiết kế được duyệt là một phần rất quan trọng trong dự án đầu tư. Do đó,



13

NHTM phải đánh giá về kinh nghiệm của chủ đầu tư trong việc thực hiện dự án như

chủ đầu tư đã từng thực hiện dự án tương tự hay chưa và dự án đó đang hoạt động

như thế nào, có tốt và hiệu quả hay khơng. Chủ đầu tư có thành lập Ban quản lý dự

án để điều hành việc triển khai dự án chưa và kinh nghiệm của thành viên Ban quản

lý dự án.

2.1.6.2. Thẩm định tính pháp lý của dự án

Để thẩm định tính pháp lý của dự án, CBTĐ cần xem xét tính phù hợp của dự

án với văn bản pháp luật, với định hướng của Đảng và Chính phủ, đây là nội dung

quan trọng đầu tiên cần phải thẩm định vì dự án phải phù hợp với quy hoạch phát

triển xã hội, quy hoạch của ngành, quy hoạch xây dựng và với các văn bản pháp

luật hiện hành.

Thẩm định các văn bản chấp thuận của các cấp chính quyền và các cơ quan

liên quan trong việc triển khai xây dựng dự án như (giấp phép chấp thuận đầu tư,

phê duyệt về thiết kế cơ sở, phê duyệt của các cấp chính quyền về tác động môi

trường của dự án….). Các văn bản giấy tờ của các cổ đông sang lập chấp thuận đầu

tư dự án…

2.1.6.3. Thẩm định về phương diện thị trường của dự án

Thị trường là một khâu hết sức quan trọng quyết định sự thành bại của một dự

án, do vậy thẩm định phương diện thị trường là một trong những nội dung khơng

thể thiếu khi đánh giá tính khả thi của dự án đầu tư. Tuỳ thuộc vào lượng thông tin

và mức độ chính xác của thơng tin thu thập được, CBTĐ tiến hành đánh giá về thị

trường của sản phẩm trên những khía cạnh sau:

- Phân tích nhu cầu của thị trường hiện tại và tương lai về sản phẩm mà DAĐT

cung cấp:

- Phân tích tình hình cung sản phẩm trong hiện tại và tương lai.

- Phân tích thị trường mục tiêu của DAĐT và khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

2.1.6.4. Thẩm định khía cạnh kỹ thuật của dự án

- Các phương án lựa chọn máy móc thiết bị, dây chuyền cơng nghệ:

+ Trình độ tiên tiến của cơng nghệ ở mức độ nào so với thế giới. Sự phù hợp

của công nghệ với Việt Nam.

+ Đánh giá sự hợp lý trong phương thức chuyển giao công nghệ, khả năng

nắm bắt và vận hành công nghệ của CĐT. Đánh giá sự hợp lý của giá cả máy móc

thiết bị so với mặt bằng chung của thị trường và phương thức thanh toán, sự phù

hợp về thời gian giao hàng và lắp đặt thiết bị với tiến độ thực hiện dự án.



14

+ Đánh giá về công suất, danh mục, số lượng, chủng loại của máy móc thiết bị

và tính đồng bộ của dây chuyền sản xuất. Đánh giá uy tín, năng lực của các nhà

cung cấp thiết bị.

- Các phương án đảm bảo yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất

+ Nguyên vật liệu đầu vào cho sản phẩm của dự án là những loại nào, có thuộc

loại dễ kiếm hay dễ thay thế khơng.

+ Nguồn cung cấp có gần nơi sản xuất không và phương thức vận chuyển dự

kiến ra sao? Chi phí vận chuyển chiếm tỷ lệ là bao nhiêu trong giá thành sản phẩm.

Biến động về giá mua, nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào, tỷ giá trong trường hợp

phải nhập khẩu.

- Các phương án thi công, xây dựng cơng trình

+ Đánh giá sự hợp lý về quy mô xây dựng, giải pháp kiến trúc so với quy

hoạch chung của địa phương nơi có cơng trình xây dựng.

