Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



nhiên nó lại phụ thuộc vào đặc điểm của từng ngành nghề kinh doanh cụ thể (Ví dụ

do đặc điểm riêng có của mình, ngành dệt may ở các nước đang phát triển sử dụng

rất nhiều lao động) cũng như phụ thuộc vào trình độ phát triển của từng nước, từng

khu vực. Chính vì vậy, nhiều học giả, nhiều nhà hoạch định chính sách đã chủ yếu

dựa vào các yếu tố mang tính định lượng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Các học giả cũng như các nhà hoạch định chính sách trên thế giới thường

chia doanh nghiệp nhỏ và vừa thành 3 loại: doanh nghiệp cực nhỏ (micro – sized),

doanh nghiệp nhỏ (small – sized) và doanh nghiệp vừa (medium – sized). Bởi vậy

khi định nghĩa DNNVV, các học giả, các nhà hoạch định chính sách cũng gắn chặt

định nghĩa của mình với 3 loại hình này. Tuy nhiên tiêu chí phân loại DNNVV ở

các quốc gia, tổ chức trên thế giới có sự khác nhau. Cụ thể như sau:

a. Tiêu chí phân loại DNNVV của một số quốc gia và tổ chức trên thế giới.

Hầu hết các quốc gia đều lấy tiêu chí số lao động bình quân làm cơ sở quan

trọng để phân loại doanh nghiệp theo quy mô. Điều này là hợp lý hơn so với việc

lựa chọn các tiêu chí khác như doanh thu, vốn... là các chỉ tiêu có thể lượng hóa

được bằng giá trị tiền tệ. Các tiêu chí như doanh thu, vốn tuy rất quan trọng nhưng

thường xuyên chịu sự tác động bởi những biến đổi của thị trường, sự phát triển của

nền kinh tế, tình trạng lạm phát... nên thiếu sự ổn định trong việc phân loại doanh

nghiệp. Điều này giải thích tại sao tiêu chí số lao động bình qn được nhiều quốc

gia lựa chọn, bởi vì tiêu chí này thường có tính ổn định lâu dài về mặt thời gian, lại

thể hiện được phần nào tính chất, đặc thù của ngành, lĩnh vực kinh doanh mà doanh

nghiệp đang tham gia. Số liệu cụ thể được cho ở bảng sau:



Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNNVV của một số quốc gia và khu vực



