Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.3: Phân loại DNNVV theo khu vực kinh tế ở Việt Nam.

Bảng 1.3: Phân loại DNNVV theo khu vực kinh tế ở Việt Nam.

Tải bản đầy đủ - 0trang

9



1.1.2 Đặc điểm của DNNVV ở Việt Nam

Hoạt động của các DNNVV ln gắn liền với thể chế chính sách và trình độ

phát triển của các quốc gia đó. Nhìn chung, các DNNVV ở Việt Nam cũng mang

những đặc điểm tương đồng với DNNVV ở các nước đang phát triển. Bao gồm

những lợi thế và bất lợi như sau:

a. Những lợi thế:

Thứ nhất: Với quy mô không lớn, bộ máy gọn nhẹ, các DNNVV đáp ứng

được những nhu cầu nhỏ lẻ, kết hợp với ưu điểm trong việc có khả năng chuyển đổi

mặt hàng nhanh chóng phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng; tận dụng được các

nguồn nguyên, nhiên vật liệu, nhân lực tại chỗ do có mối quan hệ trực tiếp với thị

trường và người tiêu dùng. Khi Việt Nam gia nhập WTO thì đây chính là khả năng

mà các doanh nghiệp nước ngồi khơng thể có được.

Thứ hai: DNNVV có thể được tạo lập dễ dàng chỉ cần một lượng vốn đầu tư

ban đầu ít, khả năng thu hồi vốn lại nhanh. Do cần ít vốn, chi phí quản lý, đào tạo

khơng lớn nên các DNNVV thường có xu hướng hướng vào những lĩnh vực phục

vụ trực tiếp đời sống, những sản phẩm có sức mua cao, giá cả hợp lý nên có khả

năng huy động được các nguồn lực xã hội, các nguồn vốn còn tiểm ẩn trong dân,

nhờ đó có thể tạo ra được nhiều loại sản phẩm với mức giá cạnh tranh.

Thứ ba: DNNVV là những doanh nghiệp năng động, có khả năng thay đổi

nhanh, thích nghi tốt mà chi phí thành lập lại thấp. Điển hình các DNNVV có thể sử

dụng các máy móc, thiết bị sản xuất trong nước; dễ dàng thay đổi công nghệ, đổi

mới trang thiết bị kỹ thuật mà khơng cần q nhiều chi phí: có thể kết hợp cả những

công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, sản xuất những sản phẩm có chất

lượng cao trong điều kiện sản xuất khơng thuận lợi. Đây cũng chính là ưu điểm lớn

nhất và quan trọng nhất của các DNNVV, nó giúp cho các DNNVV tạo ra thế mạnh

cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn có tiềm lực, đặc biệt trong giai đoạn nước ta

đang trong tiến trình hội nhập, mơi trường kinh doanh có nhiều thay đổi.



10



Thứ tư: So với các doanh nghiệp lớn thì DNNVV phải chấp nhận sự cạnh

tranh cao hơn, do đó họ có sự tự chủ cao hơn so với các doanh nghiệp lớn, khơng có

tính ỷ lại vào Nhà nước, sẵn sàng và chấp nhận rủi ro để tồn tại và phát triển. Điều

đó làm cho nền kinh tế trở nên năng động và hiệu quả hơn rất nhiều.

b. Những bất lợi:

*Thứ nhất: DNNVV là các doanh nghiệp có khả năng hạn chế về tài chính.

Với việc có thể dễ dàng thành lập với một số lượng vốn ít nên nguồn

vốn chủ yếu của các DNNVV là các nguồn vốn phi chính thức như vay từ gia

đình, bạn bè…

Với ưu thế tạo lập dễ dàng do chỉ cần một lượng vốn ít nên các DNNVV gặp

phải hạn chế là năng lực tài chính thấp. Bên cạnh đó DNNVV hiện nay chưa thực

sự chú trọng đến tính minh bạch và hiệu quả của hoạt động tài chính trong doanh

nghiệp. Hầu như trong các DNNVV hiện nay của Việt Nam thường thiếu vị trí giám

đốc tài chính và mọi hoạt động tài chính của doanh nghiệp do kế tốn trưởng đảm

nhiệm. Hệ quả là khơng những năng lực tài chính đã yếu mà việc đánh giá, cải thiện

tình hình tài chính cũng gặp khá nhiều khó khăn. Từ đó dẫn đến một loạt bất lợi cho

DNNVV trong sản xuất kinh doanh.