+ Đánh giá năng lực, uy tín của các nhà thầu tham gia thi cơng các hạng mục

cơng trình. Đánh giá việc bố trí cơ sở hạ tầng như: Điện, nước, giao thơng…

2.1.6.5. Thẩm định khía cạnh tổ chức quản lý và nhân sự dự án

Trong phần náy, đánh giá kinh nghiệm, trình độ tổ chức quản lý của CĐT,

đánh giá sự hiểu biết, khả năng tiếp cận và điều hành công nghệ mới của dự án.

Đánh giá tư cách pháp lý, uy tín, năng lực tài chính, năng lực kỹ thuật của các nhà

thầu tham gia tư vấn, thi cơng xây lắp cơng trình.

Đồng thời, đánh giá khả năng cung ứng nguồn nhân lực cho dự án, phương án

sắp xếp, bố trí lao động, trình độ tay nghề, trình độ kỹ thuật của đội ngũ lao động,

kế hoạch đào tạo của doanh nghiệp

2.1.6.6. Thẩm định tài chính dự án

Đây là yếu tố khơng kém phần quan trọng có tính chất quyết định đầu tư của

ngân hàng. Thẩm định tài chính để làm rõ dự án có hiệu quả và khả năng trả nợ

ngân hàng hay không. Đây cũng là cơ sở để ngân hàng ra quyết định về số tiền cho

vay, thời hạn vay và các điều kiện giải ngân khác. Nội dung của phần này bao gồm:

- Thẩm tra mức độ hợp lý của tổng vốn đầu tư và tiến độ bỏ vốn:

- Thẩm tra nguồn vốn huy động để thực hiện dự án.

- Kiểm tra việc tính tốn các khoản chi phí sản xuất hàng năm

- Kiểm tra tính hợp lý của giá bán sản phẩm, doanh thu hàng năm của dự án

- Kiểm tra tính chính xác của tỷ suất “R” trong phân tích tài chính

- Thẩm định dòng tiền của dự án



15

- Kiểm tra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của dự án (bao gồm IRR,

NPV, thời gian hồn vốn, điểm hòa vốn...)

- Đánh giá khả năng trả nợ của dự án;

Đối với việc đánh giá hiệu quả tài chính của dự án, có một số chỉ tiêu như sau:

(i) Xác định dòng tiền ròng của dự án

NCFi = CIFi – COFi

Trong đó:

- NCFi: Dòng tiền ròng của dự án tại năm i

- CIFi: Tổng dòng tiền vào của dự án tại năm i

- COFi: Tổng dòng tiền ra của dự án tại năm i

(ii) Xác định lãi suất chiết khấu

Lãi suất chiết khấu được hiểu là tỷ lệ mà nhờ đó các dòng tiền được quy về

cùng một thời điểm. Sở dĩ cần phải quy các dòng tiền về cùng một thời điểm vì tiền

có giá trị khác nhau theo thời gian. Nguyên nhân dẫn đến điều này là do hai nguyên

nhân cơ bản: thứ nhất, do tác động của lạm phát (giảm phát), và thứ hai là chi phí cơ

hội của việc nắm giữ tiền. Cơ sở để lựa chọn lãi suất chiết khấu là khả năng sinh lời

và cơ cấu vốn của dự án. Và vì vậy cũng có thể coi lãi suất chiết khấu là tỷ lệ sinh

lời cần thiết đối với mỗi dự án.

Lãi suất chiết khấu đối với dự án có vốn đầu tư hỗn hợp bao gồm vốn chủ sở

hữu và nợ, thường được xác định bằng phương pháp sử dụng chi phí vốn bình quân

gia quyền (WACC). Theo đó, lãi suất chiết khấu được tính bằng bình qn gia

quyền của chi phí các nguồn vốn với quyền số là tỷ trọng các nguồn vốn trong tổng

vốn đầu tư:

s



B



R  ¦WACC  = s  B x R s + S  B xR B .

Trong đó:

s

s  B : Tỷ trọng của vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn

B

S  B : Tỷ trọng của vốn nợ trong tổng nguồn vốn



R s : Chi phí vốn chủ sở hữu.

R B : Chi phí vốn vay.



16

(iii) Giá trị hiện tại ròng (Net Present Value – NPV)

Chỉ tiêu NPV cho ta biết tổng lơi nhuận mà dự án đem lại là bao nhiêu sau khi

lấy các khoản thu từ dự án, trừ các khoản chi từ dự án.

