Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÍ LUẬN TÍCH LŨY TƯ BẢN

CƠ SỞ LÍ LUẬN TÍCH LŨY TƯ BẢN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thứ hai, q trình tích lũy đã làm cho quyền sở hữu trong nền kinh tế hàng hoá

biến thành quyền chiếm đoạt tư bản chủ nghĩa. Trong sản xuất hàng hoá giản đơn, sự

trao đổi giữa những người sản xuất hàng hố theo ngun tắc ngang giá về cơ bản

khơng dẫn tới người này chiếm đoạt lao động không công của người kia . Trái lại , nền

sản xuất tư bản chủ nghĩa dẫn đến kết quả là nhà tư bản chẳng những chiếm đoạt một

phần lao động của công nhân , mà còn là người sở hữu hợp pháp lao động khơng cơng

đó. Nhưng điều đó khơng vi phạm quy luật giá trị.

1.1.2. Động cơ của tích lũy tư bản

Động cơ thúc đẩy tích lũy và tái sản xuất mở rộng là quy luật kinh tế tuyệt đối

của chủ nghĩa tư bản – quy luật giá trị thặng dư . Để thực hiện mục đích đó các nhà tư

bản khơng ngừng tích lũy để mở rộng sản xuất, xem đó là phương tiện căn bản để tăng

cường bóc lột công nhân làm thuê và làm giàu cho bản thân.

Như vậy, tích lũy tư bản giữ vai trò quyết định làm cho nền sản xuất tư bản lớn

nhanh, khơng có tích lũy thì khơng có quy mơ sản xuất lớn hơn. Do đó, khơng có

thêm lợi ích kinh tế, điều này không thể chấp nhận đối với một nhà tư bản và chiếm

dụng vốn để phát triển. Mặc khác , do cạnh tranh buộc các nhà tư bản phải không

ngừng làm cho tư bản của mình tăng lên bằng cách tăng nhanh tư bản tích lũy. Nếu

khơng tích lũy thì sẽ không thể giữ vững trên thị trường, đồng nghĩa của sự phá sản

của tư bản.

1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới quy mơ của tích lũy tư bản

Với một khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy mơ của tích lũy tư bản

phụ thuộc vào tỉ lệ phân chia khối lượng của giá trị thặng dư đó thành quỹ tích lũy và

quỹ tiêu dung của nhà tư bản, nhưng nếu tỉ lệ phân chia đó đã được xác định, thì quy

mơ của tích lũy tư bản phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư. Do đó, những nhân

tố ảnh hưởng tới khối lượng giá trị thặng dư cũng là nhân tố quyết định quy mơ của

tích lũy tư bản. Những nhân tố đó là:

1.1.4. Trình độ bóc lột sức lao động

Các nhà tư bản nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách cắt xén vào

tiền công. Khi nghiên cứu sự sản xuất giá trị thặng dư, C.Mác giả định rằng sự trao đổi

giữa công nhân và nhà tư bản là sự trao đổi ngang giá, tức là tiền công bằng giá trị sức

lao động. Nhưng trong thực tế, công nhân không chỉ bị nhà tư bản chiếm đoạt lao động

4



thặng dư, mà còn bị chiếm đoạt một phần lao động tất yếu, tức cắt xén tiền cơng, để

tăng tích luỹ tư bản.

Các nhà tư bản còn nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách tăng

cường độ lao động và kéo dài ngày lao động để tăng khối lượng giá trị thặng dư, nhờ

đó tăng tích luỹ tư bản. Cái lợi ở đây còn thể hiện ở chỗ nhà tư bản khơng cần ứng

thêm tư bản để mua thêm máy móc, thiết bị mà chỉ cần ứng tư bản để mua thêm

nguyên liệu là có thể tăng được khối lượng sản xuất, tận dụng được cơng suất của máy

móc, thiết bị, nên giảm được hao mòn vơ hình và chi phí bảo quản của máy móc, thiết

bị.

1.1.1.5. Trình độ năng suất lao động xã hội

Nếu năng suất lao động xã hội tăng lên, thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu

dùng giảm xuống. Sự giảm này đem lại hai hệ quả cho tích luỹ tư bản:

Một là, với khối lượng giá trị thặng dư nhất định, phần dành cho tích luỹ có thể

tăng lên, nhưng tiêu dùng của các nhà tư bản khơng giảm, thậm chí có thể cao hơn

trước;

Hai là, một lượng giá trị thặng dư nhất định dành cho tích luỹ có thể chuyển hố

thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm lớn hơn trước.

Do đó, quy mơ của tích luỹ không chỉ phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư

được tích luỹ, mà còn phụ thuộc vào khối lượng hiện vật do khối lượng giá trị thặng

dư đó có thể chuyển hố thành. Như vậy năng suất lao động xã hội tăng lên sẽ có thêm

những yếu tố vật chất để biến giá trị thặng dư thành tư bản mới, nên làm tăng quy mơ

của tích luỹ. Nếu năng suất lao động cao, thì lao động sống sử dụng được nhiều lao

động quá khứ hơn, lao động quá khứ đó lại tái hiện dưới hình thái có ích mới, được sử

dụng làm chức năng của tư bản ngày càng nhiều, do đó cũng làm tăng quy mơ của tích

luỹ tư bản.