Trước hết, phải kể đến là khả năng tiếp cận vốn từ ngân hàng còn khá hạn

chế. Điều này được giải thích là do nhiều ngun nhân nhưng nhìn chung do năng

lực tài chính của các DNNVV chưa cao, TSĐB không đáp ứng được yêu cầu của

ngân hàng. Tiếp đến cũng vì năng lực tài chính còn yếu, chưa đảm bảo tính minh

bạch nên gây nhiều trở ngại cho các DNNVV khi tham gia thị trường tài chính, khó

khăn trong việc phát hành vốn qua kênh thị trường chứng khốn. Chính vì vậy, các

DNNVV thường lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị

trường, hay tiến hành đổi mới nâng cấp trang thiết bị, từ đó ảnh hưởng đến năng

suất lao động, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường. Vốn là khó

khăn lớn nhất và cũng là điểm yếu nhất của DNNVV.



11



*Thứ hai: Công nghệ, thiết bị sản xuất của DNNVV đang còn lạc hậu.

Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế đang diễn ra gay gắt trong lĩnh vực khoa

học cơng nghệ thì trình độ khoa học kỹ thuật của phần lớn các DNNVV đều sử

dụng công nghệ lạc hậu và chắp vá. Do vậy sản phẩm làm ra mặc dù đa dạng nhưng

thường có giá trị công nghiệp thấp và sao chép theo các mặt hàng ngoại trên thị

trường. Điều này dẫn đến hàm lượng chất xám ít, giá trị thương mại và sức cạnh

tranh kém so với sản phẩm cùng loại của các quốc gia trong khu vực cũng như trên

thế giới. Hạn chế này thường bắt nguồn từ việc thiếu vốn để đầu tư mua sắm máy

móc trang thiết bị hiện đại, nâng cao tay nghề và tiếp cận với thị trường công nghệ

hiện đại của thế giới.

*Thứ ba: DNNVV ít có khả năng thu hút được những nhà quản lý và lao động

giỏi.

Với quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ bé, sản phẩm làm ra ít, tiêu thụ hạn chế,

vốn ít nên các doanh nghiệp này thường không thể trả lương cao và điều kiện làm

việc tốt cho người lao động. Các DNNVV muốn nâng cao hiệu quả sản xuất kinh

doanh, khẳng định vị trí của mình trên thị trường thì đòi hỏi phải có những nhà quản

lý giỏi, người lao động có chun mơn và tay nghề cao. Mặc dù hiện nay các

DNNVV được thành lập rất nhiều nhưng các chủ doanh nghiệp hầu như đang còn

rất trẻ, đang còn thiếu nhiều kinh nghiệm, phần lớn tư duy marketing và các kỹ

năng kinh doanh của họ còn chưa cao, khả năng khai thác thị trường cho sản phẩm

hàng hóa của mình đang còn hạn chế. Đây chính là một khó khăn lớn cho các

DNNVV trong quá trình hội nhập.

*Thứ tư: Thị trường và sức cạnh tranh của DNNVV rất nhỏ hẹp, chiến lược

sản xuất kinh doanh mang tính thời vụ.

Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các DNNVV gặp khơng ít các khó khăn

xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chủ yếu là do quyền sở hữu

công nghiệp chưa được thực hiện nghiêm túc, sản phẩm của các doanh nghiệp luôn

bị tấn công do việc xuất hiện các mặt hàng giả, hàng nhái, hàng nhập lậu... Cùng

với sự độc quyền của một số doanh nghiệp lớn khiến cho sức cạnh tranh của các



12



DNNVV trên thị trường nội địa càng nhỏ, chỉ chiếm một thị phần rất nhỏ trên thị

trường nên các doanh nghiệp thường đứng ở thế bị động. Thêm vào đó các DNNVV

chỉ đưa ra những kế hoạch sản xuất kinh doanh mang tính thời vụ nhằm đáp ứng

nhu cầu tạm thời của thị trường trong một thời điểm; mà khó có khả năng đưa ra

chiến lược sản xuất kinh doanh lâu dài cho riêng mình. Các DNNVV chưa quan tâm

nhiều đến việc sản xuất những gì thị trường cần mà chủ yếu là sản xuất kinh doanh

và bán những gì mình có. Đây cũng được xem là một hạn chế lớn của các DNNVV

ở Việt Nam hiện nay.



1.2. Khái quát về Ngân hàng Thương mại (NHTM)

1.2.1. Khái niệm về Ngân hàng Thương mại

Theo Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12/12/1997 và được sửa đổi, bổ sung ngày

15/06/2004 đã xác định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện

tồn bộ hoạt động của ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.

Trong đó hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân

hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín

dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.”

Như vậy NHTM là một doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp

luật để thực hiện chức năng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và

dịch vụ ngân hàng. Và đây được coi là một định chế tài chính trung gian quan trọng

vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ có hệ thống định chế tài chính

này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, được tạo lập nguồn vốn tín

dụng to lớn để có thể cho vay nhằm phát triển kinh tế - xã hội.

1.2.2.1Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại

NHTM là một tổ chức kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, các hoạt động tại

ngân hàng mang tính đặc thù cụ thể, đa dạng và thực hiện trên nhiều lĩnh vực. Những

hoạt động đó phục vụ nhu cầu về vốn cho mọi tầng lớp dân cư, loại hình doanh

nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội. Hoạt động của NHTM bao gồm chủ yếu các

hoạt động sau:



13



a. Hoạt động huy động vốn

Hoạt động huy động vốn hay còn gọi là nghiệp vụ tạo vốn trong ngân hàng,

làm tăng giá trị nguồn vốn trong bảng cân đối kế tốn của ngân hàng, cơ bản bao

gồm các hình thức sau:

- Nhận tiền gửi: NHTM nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ

chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi khơng kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và

các loại tiền gửi khác.

- Phát hành giấy tờ có giá: NHTM phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và

các giấy tờ có giá để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài

khi được Thống đốc Ngân hàng nhà nước chấp thuận.

- Vay của các tổ chức tín dụng khác: Hoạt động này cho phép các NHTM

được phép vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ

chức tín dụng nước ngồi. Các NHTM có thể vay và cho vay lẫn nhau thơng qua thị

trường liên ngân hàng. Đây là trường hợp NHTM có lượng tiền gửi tại Ngân hàng

nhà nước (NHNN) thấp và không đáp ứng đủ nhu cầu chi trả. Khi đó dưới sự tổ

chức của NHNN, ngân hàng này sẽ được vay của ngân hàng khác có lượng tiền gửi

dư thừa tại NHNN. Ngồi ra các ngân hàng có thể vay trực tiếp lẫn nhau mà không

thông qua thị trường liên ngân hàng. Phương thức này rất linh hoạt, giúp cho các

NHTM cân đối vốn một cách kịp thời.

- Vay vốn ngắn hạn của NHNN: đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu

cấp bách trong chi trả của NHTM. Các NHTM trong trường hợp thiếu khả năng chi

trả hoặc thiếu hụt dự trữ tạm thời có thể vay NHNN. Một số hình thức cho vay của

NHNN đối với NHTM:

+ Tái cấp vốn

+ Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu các giấy tờ có giá ngắn hạn khác...

+ Cho vay có đảm bảo bằng thế chấp hoặc có cầm cố thương phiếu và các

giấy tờ có giá ngắn hạn khác.

- Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN.