NPV được xác định như sau :

n



NCFt



t 1



1  k  t



NPV= 



 CF0



Trong đó:





CF0 : là vốn đầu tư bỏ ra tại thời điểm ban đầu.







NCFt : dòng tiền ròng thu được tại năm thứ t của dự án, chạy từ năm thứ 1



đến năm thứ n.

 n: số năm thực hiện dự án.

 k: lãi suất chiết khấu của dự án.

- Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (Internal Rate of Return – IRR):

Tỷ suất hoàn vốn nội bộ là trường hợp đặc biệt của lãi suất chiết khấu ở đó

NPV bằng khơng tức tổng giá trị hiện tại của các khoản thu trong tương lai bằng giá

n



trị hiện tạo của vốn đầu tư. Hay nói cách khác :



NCFt



 1  IRR 

t 1



t



 CF0 = 0



IRR được tính theo cơng thức:

IRR= k1 +



NPV1  k 2  k1 

NPV1  NPV2



(iv) Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ có điều chỉnh (MIRR ):

Tỷ lệ hồn vốn nội bộ có điều chỉnh là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó giá trị hiện tại

của chi phí dự án bằng với giá trị hiện tại của tổng giá trị tương lai của những luồng

tiền vào.

Chỉ tiêu này khắc phục nhược điểm của chỉ tiêu IRR khi giả định tỷ lệ lãi suất

tái đầu tư nhằm đưa lại kết quả chính xác hơn. Với NHTM chỉ tiêu này có vai trò

tương tụ như chỉ tiêu IRR.

(v) Thời gian hồn vốn đầu tư (Payback Period-PP):

Thời gian hoàn vốn đầu tư của dự án là thời gian để CĐT thu hồi được số vốn

đã đầu tư vào dự án. PP phản ánh thời gian thu hồi vốn đầu tư của dự án, nó cho

phép NHTM đánh giá dự án có thể hồn vốn đầu tư trong bao lâu để đánh giá mức

độ rủi ro. Nếu dự án có thời gian hồn vốn càng dài thì khả năng xảy ra rủi ro càng

lớn; do vậy, NHTM phải cân nhắc kỹ lưỡng khi xem xét cho vay dự án.



17

Cơng thức tính:

PP = n +

Trong đó : n là năm ngay trước năm thu hồi đủ vốn đầu tư.

2.1.6.7. Thẩm định khía cạnh kinh tế - xã hội dự án đầu tư

Phân tích các lợi ích kinh tế - xã hội là nội dung quan trọng của dự án, giúp

nhà đầu tư thuyết phục các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận cho dự án ra đời và

các cơ quan cung ứng vốn quan tâm trong việc tài trợ.

Nội dung thẩm định về kinh tế - xã hội bao gồm: Đánh giá tác động của dự án

đối với môi trường sống tại địa phương, như tạo việc làm cho người lao động, sử

dụng hiệu quả nguồn nguyên liệu địa phương, nâng cao đời sống của người dân địa

phương, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, tác động đến mơi trường như thế nào.

Nhìn chung, khía cạnh kinh tế xã hội của dự án đầu tư thông thường các

NHTM không đi sâu thẩm định hoặc bỏ qua nội dung này trong quá trình thẩm định

dự án đầu tư.

2.1.6.8. Thẩm định rủi ro

Rủi ro của dự án là những điều không mong muốn xảy ra trong quá trình

thực hiện dự án, gây nên những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến hiệu quả của dự

án. Rủi ro luôn song hành tất cả mọi hoạt động đầu tư. Đối với dự án đầu tư, do

thời gian kéo dài, các rủi ro tiềm ấn là rất lớn. Do đó, đây là nội dung khơng thể

thiếu trong q trình thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM. Thông thường khi

thẩm định nội dung này, các NHTM sẽ tiến hành liệt kê một cách đầy đủ nhất các

loại rủi ro có thể tác động đến dự án, trên cơ sở đó thẩm định xem khách hàng đã

có những phương pháp hạn chế rủi ro thế nào, hoặc NHTM sẽ đề xuất các biện

pháp hạn chế, triệt tiêu rủi ro.