6



Quốc gia/Khu vực



Phân loại DNNVV



Số lao động

bình qn



Vốn đầu tư



Doanh thu



Khơng quy định

Khơng quy định



A.NHĨM CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN

1. Hoa kỳ

2. Nhật Bản



Nhỏ và vừa

-Đối với ngành sản xuất



0-500

1-300



Khơng quy định

¥ 0-300 triệu



-Đối với ngành thương mại



1-100



¥ 0-100 triệu



-Đối với ngành dịch vụ



1-100



¥ 0-50 triệu



Siêu nhỏ



< 10



Không quy định



Nhỏ



< 50



< €7 triệu



4. Australia



Vừa

Nhỏ và vừa



< 250

< 200



Không quy định



< €27 triệu

Không quy định



5. Canada



Nhỏ



< 100



Không quy định



< CDN$ 5 triệu



Vừa



< 500



6. New Zealand



Nhỏ và vừa



< 50



Không quy định



Không quy định



7. Korea



Nhỏ và vừa



< 300



Không quy định



Không quy định



8. Taiwan

Nhỏ và vừa

B. NHÓM CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN



< 200



< NT$ 80 triệu



< NT$ 100 triệu



1. Thailand



Nhỏ và vừa



Không

định



< Baht 200 triệu



Không quy định



2. Malaysia

3. Philippine



- Đối với ngành sản xuất

Nhỏ và vừa



0-150

< 200



Không quy định

Peso1,5-60 triệu



RM 0-25 triệu

Không quy định



4. Indonesia



Nhỏ và vừa



Không

định



< US$ 1 triệu



< US$ 5 triệu



5.Brunei

Nhỏ và vừa

1-100

C. NHÓM CÁC NƯỚC KINH TẾ ĐANG CHUYỂN ĐỔI



Không quy định



Không quy định



1. Russia



Không quy định



Không quy định



Không quy định



Không quy định



Không quy định



Không quy định



Không quy định



Không quy định



3. EU



2. China

3. Poland

4. Hungary



Không quy định



CDN$5-20 triệu



Nhỏ



1-249



Vừa



250-999



Nhỏ



50-100



Vừa



101-500



Nhỏ



< 50



Vừa



51-200



Siêu nhỏ



1-10



Nhỏ



11-50



Vừa



51-250



quy



quy



Nguồn: 1) Doanh nghiệp vừa và nhỏ, APEC, 1998; 2) Định nghĩa doanh nghiệp vừa và

nhỏ, UN/ECE, 1999; 3) Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ, OECD, 2000.



Bảng 1.2: Tiêu chí phân loại DNNVV của một số tổ chức trên thế giới



THEO LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)

Doanh nghiệp

Số lượng lao động



Doanh số



Hoặc



Tài sản



7



Cực nhỏ

Nhỏ

Vừa



Dưới 10

Dưới 50

Dưới 250



Không quá 2 tỷ €

Không quá 10 tỷ €

Không quá 50 tỷ €



Không quá 2 tỷ €

Không quá 10 tỷ €

Không quá 43 tỷ €



THEO NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (WB) VÀ CÔNG TY TÀI CHÍNH Q́C TẾ (IFC)

Doanh nghiệp

Cực nhỏ

Nhỏ

Vừa



Số lượng lao động

(người)

Không quá 10 người

Không quá 50 người

Không quá 300 người



Tổng giá trị tài sản



Doanh thu



hoặc nguồn vốn

100.000 USD

3.000.000 USD

15.000.000 USD



100.000 USD

3.000.000 USD

15.000.000 USD



(Nguồn: Recommendation 2003/361/EC)



b. Tiêu chí phân loại DNNVV ở Việt Nam.

Tại Việt Nam, sự ra đời của công văn số 681/1998/CP-KTN, ngày

20/06/1998 của Chính phủ về việc định hướng chiến lược và chính sách hỗ trợ phát

triển DNNVV đã đánh dấu bước khởi đầu trong quá trình thống nhất quan niệm và

đẩy mạnh hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam. Theo quy định tại cơng văn này, tiêu chí xác

định DNNVV là vốn điều lệ và lao động của doanh nghiệp. Cụ thể: DNNVV là

doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số lao động trung bình hằng năm

dưới 200 người.

Tiếp theo đó để khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các

DNNVV, theo điều 3 của Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 thang 11 năm 2001

về trợ giúp phát triển DNNVV thì DNNVV được định nghĩa như sau: DNNVV là cơ

sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có

vốn đăng ký khơng quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hằng năm không quá

300 người. Theo định nghĩa này, các DNNVV ở Việt Nam bao gồm các doanh nghiệp

Nhà nước có quy mơ nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp Nhà

nước, các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân có

quy mơ nhỏ và vừa được đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, luật Hợp tác

xã, doanh nghiệp theo hình thức hộ kinh doanh cá thể được điều chỉnh bởi quy định

của Chính phủ.

Hiện nay, theo điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30



8



tháng 6 năm 2009 về trợ giúp phát triển DNNVV thì DNNVV được định nghĩa như

sau: DNNVV là cở sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp

luật, được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng

nguồn vốn tương đương với tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế tốn

của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình qn năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu

tiên). Ngồi các tiêu chí trên, Nghị định còn căn cứ vào ngành hoạt động để phân

loại, cụ thể được thể hiện ở bảng 1.3 như sau:

Bảng 1.3: Phân loại DNNVV theo khu vực kinh tế ở Việt Nam.