14



b. Hoạt động tín dụng

Hoạt động tín dụng là việc các tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn

vốn huy động được để cấp tín dụng cho các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức kinh tế. Như

vậy, có thể hiểu tín dụng là quan hệ vay mượn bao gồm cả việc đi vay và cho vay. Bao

gồm các hình thức sau:

- Cho vay: Là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách

hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian xác định. Đây được coi

là hoạt động quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn nhất, đem lại một tỷ lệ sinh lời cao nhất

nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất trong hoạt động kinh doanh của

ngân hàng.

- Bảo lãnh: NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực

hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy

tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Mức bảo lãnh

đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một NHTM không được vượt

quá tỷ lệ so với vốn tự có của NHTM

- Chiết khấu: NHTM được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá

ngắn hạn khác đối với các tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương

phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác.

- Cho thuê tài chính: NHTM được hoạt động cho th tài chính nhưng phải

thành lập cơng ty cho th tài chính riêng. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của

cơng ty cho th tài chính phải được thực hiện theo Nghị định của Chính phủ về tổ

chức và hoạt động của cơng ty cho th tài chính.

c. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ

Để thực thiện được các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua

ngân hàng, NHTM được mở tài khoản cho khách hàng trong và ngồi nước. Để

thực hiện việc thanh tốn giữa các ngân hàng với nhau thông qua NHNN, NHTM

phải mở tài khoản tiền gửi tại NHNN nơi NHTM đặt trụ sở chính và duy trì tại đó

số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định. Ngoài ra, chi nhánh của NHTM được

mở tài khoản tại chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của chi nhánh.



15



d. Các hoạt động khác

Ngồi các hoạt động chính bao gồm huy động tiền gửi, cấp tín dụng và cung

cấp dịch vụ thanh tốn và ngân quỹ, NHTM còn có thể thực hiện một số hoạt động

khác như sau:

- Góp vốn và mua cổ phần: NHTM được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để

góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác trong

nước theo quy định của pháp luật. Ngoài ra NHTM còn có thể góp vốn, mua cổ

phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài để thành lập ngân hàng liên doanh.

- Tham gia thị trường tiền tệ: NHTM được tham gia trên thị trường tiền

tệ theo quy định của NHNN thơng qua các hình thức mua bán các công cụ của

thị trường tiền tệ.

- Kinh doanh ngoại hối: NHTM được phép kinh doanh hoặc thành lập công

ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và quốc tế.

- Ủy thác và nhận ủy thác: NHTM được ủy thác, nhận ủy thác làm đại lý

trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản,

vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác, đại lý.

- Cung ứng dịch vụ bảo hiểm: NHTM được cung ứng dịch vụ bảo hiểm,

được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy

định của pháp luật.

- Tư vấn tài chính: NHTM được cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính, tiền

tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập cơng ty tư vấn trực

thuộc ngân hàng.

- Bảo quản vật quý giá: NHTM được thực hiện các dịch vụ bảo vệ vật, giấy

tờ quý giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác có liên quan theo quy định

của pháp luật.



1.2.2 Khái quát về hoạt động cho vay đối với DNNVV của NHTM

1.2.2.1 Khái niệm về hoạt động cho vay của NHTM

Cho vay là một trong những hình thức của nghiệp vụ tín dụng, là hoạt động

mang lại lợi nhuận lớn nhất cho các ngân hàng. Theo Quyết định số 1627/2001/QĐNHNN của Thống đốc NHNN về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín



16



dụng đối với khách hàng thì: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ

chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục

đích và một thời hạn nhất định theo thỏa thuận với ngun tắc có hồn trả cả gốc

và lãi”.