Trong quá trình thẩm định dự án đầu tư, Ngân hàng thường sử dụng các

phương pháp đo lường rủi ro như sau:

 Phân tích độ nhạy

Phân tích độ nhạy là xem xét sự thay đổi của các chỉ tiêu hiệu quả tài chính

của dự án khi các yếu tố có liên quan đến chỉ tiêu đó thay đổi. Các yếu tố này bao

gồm những yếu tố có ảnh hưởng và tác động đến dòng tiền của dự án. Phân tích độ

nhạy sẽ đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thông qua xem xét sự thay

đổi các chỉ tiêu NPV, IRR.

Trong phân tích độ nhạy người ta dự kiến một số tình huống thay đổi, những



18

rủi ro trong tương lai làm cho giá nguyên vật liệu tăng, giá thuê nhân công tăng, sản

lượng giảm, doanh thu giảm…Các yếu tố này có thể được xem xét một cách đơn lẻ

hoặc xem xét sự tác động đồng thời của chúng tới các chỉ tiêu hiệu quả như: NPV,

IRR…Từ đó, NHTM có thể đánh giá độ nhạy cảm của các chỉ tiêu này: nếu các chỉ

tiêu này khi tính lại vẫn đạt yêu cầu thì dự án được coi là ổn định và được chấp

nhận. Ngược lại dự án bị coi là có độ nhạy cảm, thiếu ổn định.

 Phân tích tình huống

Mặc dù, phân tích độ nhạy ở trên được dùng khá phổ biến đối với các nhà

phân tích dự án tuy nhiên phương pháp này còn có những hạn chế như chưa dựa

trên sự phân bố xác suất nên khó có thể lượng hố được các chỉ tiêu hiệu quả tài

chính trong trường hợp xấu nhất và tốt nhất so với cơ sở. Do đó trong thẩm định và

phân tích rủi ro người ta còn sử dụng phương pháp phân tích tình huống.

Phân tích tình huống là kỹ thuật phân tích rủi ro kết hợp cả hai nhân tố là tính

đến xác suất xảy ra của các biến rủi ro và sự tác động của chính biến đó đối với dự

án. Tức là lập ra các tình huống tốt nhất và xấu nhất và xác suất xảy ra. Từ đó tính

tốn lại NPV hoặc IRR trong điều kiện tốt và xấu sau đó so sánh với các giá trị làm

chuẩn (giá trị cơ sở).

2.1.6.9. Thẩm định về biện pháp bảo đảm tiền vay

Để bảo đảm cho khoản vay tại Ngân hàng, khách hàng cần phải có tài sản thế

chấp, Ngân hàng sẽ tiến hành định giá tài sản thế chấp, xác định tài sản thế chấp là

những loại tài sản nào, có nhận làm tài sản thế chấp hay không và xác định số tiền

cho vay dựa trên giá trị tài sản thế chấp.

Tài sản thế chấp tại Ngân hàng gồm có tài sản bảo đảm là bất động sản, động

sản, bảo lãnh của bên thứ ba hoặc chính bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Đối với

các dự án thủy điện, do đặc thù có giá trị đầu tư lớn nên khó có thể huy động nhiều

tài sản có giá trị lên đến hàng trăm hay hàng nghìn tỷ đồng để bảo đảm cho khoản

vay mà thay vào đó, ngân hàng xem xét nhận tài sản bảo đảm là nhà máy thủy điện

hình thành từ vốn vay. Tuy nhiên, dự án thủy điện là một tài sản đặc thù nên việc

phát mại tài sản là không dễ dàng. Thay vào đó, Ngân hàng thường chấp nhận bổ

sung bảo lãnh bằng tín chấp của Bên thứ 3 có uy tín trên thị trường.

2.1.7. Phương pháp thẩm định dự án đầu tư

Để thẩm định đối với một dự án thủy điện, các phương pháp thẩm định được

sử dụng phương pháp thẩm định đối với dự án nói chung. Đó là các phương pháp:

- Phương pháp thẩm định theo trình tự.



19

- Phương pháp phân tích độ nhạy.

- Phương pháp so sánh đối chiếu.

- Phương pháp phân tích rủi ro.