Doanh nghiệp

Ngành



1.Nông, lâm nghiệp

và thủy sản

2. Công nghiệp và

xây dựng

3. Thương mại và

dịch vụ



siêu nhỏ



Doanh nghiệp nhỏ



Doanh nghiệp vừa



Số lao động



Tổng nguồn



Số lao động



Tổng nguồn vốn



Số lao động



(người)



vốn (tỷ đồng)



(người)



(tỷ đồng)



(người)



Dưới 10



Dưới 20



Trên 10 - 200



Trên 20 - 100



Trên 200-300



Dưới 10



Dưới 20



Trên 10 - 200



Trên 20 - 100



Trên 200-300



Dưới 10



Dưới 10



Trên 10 - 50



Trên 10 – 50



Trên 50 - 100



(Nguồn: Nghị đinh số 56/2009/NĐ-CP)



Mục đích của việc phân loại các DNNVV như vậy, vừa là để khai thác các

chủ trương, chính sách trợ giúp phát triển DNNVV; mặt khác để tăng cường quản lý

nhà nước về trợ giúp phát triển DNNVV ở nước ta. Việc phân loại của Chính phủ

thể hiện sự đặc biệt coi trọng vai trò, vị trí quan trọng của DNNVV trong nền kinh

tế quốc dân.



9



1.1.2 Đặc điểm của DNNVV ở Việt Nam

Hoạt động của các DNNVV luôn gắn liền với thể chế chính sách và trình độ

phát triển của các quốc gia đó. Nhìn chung, các DNNVV ở Việt Nam cũng mang

những đặc điểm tương đồng với DNNVV ở các nước đang phát triển. Bao gồm

những lợi thế và bất lợi như sau:

a. Những lợi thế:

Thứ nhất: Với quy mô không lớn, bộ máy gọn nhẹ, các DNNVV đáp ứng

được những nhu cầu nhỏ lẻ, kết hợp với ưu điểm trong việc có khả năng chuyển đổi

mặt hàng nhanh chóng phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng; tận dụng được các

nguồn nguyên, nhiên vật liệu, nhân lực tại chỗ do có mối quan hệ trực tiếp với thị

trường và người tiêu dùng. Khi Việt Nam gia nhập WTO thì đây chính là khả năng

mà các doanh nghiệp nước ngồi khơng thể có được.

Thứ hai: DNNVV có thể được tạo lập dễ dàng chỉ cần một lượng vốn đầu tư

ban đầu ít, khả năng thu hồi vốn lại nhanh. Do cần ít vốn, chi phí quản lý, đào tạo

không lớn nên các DNNVV thường có xu hướng hướng vào những lĩnh vực phục

vụ trực tiếp đời sống, những sản phẩm có sức mua cao, giá cả hợp lý nên có khả

năng huy động được các nguồn lực xã hội, các nguồn vốn còn tiểm ẩn trong dân,

nhờ đó có thể tạo ra được nhiều loại sản phẩm với mức giá cạnh tranh.

Thứ ba: DNNVV là những doanh nghiệp năng động, có khả năng thay đổi

nhanh, thích nghi tốt mà chi phí thành lập lại thấp. Điển hình các DNNVV có thể sử

dụng các máy móc, thiết bị sản xuất trong nước; dễ dàng thay đổi công nghệ, đổi

mới trang thiết bị kỹ thuật mà khơng cần q nhiều chi phí: có thể kết hợp cả những

công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, sản xuất những sản phẩm có chất

lượng cao trong điều kiện sản xuất không thuận lợi. Đây cũng chính là ưu điểm lớn

nhất và quan trọng nhất của các DNNVV, nó giúp cho các DNNVV tạo ra thế mạnh

cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn có tiềm lực, đặc biệt trong giai đoạn nước ta

đang trong tiến trình hội nhập, mơi trường kinh doanh có nhiều thay đổi.



10



Thứ tư: So với các doanh nghiệp lớn thì DNNVV phải chấp nhận sự cạnh

tranh cao hơn, do đó họ có sự tự chủ cao hơn so với các doanh nghiệp lớn, khơng có

tính ỷ lại vào Nhà nước, sẵn sàng và chấp nhận rủi ro để tồn tại và phát triển. Điều

đó làm cho nền kinh tế trở nên năng động và hiệu quả hơn rất nhiều.

b. Những bất lợi:

*Thứ nhất: DNNVV là các doanh nghiệp có khả năng hạn chế về tài chính.