1.1.6. Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng

Trong quá trình sản xuất, tư liệu lao động (máy móc, thiết bị) tham gia tồn bộ

vào q trình sản xuất, nhưng chúng chỉ hao mòn dần, do đó giá trị của chúng được

chuyển dần từng phần vào sản phẩm. Vì vậy có sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và

tư bản tiêu dùng. Mặc dù đã mất dần giá trị như vậy, nhưng trong suốt thời gian hoạt

5



động, máy móc vẫn có tác dụng như khi còn đủ giá trị. Do đó, nếu khơng kể đến phần

giá trị của máy móc chuyển vào sản phẩm trong từng thời gian, thì máy móc phục vụ

khơng cơng chẳng khác gì lực lượng tự nhiên. Máy móc, thiết bị càng hiện đại, thì sự

chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng càng lớn, do đó sự phục vụ khơng

cơng của máy móc càng lớn, tư bản lợi dụng được những thành tựu của lao động quá

khứ càng nhiều. Sự phục vụ khơng cơng đó của lao động q khứ là nhờ lao động sống

nắm lấy và làm cho chúng hoạt động. Chúng được tích luỹ lại cùng với quy mơ ngày

càng tăng của tích luỹ tư bản.

1.1.7. Quy mơ của tư bản ứng trước

Với trình độ bóc lột khơng thay đổi, thì khối lượng giá trị thặng dư do khối

lượng tư bản khả biến quyết định. Do đó quy mô của tư bản ứng trước, nhất là bộ phận

tư bản khả biến càng lớn, thì khối lượng giá trị thặng dư bóc lột được càng lớn, do đó

tạo điều kiện tăng thêm quy mơ của tích luỹ tư bản.

Từ sự nghiên cứu bốn nhân tố quyết định quy mô của tích luỹ tư bản có thể rút

ra nhận xét chung là để tăng quy mơ tích luỹ tư bản, cần khai thác tốt nhất lực lượng

lao động xã hội, tăng năng suất lao động, sử dụng triệt để công suất của máy móc, thiết

bị và tăng quy mơ vốn đầu tư ban đầu.

1.2. Các quy luật chung của tích lũy tư bản

1.2.1. Q trình tích lũy tư bản là q trình cấu tạo hữu cơ của tích lũy tư bản

Sản xuất bao giờ cùng là sự kết hợp giữa hai yếu tố: tư liệu sảnxuất và sức lao

động. Sự kết hợp của chúng dưới hình thái hiện vật gọi làcấu tạo kỹ thuật.Cấu tạo kỹ

thuật của tư bản là tỷ lệ giữa số lượng tư liệulaođộng và khối lượng tư bản cần thiết để

sử dụng các tư liệu đó. Cấu tạo kỹthuật là cấu tạo hiện vật, nên nó biểu hiện dưới hình

thức: số llượng máymóc, ngun liệu, năng lượng do cơng nhân sử dụng trong một

thời giannào đó. Cấu tạo kỹ thuật phản ánh trình độ phát triển của lực lượng

sảnxuất.Cấu tạo giá trị của tư bản là tỷ lệ theo đó tư bản phân thành tưbản bất biến và

tư bản khả biến (hay giá trị của sức lao động) cần thiết đểtiến hành sản xuất.Cấu tạo kỹ

thuật thay đổi sẽ làm cấu tạo giá trị thay đổi.C.Mácđã dùng phạm trù cấu tạo hữu cơ

của tư bản để phản ánh mối quan hệ đó.Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị tư

bản, do cấu tạo kỹ thuậtquyết định và phản ánh sự thay đổi của cấu tạo kỹ thuật của tư

bản.Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, do tác động thườngxuyên của tiến bộ

6



khoa học, cấu tạo hữu cơ của tư bản cũng không ngừngbiến đổitheo hướng ngày càng

tăng lên. Sự tăng lên đó biển hiện ở chỗ: bộphận tư bản bất biến tăng nhanh hơn bộ

phận tư bản khả biến, tư bản bấtbiến tăng tương đối và tăng tuyệt đối, còn tư bản khả

biến có thể tăng tuyệtđối nhưng lại giảm xuống tương đối.Sự tăng lên của cấu tạo hữu

cơ của tư bản làm cho khối lượng tưliệu sản xuất tăng lên, trong đó sự tăng lên của

máy móc thiết bị là điềukiện để tăng năng suất lao động, còn ngun liệu tăng theo

năng suất laođộng. Nó đòi hỏi việc sử dụng lao động mới được đào tạo với giá trị

sứclao động cao nhưng năng suất lao động tăng cao lại làm cho hàng hóa kỹthuật hiện