2.1.7.1. Phương pháp thẩm định theo trình tự

Phương pháp thẩm định theo trình tự là phương pháp được tiến hành thẩm

định từ tổng quát đến chi tiết dự án.

- Thẩm định tổng quát: Là việc xem xét một cách tổng quan nhất về dự án từ

đó đưa ra những nhận định và đánh giá chung nhất về dự án như tính đầy đủ, tính

hợp lí, hợp pháp về hồ sơ dự án, tư cách pháp lý của nhà đầu tư…Thẩm định tổng

quát là cái nhìn bao trùm tổng quan về bên ngồi của dự án cho phép người thẩm

định hình dung khái quát về dự án, hiểu rõ quy mô, tầm quan trọng, sự cần thiết của

dự án.

- Thẩm định chi tiết: Bước thẩm định này được tiến hành sau khi đã thẩm định

tổng quát về dự án. Quá trình thẩm định này được tiến hành một cách tỉ mỉ, chi tiết

tới từng nội dung của dự án như: Thẩm định về các điều kiện pháp lý, thẩm định thị

trường, kỹ thuật, tổ chức quản lý, tài chính và kinh tế xã hội của dự án…Tất cả các

nội dung của dự án đều phải được xem xét kỹ lưỡng để đưa ra những ý kiến đánh

giá đồng ý hay cần phải sửa đổi bổ sung thêm hoặc không đồng ý cho vay.

2.1.7.2. Phương pháp phân tích độ nhạy

Phương pháp này thường dùng để kiểm tra tính vững chắc về hiệu quả tài

chính của của dự án đầu tư. Phân tích độ nhạy dự án là việc xem xét sự thay đổi một

yếu tố chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án (Lợi nhuận, IRR, T, B/C,…) thì hiệu quả

của dự án có còn đảm bảo hay khơng. Phương pháp phân tích độ nhạy thường được

áp dụng trong quá trình thẩm định hiệu quả tài chính của dự án thủy điện. CBTĐ sẽ

sử dung phương pháp này để phân tích xem dự án có còn hiệu quả khơng trong tình

huống rủi ro xấu xảy ra. Phương pháp này đặc biệt quan trong đối với những dự án

có thời gian đầu tư kéo dài như dự án thủy điện.

2.1.7.3. Phương pháp thẩm định so sánh, đối chiếu các chỉ tiêu

Đây là phương pháp phổ biến và thường được sử dụng trong thẩm định dự án

đầu tư. Trong phương pháp này CBTĐ của Ngân hàng so sánh, đối chiếu các chỉ tiêu

nội dung của dự án với chuẩn mực pháp luật quy định, các tiêu chuẩn, định mức quốc

tế, quốc gia cũng như các kinh nghiệp thực tế, phân tích, so sánh để lựa chọn phương

án tối ưu. Phương pháp này được CBTĐ Ngân hàng sử dụng kết hợp cùng với 2

phương pháp trên trong suốt quá trình thẩm định dự án thủy điện. Trong quá trình



20

thẩm định các nội dung của dự án như thẩm định thị trường, thẩm định kỹ thuật, thẩm

định tài chính… đều sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu. Việc sử dụng phương

pháp so sánh đối chiếu sẽ cho CBTĐ cái nhìn khách quan hơn về dự án để từ đó đưa

ra được quyết định chính xác hơn.

2.1.7.4. Phương pháp phân tích quản trị rủi ro

Đây là phương pháp hạn chế thấp nhất các tác động rủi ro hoặc phân tán rủi ro

cho các đối tác có liên quan đến dự án. Ngân hàng phân tích các rủi ro có thể xảy ra đối

với dự án và tìm cách phòng tránh rủi ro đó với mức thiệt hại nhỏ nhất để vẫn đảm bảo

được dự án có hiệu quả. Đối với các dự án thủy điện, các rủi ro của dự án gồm có:

a) Rủi ro về khơng đủ nguồn nước cung cấp cho dự án nhà máy thủy điện

Sản lượng phát điện của nhà máy phụ thuộc rất lớn vào lưu lượng dòng chảy.

Nếu dòng suối có lưu lượng nước đảm bảo phát điện (mức nước tại hồ chứa đạt

Mức nước dâng bình thường) thì đảm bảo tất cả các tổ máy có thể phát điện.