Với việc có thể dễ dàng thành lập với một số lượng vốn ít nên nguồn

vốn chủ yếu của các DNNVV là các nguồn vốn phi chính thức như vay từ gia

đình, bạn bè…

Với ưu thế tạo lập dễ dàng do chỉ cần một lượng vốn ít nên các DNNVV gặp

phải hạn chế là năng lực tài chính thấp. Bên cạnh đó DNNVV hiện nay chưa thực

sự chú trọng đến tính minh bạch và hiệu quả của hoạt động tài chính trong doanh

nghiệp. Hầu như trong các DNNVV hiện nay của Việt Nam thường thiếu vị trí giám

đốc tài chính và mọi hoạt động tài chính của doanh nghiệp do kế toán trưởng đảm

nhiệm. Hệ quả là khơng những năng lực tài chính đã yếu mà việc đánh giá, cải thiện

tình hình tài chính cũng gặp khá nhiều khó khăn. Từ đó dẫn đến một loạt bất lợi cho

DNNVV trong sản xuất kinh doanh.

Trước hết, phải kể đến là khả năng tiếp cận vốn từ ngân hàng còn khá hạn

chế. Điều này được giải thích là do nhiều nguyên nhân nhưng nhìn chung do năng

lực tài chính của các DNNVV chưa cao, TSĐB khơng đáp ứng được yêu cầu của

ngân hàng. Tiếp đến cũng vì năng lực tài chính còn yếu, chưa đảm bảo tính minh

bạch nên gây nhiều trở ngại cho các DNNVV khi tham gia thị trường tài chính, khó

khăn trong việc phát hành vốn qua kênh thị trường chứng khốn. Chính vì vậy, các

DNNVV thường lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị

trường, hay tiến hành đổi mới nâng cấp trang thiết bị, từ đó ảnh hưởng đến năng

suất lao động, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường. Vốn là khó

khăn lớn nhất và cũng là điểm yếu nhất của DNNVV.



11



*Thứ hai: Công nghệ, thiết bị sản xuất của DNNVV đang còn lạc hậu.

Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế đang diễn ra gay gắt trong lĩnh vực khoa

học cơng nghệ thì trình độ khoa học kỹ thuật của phần lớn các DNNVV đều sử

dụng công nghệ lạc hậu và chắp vá. Do vậy sản phẩm làm ra mặc dù đa dạng nhưng

thường có giá trị cơng nghiệp thấp và sao chép theo các mặt hàng ngoại trên thị

trường. Điều này dẫn đến hàm lượng chất xám ít, giá trị thương mại và sức cạnh

tranh kém so với sản phẩm cùng loại của các quốc gia trong khu vực cũng như trên

thế giới. Hạn chế này thường bắt nguồn từ việc thiếu vốn để đầu tư mua sắm máy

móc trang thiết bị hiện đại, nâng cao tay nghề và tiếp cận với thị trường cơng nghệ

hiện đại của thế giới.

*Thứ ba: DNNVV ít có khả năng thu hút được những nhà quản lý và lao động

giỏi.

Với quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ bé, sản phẩm làm ra ít, tiêu thụ hạn chế,

vốn ít nên các doanh nghiệp này thường không thể trả lương cao và điều kiện làm

việc tốt cho người lao động. Các DNNVV muốn nâng cao hiệu quả sản xuất kinh

doanh, khẳng định vị trí của mình trên thị trường thì đòi hỏi phải có những nhà quản

lý giỏi, người lao động có chun mơn và tay nghề cao. Mặc dù hiện nay các

DNNVV được thành lập rất nhiều nhưng các chủ doanh nghiệp hầu như đang còn

rất trẻ, đang còn thiếu nhiều kinh nghiệm, phần lớn tư duy marketing và các kỹ

năng kinh doanh của họ còn chưa cao, khả năng khai thác thị trường cho sản phẩm

hàng hóa của mình đang còn hạn chế. Đây chính là một khó khăn lớn cho các

DNNVV trong q trình hội nhập.