Theo định nghĩa trên, cho vay là một trong những hoạt động tín dụng của

NH nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng trên cơ sở thỏa thuận giữa hai bên

về thời gian vay và thời gian trả cả gốc lẫn lãi. Xét trên khía cạnh của NHTM thì

cho vay là một trong nhũng hoạt động quan trọng bậc nhất, nó làm tăng doanh thu

của NHTM. Còn xét trên khía cạnh khách hàng vay vốn nói chung và DNNVV nói

riêng, việc huy động vốn từ phía NH dường như là điều bắt buộc nếu muốn duy trì

và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Hoạt động cho vay của các

NHTM là một kênh huy động vốn quan trọng trong nền kinh tế, thông qua hoạt

động này nguồn lực nhàn rỗi trong dân cư sẽ được huy động và sử dụng một cách

có hiệu quả nhất để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.

Đây được coi là cơ sở trong việc phân loại các phương thức cho vay cũng

như xác định đối tượng khách hàng vay vốn tại NHTM.



1.2.2.2 Các phương thức cho vay đối với DNNVV của NHTM

Hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng, chiếm tỷ

trọng cao nhất tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất. Hoạt động cho vay của ngân

hàng được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau và việc xác định phương thức

cho vay có một ý nghĩa rất quan trọng. Nếu ngân hàng xác định đúng phương thức

cho từng doanh nghiệp từ đó sẽ tạo ra yếu tố tích cực giúp doanh nghiệp thuận lợi

trong q trình giao dịch, chủ động về tài chính trong q trình sản xuất kinh doanh

và khuyến khích doanh nghiệp có quan hệ vay vốn với ngân hàng. Nêu xác định sai

phương thức cho vay với doanh nghiệp sẽ dẫn đến việc Ngân hàng khơng kiểm sốt

được chặt chẽ được số vốn cho vay làm tăng rủi ro tín dụng, khơng khuyến khích

được doanh nghiệp vay vốn.



17



Một số phương thức cho vay chủ yếu của NHTM đó là:

a. Cho vay thấu chi

Cho vay thấu chi là nghệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép doanh

nghiệp được chi trội trên số dư tiền gửi thanh tốn của mình đến một giới hạn nhất

định và trong một khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức

thấu chi.

Thấu chi là hình thức cho vay ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn

là khơng có đảm bảo, có thể cấp cho doanh nghiệp vài ngày trong tháng, vài tháng

trong năm, dùng để trả lương, chi các khoản phải nộp, mua hàng… Do đó hình thức

này nhìn chung chỉ được sử dụng đối với doanh nghiệp có độ tin cậy cao, thu nhập

đều đặn và kỳ thu nhập ngắn.

b. Cho vay trực tiếp từng lần

Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân

hàng đối với các doanh nghiệp khơng có nhu cầu vay thường xun, khơng có điều

kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Một số doanh nghiệp chỉ sử dụng vốn chủ sở

hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ hay nhu cầu mở

rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng. Tức là vốn từ ngân hàng chỉ tham gia

vào một giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh.

c. Cho vay theo hạn mức tín dụng

Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho doanh

nghiệp hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể cấp cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó

là số dư tối đa tại thời điểm tính.

Mỗi lần vay, doanh nghiệp chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay,

nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay. Sau

khi kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ giải ngân

cho doanh nghiệp.

Đây được coi là hình thức cho vay thuận tiện cho những doanh nghiệp vay

mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh



18



doanh. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng sẽ không ấn định trước ngày trả nợ. Khi

doanh nghiệp có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó sẽ tạo chủ động quản lý ngân

quỹ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên do các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn

nợ cụ thể nên ngân hàng sẽ khó kiểm sốt hiệu quả sử dụng từng lần vay. Ngân

hàng chỉ có thể phát hiện vấn đề khi doanh nghiệp nộp báo cáo tài chính hoặc dư nợ

lâu không giảm sút.

d. Cho vay luân chuyển

Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa.

Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn thì Ngân hàng có thể cho vay để mua

hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Đầu năm hoặc đầu quý, doanh nghiệp

muốn vay vốn phải làm đơn xin vay luân chuyển. Ngân hàng và doanh nghiệp sẽ thỏa

thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hóa

và khả năng tiêu thụ. Hạn mức tín dụng có thể được thỏa thuận trong một năm hoặc

vài năm. Đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn ngân hàng xem xét lại

mối quan hệ giữa Ngân hàng với doanh nghiệp cũng như tình hình tài chính của

doanh nghiệp.

Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho doanh nghiệp. Thủ tục cho vay chỉ

cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay. Doanh nghiệp được đáp ứng nhu cầu vốn

kịp thời, vì vậy việc thanh tốn cho người cung ứng sẽ nhanh gọn. Nếu doanh

nghiệp gặp khó khăn trong q trình tiêu thụ thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong

việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay không được quy định rõ rang.

e. Cho vay trả góp

Cho vay trả góp là hình thức cho vay, theo đó Ngân hàng cho phép doanh

nghiệp trả góp làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã theo thỏa thuận. Cho vay trả

góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản

cố định và tài sản lâu bền. Số tiền mỗi lần trả được tính tốn sao cho phù hợp với

khả năng trả nợ (thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuế của dự án).

Cho vay trả góp có độ rủi ro cao do doanh nghiệp thường thế chấp bằng hàng

hóa mua trả góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập của doanh nghiệp. Nếu



19



thu nhập của doanh nghiệp giảm sút thì khả năng thu nợ của ngân hàng cũng bị ảnh

hưởng. Chính vì độ rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp thường là lãi suất cao

nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng.



1.3. Mở rộng hoạt động cho vay đối với DNNVV của NHTM

1.3.1 Quan niệm về mở rộng cho vay đối với DNNVV của NHTM

Mở rộng được hiểu một cách khái quát là làm cho quy mô và phạm vi của

một lĩnh vực hoạt động nào đó rộng lớn hơn trước. Tuy nhiên, tùy theo từng đối

tượng khác nhau và trong các lĩnh vực khác nhau thì khái niệm mở rộng sẽ được

hiểu khác nhau.

Xét trong lĩnh vực ngân hàng: Mở rộng cho vay đối với DNNVV được hiểu

là NHTM cần có những biện pháp để cải thiện và đổi mới cách thức cho vay nhằm

tạo điều kiện cho nhiều DNNVV có thể tiếp cận với nguồn vốn từ ngân hàng, tăng

doanh số cho vay cũng như thu nhập cho ngân hàng, đồng thời cũng nâng cao hiệu

quả của nguồn vốn ngân hàng. Đây là hoạt động làm tăng tỷ trọng các khoản cho

vay DNNVV trong tổng tài sản của NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao

của doanh nghiệp về quy mô khoản vay.

Mở rộng cho vay đối với DNNVV là sự gia tăng về khối lượng cho vay đối

với các DNNVV, được thể hiện ở hai khía cạnh mở rộng về số lượng và chất lượng:

- Mở rộng về số lượng là ngân hàng thực hiện các biện pháp nhằm tăng số

lượng các DNNVV có quan hệ tín dụng với ngân hàng, số dư nợ, tỷ trọng dư nợ, tốc

độ tăng trưởng dư nợ…

- Mở rộng về chất lượng nghĩa là ngân hàng làm tăng chất lượng của các

món vay như: giảm tỷ lệ nợ xấu khơng có khả năng thu hồi, tăng thu nhập từ việc

mở rộng cho vay đối với DNNVV, nâng cao công tác thẩm định dự án và quản trị

rủi ro tín dụng… Mở rộng về mặt chất lượng không phản ánh trực tiếp sự mở rộng

cho vay đối với các DNNVV nhưng nó lại có ý nghĩa rất quan trọng để đánh giá sự

an toàn và hiệu quả của việc mở rộng cho vay.

Tuy nhiên, do điểm nghiên cứu của luận văn này tại chi nhánh nên nếu chi

nhánh tuân thủ các yêu cầu, qui trình, qui định của Vietinbank và tăng số lượng dư



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.3: Phân loại DNNVV theo khu vực kinh tế ở Việt Nam.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×