Nếu tình trạng khô hạn xảy ra, lưu lượng nước không đảm bảo để phát điện thì

nhà máy có thể bị ngừng hoạt động hoặc hoạt động dưới mức công suất thiết kế. Sản

lượng điện phát ra thấp ảnh hưởng đến sản lượng bán điện và doanh thu của dự án.

b) Rủi ro về chính sách: Đây là các chính sách của Nhà nước về đầu tư các dự

án thủy điện, các giấy tờ pháp lý đối với dự án để được hình thành. Đó là các chính

sách chủ trương của nhà nước về xã hội hóa ngành điện, giá bán điện và phương

thức đấu nối điện vào hệ thống điện quốc gia.

c) Rủi ro về thị trường: Rủi ro về các nhà cung cấp điện, khă năng bán điện

của dự án khi nhà máy hình thành, giá cả thị trường khi dự án đi vào hoạt động.

d) Rủi ro về biến động giá cả nguyên vật liệu xây dựng trên thị trường: Khả

năng tăng giá xi măng, sắt thép, cát làm tăng chi phí đầu tư ảnh hưởng đến hiệu quả

dự án. Cơng trình thuỷ điện có khối lượng thi cơng xây lắp lớn nên sẽ chịu rủi ro

nhiều từ việc biến động giá cả nguyên vật liệu xây dựng trên thị trường.

đ) Rủi ro về thiên tai, địch họa: Các dự án thủy điện thường xuyên đối mặt với

các rủi ro liên quan đến thiên tai như: Lũ lụt tàn phá nhà máy, Các cơng trình đầu

mối, các tuyến năng lượng,… Hạn hán kéo dài làm cạn kiệt nguồn nước để phát

điện dẫn đến các CĐT mất khả năng thanh tốn tồn bộ hay cục bộ một số năm nhất

định. Để khắc phục rủi ro trên đơn vị tư vấn lập dự án và thiết kế cơng trình đã tính

tốn, lựa chọn phương án tối ưu trêm cơ sở các tài liệu khảo sát địa chất, thủy văn

khu vực xây dựng nhằm hạn chế tối đã những rủi ro có thể xảy ra.

2.2. Vai trò và yêu cầu đối với cơng tác thẩm định dự án thủy điện



21

2.2.1. Vai trò của cơng tác thẩm định dự án thủy điện

Vai trò của việc thẩm định dự án thủy điện về cơ bản giống với vai trò của

cơng tác thẩm định dự án đầu tư nói chung trong các ngân hàng thương mại, tuy

nhiên với đặc thù của ngành điện (năng lượng quan trọng quốc gia, vốn lớn, độc

quyền phân phối, rủi ro nhiều…) vai trò của việc thẩm định còn đặc biệt quan trọng

hơn:

- Trước hết việc thẩm định nhằm đưa ra kết luận về tình khả thi, hiệu quả về

mặt tài chính của dự án đầu tư, khả năng trả nợ và những rủi ro có thể xảy ra để

phục vụ cho quyết định cho vay hoặc từ chối cho vay đầu tư. Khi doanh nghiệp

soạn thảo dự án bao giờ cũng đứng trên quan điểm lợi ích của doanh nghiệp mình,

chính vì vậy việc thẩm định dự án trước khi cho vay là vô cùng cần thiết để đảm

bảo tính khách quan, hợp lý của phương án vay.

- Mặt khác công tác thẩm định sẽ giúp hạn chế những tiêu cực khơng đáng có

trong hoạt động tín dụng của ngân hàng do sự móc ngoặc giữa cán bộ khách hàng

và khách hàng, gây thiệt hại vốn vay của Ngân hàng.

- Ngồi ra, cơng tác thẩm định dự án còn có vai trò đề xuất mức cho vay, thời

gian cho vay, tiến độ giải ngân… phù hợp đối với mỗi phương án vay vốn. Mặc dù,

ngân hàng có quy định cụ thể về tỷ lệ cho vay, phương thức cho vay nhưng các

trường hợp xin vay vốn không bao giờ giống nhau. Vì vậy, các cán bộ thẩm định khi

xem xét phương án vay vốn sẽ tính đến các yếu tố khách quan và chủ quan của từng

trường hợp để áp dụng một tỷ lệ cho vay thích hợp. Và chính từ những ý kiến đề xuất

của cán bộ thẩm định, các cấp thẩm quyền mới có cơ sở để xem xét và phê duyệt đề

xuất cho vay vốn.