*Thứ tư: Thị trường và sức cạnh tranh của DNNVV rất nhỏ hẹp, chiến lược

sản xuất kinh doanh mang tính thời vụ.

Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các DNNVV gặp khơng ít các khó khăn

xuất phát từ nhiều ngun nhân nhưng nguyên nhân chủ yếu là do quyền sở hữu

công nghiệp chưa được thực hiện nghiêm túc, sản phẩm của các doanh nghiệp luôn

bị tấn công do việc xuất hiện các mặt hàng giả, hàng nhái, hàng nhập lậu... Cùng

với sự độc quyền của một số doanh nghiệp lớn khiến cho sức cạnh tranh của các



12



DNNVV trên thị trường nội địa càng nhỏ, chỉ chiếm một thị phần rất nhỏ trên thị

trường nên các doanh nghiệp thường đứng ở thế bị động. Thêm vào đó các DNNVV

chỉ đưa ra những kế hoạch sản xuất kinh doanh mang tính thời vụ nhằm đáp ứng

nhu cầu tạm thời của thị trường trong một thời điểm; mà khó có khả năng đưa ra

chiến lược sản xuất kinh doanh lâu dài cho riêng mình. Các DNNVV chưa quan tâm

nhiều đến việc sản xuất những gì thị trường cần mà chủ yếu là sản xuất kinh doanh

và bán những gì mình có. Đây cũng được xem là một hạn chế lớn của các DNNVV

ở Việt Nam hiện nay.



1.2. Khái quát về Ngân hàng Thương mại (NHTM)

1.2.1. Khái niệm về Ngân hàng Thương mại

Theo Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12/12/1997 và được sửa đổi, bổ sung ngày

15/06/2004 đã xác định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện

toàn bộ hoạt động của ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.

Trong đó hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân

hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín

dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.”

Như vậy NHTM là một doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp

luật để thực hiện chức năng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và

dịch vụ ngân hàng. Và đây được coi là một định chế tài chính trung gian quan trọng

vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ có hệ thống định chế tài chính

này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, được tạo lập nguồn vốn tín

dụng to lớn để có thể cho vay nhằm phát triển kinh tế - xã hội.

1.2.2.1Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại

NHTM là một tổ chức kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, các hoạt động tại

ngân hàng mang tính đặc thù cụ thể, đa dạng và thực hiện trên nhiều lĩnh vực. Những

hoạt động đó phục vụ nhu cầu về vốn cho mọi tầng lớp dân cư, loại hình doanh

nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội. Hoạt động của NHTM bao gồm chủ yếu các

hoạt động sau:



13



a. Hoạt động huy động vốn

Hoạt động huy động vốn hay còn gọi là nghiệp vụ tạo vốn trong ngân hàng,

làm tăng giá trị nguồn vốn trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng, cơ bản bao

gồm các hình thức sau:

- Nhận tiền gửi: NHTM nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ

chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi khơng kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và

các loại tiền gửi khác.

- Phát hành giấy tờ có giá: NHTM phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và

các giấy tờ có giá để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài

khi được Thống đốc Ngân hàng nhà nước chấp thuận.

- Vay của các tổ chức tín dụng khác: Hoạt động này cho phép các NHTM

được phép vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ

chức tín dụng nước ngồi. Các NHTM có thể vay và cho vay lẫn nhau thông qua thị

trường liên ngân hàng. Đây là trường hợp NHTM có lượng tiền gửi tại Ngân hàng

nhà nước (NHNN) thấp và không đáp ứng đủ nhu cầu chi trả. Khi đó dưới sự tổ

chức của NHNN, ngân hàng này sẽ được vay của ngân hàng khác có lượng tiền gửi

dư thừa tại NHNN. Ngoài ra các ngân hàng có thể vay trực tiếp lẫn nhau mà khơng

thơng qua thị trường liên ngân hàng. Phương thức này rất linh hoạt, giúp cho các

NHTM cân đối vốn một cách kịp thời.