2.2.2. Yêu cầu đối với công tác thẩm định dự thủy điện tại NHTM

2.2.2.1. Tính chính xác và chân thực

Vai trò quan trọng của cơng tác Thẩm định trong hoạt động tín dụng cho

vay vốn của Ngân hàng, yêu cầu quan trọng nhất đối với cơng tác thẩm định

chính là tính chính xác và chân thực. Chỉ khi bảo đảm được yêu cầu này thì

những vai trò của cơng tác thẩm định tại Ngân hàng mới phát huy hết được ý

nghĩa thực sự của nó.

2.2.2.2. Tính kịp thời

Ngày nay trong cơ chế thị trường, “thời gian là vàng là bạc”, bất cứ nhà đầu tư

nào cũng muốn nhanh chóng và hiệu quả, rút ngắn được thời gian thẩm định trong

khi vẫn đảm bảo yêu cầu chất lượng của công tác thẩm định tạo nên thế cạnh tranh



22

và phát triển bền vững của BIDV – CN Sở giao dịch 1 so với các ngân hàng khác.

Trong quy chế về hoạt động thẩm định của ngân hàng có đưa ra những yêu cầu rất

cụ thể về thời gian thẩm định đối với các loại phương án đầu tư khác nhau.

2.2.2.3. Độc lâp, khách quan

Đây là yêu cầu đối với cán bộ thẩm định của ngân hàng đề đảm bảo thực hiện

được công tác thẩm định. Các cán bộ được giao trách nhiệm thẩm định đều phải là

nhân viên có kinh nghiệm, làm việc trung thực, khách quan có như vậy mới thực

hiện tốt các yêu cầu nêu trên.

2.2.2.4. Phân cấp thẩm định

Yêu cầu phân cấp trong hoạt động cho vay tại ngân hàng là một yêu cầu quan

trọng đối với quy trình thẩm định, giúp đảm bảo yếu tố khách quan, khoa học và

chặt chẽ trong công tác thẩm định, giúp giảm thiểu rủi ro của hoạt động cho vay tại

ngân hàng.

Có thể nói việc đặt ra yêu cầu và thực hiện tốt các yêu cầu trên là hướng đi

đúng đắn trong việc đảm bảo cho công tác thẩm định tại Ngân hàng, phát huy được

vai trò của mình, nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay vốn và mang lại lợi ích to

lớn, bền vững cho ngân hàng.

2.3. Đặc điểm của dự án thủy điện ảnh hưởng tới công tác thẩm định

Đặc điểm của các dự án thuỷ điện sẽ ảnh hưởng đến cách thức, nội dung

thẩm định các dự án này. Các dự án thuỷ điện không những mang những đặc thù

chung của một dự án điện mà còn có những đặc trưng riêng có do việc tạo ra

nguồn điện từ năng lượng của nước. Các đặc điểm của dự án thuỷ điện có thể

được nêu ra như sau:

2.3.1. Cơng trình thuỷ điện hầu hết được đầu tư ở khu vực miền núi nên địa

hình, địa chấn phức tạp

Các cơng trình thuỷ điện hầu hết lấy năng lượng nhờ thế năng của nước

được tích tụ tại các đập nước làm quay một turbine nước và máy phát điện. Do

đó để có được thế năng này, các dự án thuỷ điện thường được xây dựng ở khu

vực miền núi. Những vùng này thường có địa hình, địa chấn phức tạp hơn các

vùng đồng bằng gấp nhiều lần. Những điều kiện địa hình, địa chất tại khu vực

đầu tư dự án tất nhiên có tác động đến điều kiện thi cơng cơng trình, độ ổn định

và bền vững của cơng trình.

2.3.2. Vùng lòng hồ chứa nước của dự án thuỷ điện thường rất lớn, làm ngập



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sơ đồ 1.1: Quy trình thẩm định dự án tại các NHTM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×