- Vay vốn ngắn hạn của NHNN: đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu

cấp bách trong chi trả của NHTM. Các NHTM trong trường hợp thiếu khả năng chi

trả hoặc thiếu hụt dự trữ tạm thời có thể vay NHNN. Một số hình thức cho vay của

NHNN đối với NHTM:

+ Tái cấp vốn

+ Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu các giấy tờ có giá ngắn hạn khác...

+ Cho vay có đảm bảo bằng thế chấp hoặc có cầm cố thương phiếu và các

giấy tờ có giá ngắn hạn khác.

- Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN.



14



b. Hoạt động tín dụng

Hoạt động tín dụng là việc các tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn

vốn huy động được để cấp tín dụng cho các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức kinh tế. Như

vậy, có thể hiểu tín dụng là quan hệ vay mượn bao gồm cả việc đi vay và cho vay. Bao

gồm các hình thức sau:

- Cho vay: Là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách

hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian xác định. Đây được coi

là hoạt động quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn nhất, đem lại một tỷ lệ sinh lời cao nhất

nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất trong hoạt động kinh doanh của

ngân hàng.

- Bảo lãnh: NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực

hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy

tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Mức bảo lãnh

đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một NHTM không được vượt

quá tỷ lệ so với vốn tự có của NHTM

- Chiết khấu: NHTM được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá

ngắn hạn khác đối với các tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương

phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác.

- Cho thuê tài chính: NHTM được hoạt động cho th tài chính nhưng phải

thành lập cơng ty cho thuê tài chính riêng. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của

cơng ty cho th tài chính phải được thực hiện theo Nghị định của Chính phủ về tổ

chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính.

c. Hoạt động dịch vụ thanh tốn và ngân quỹ

Để thực thiện được các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua

ngân hàng, NHTM được mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước. Để

thực hiện việc thanh tốn giữa các ngân hàng với nhau thơng qua NHNN, NHTM

phải mở tài khoản tiền gửi tại NHNN nơi NHTM đặt trụ sở chính và duy trì tại đó

số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định. Ngoài ra, chi nhánh của NHTM được

mở tài khoản tại chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của chi nhánh.



15



d. Các hoạt động khác

Ngoài các hoạt động chính bao gồm huy động tiền gửi, cấp tín dụng và cung

cấp dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, NHTM còn có thể thực hiện một số hoạt động

khác như sau:

- Góp vốn và mua cổ phần: NHTM được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để

góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác trong

nước theo quy định của pháp luật. Ngồi ra NHTM còn có thể góp vốn, mua cổ

phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài để thành lập ngân hàng liên doanh.

- Tham gia thị trường tiền tệ: NHTM được tham gia trên thị trường tiền

tệ theo quy định của NHNN thơng qua các hình thức mua bán các công cụ của

thị trường tiền tệ.

- Kinh doanh ngoại hối: NHTM được phép kinh doanh hoặc thành lập công

ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và quốc tế.

- Ủy thác và nhận ủy thác: NHTM được ủy thác, nhận ủy thác làm đại lý

trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản,

vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác, đại lý.

- Cung ứng dịch vụ bảo hiểm: NHTM được cung ứng dịch vụ bảo hiểm,

được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy

định của pháp luật.

- Tư vấn tài chính: NHTM được cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính, tiền

tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty tư vấn trực

thuộc ngân hàng.

- Bảo quản vật quý giá: NHTM được thực hiện các dịch vụ bảo vệ vật, giấy

tờ quý giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác có liên quan theo quy định

của pháp luật.



1.2.2 Khái quát về hoạt động cho vay đối với DNNVV của NHTM

1.2.2.1 Khái niệm về hoạt động cho vay của NHTM

Cho vay là một trong những hình thức của nghiệp vụ tín dụng, là hoạt động

mang lại lợi nhuận lớn nhất cho các ngân hàng. Theo Quyết định số 1627/2001/QĐNHNN của Thống đốc NHNN về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×