đại giảm xuống. Xu hướng chung là tỷ trọng người lao động cótrình độ cao, lao động

trí tuệ ngày càng tăng lên, gây nên những hậu quả xãhội tiêu cực đối với toàn bộ đội

ngũ người lao động làm th

1.1.2. Q trình tích lũy tư bản là q trình tích tụ và tập trung tư bản

Tích tụ và tập trung tư bản là quy luật phát triển của nền sảnxuất lớn tư bản chủ

nghĩa.Tích tụ tư bản và việc tăng quy mô của tư bản cá biệt bằng cáchtích lũy của từng

nhà tư bản riêng rẽ, nó là kết quả tất nhiên của tích lũy

Tích tụ tư bản một mặt là yêu cầu của việc mở rộng sản xuất, ứng dụng tiếnbộ

kỹ thuật, mặt khác sự tăng lên của khối lượng giá trị thặng dư trong quátrình phát triển

của sản xuất tư bản chủ nghĩa lại tạo khả năng cho tích tụ tư bản. Tập trung tư bản là

sự hợp nhất một số tư bản nhỏ thành một tư bảnlớn cá biệt.Đây là sự tích tụ những tư

bản đã hình thành, là sự thủ tiêu tínhđộc lập riêng biệt của chúng, là việc nhà tư bản

này tước đoạt nhà tư bảnkhác, là việc biến tư bản nhỏ thành số ít tư bản lớn.Tích tụ và

tập trung tư bản giống nhau ở chỗ đều làm tăng quymô của tư bản cá biệt, nhưng khác

nhau ở chỗ nguồn tích tụ tư bản là giá trịthặng dư tư bản hóa, còn nguồn tập trung tư

bản là hình thành trong xã hội.Do tích tụ tư bản mà tư bản cá biệt tăng lên, làm cho tư

bản xã hội cũngtăng theo. Còn tập trung tư bản chỉ là sự bố trí lại các tư bản đã có quy

mơtư bản xã hội vẫn như cũ.Tích tụ tư bản thể hiện mối quan hệ giữa tư bản và lao

động,còn tập trung tư bản thì biểu hiện mối quan hệ giữa những nhà tư bản vớinhau.

Tập trung tư bản có vai trò rất lớn đối với sự phát triển sản xuất tưbản chủ nghĩa. Nhờ

có sự tập trung tư bản mà tổ chức được một cách rộnglớn lao động hợp tác, biến q

trình sản xuất rời rạc, thủ cơng thành qtrình sản xuất theo quy mô lớn, hiện đại.Tập

trung tư bản không những dẫn đến sự thay đổi về lượng củatư bản mà còn làm cho tư

7



bản có một chất lượng mới, làm cho cấu tạo hữucơ của tư bản tăng lên, nhờ đó năng

suất lao động tăng lên nhanh chóng.

Chính vì vậy, tập trung tư bản trở thành đòn bẩy mạnh mẽ của tích lũy

tưbản.Q trình tích tụ và tập trung tư bản ngày càng tăng, do đó nềnsản xuất tư bản

chủ nghĩa ngày càng được xã hội hóa, làm cho mâu thuẫnkinh tế cơ bản của chủ nghĩa

tư bản càng trở nên sâu sắc.

1.2.3. Q trình tích lũy tư bản là q trình bần cùng hóa giai cấp vơ sản

Sự phân tích trên cho thấy, cấu tạo hữu cơ của tư bản ngày càngtăng là một xu

hướng phát triển khách quan của sản xuất tư bản chủ nghĩa.Do vậy, số cân tương đối

về sức lao động cũng có xu hướng ngày cànggiảm. Đó là nguyên nhân gây ra nạn nhân

khẩu thừa tương đối, hay cầu sứclao động giảm một cách tương đối.

Có ba hình thái nhân khẩu thừa: Nhân khẩu thừa lưu động, nhân khẩu thừa tiềm

tàng, nhân khẩu thừa ngừng trệ. Nạn thất nghiệp đã dẫn giai cấp công nhân

đến bần cùnghóa. Bần cùng hóa giai cấp cơng nhân là hậu quả tất nhiên của q trình

tíchlũy tư bản. Bần cùng hóa tồn tại dưới hai dạng: bần cùng hóa tuyệt đối và bần cùng

hóa tương đối. Bần cùng hóa tuyệt đối của cơng nhân biểu hiện mức sống bị giảm sút.

Sự giảm sút này không chỉ xảy ra trong trường hợp tiêu dùng cá nhân tụt xuống tuyệt

đối, mà còn khi tiêu dùng cá nhân tăng lên, nhưng mức tăng đó chậm hơn mức tăng

nhu cầu do chi phí sức lao động nhiều hơn.



8



Chương 2

VẬN DỤNG TÍCH LŨY TƯ BẢN VÀO XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ

VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Khái qt tình hình tích lũy vốn ở Việt Nam

Đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế,

nhất là hơn 20 năm đổi mới vừa qua, tốc độ tăng trưởng khá cao, sản xuất phát triển,

có tích luỹ từ nội bộ, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Để giữ được tốc độ tăng

trưởng cao trong những năm tới sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc tích lũy, huy động vốn

cho nền kinh tế.

Trước đây trong nền kinh tế bao cấp, tiêu dùng còn thiếu thốn thì q trình tích

lũy vốn còn gặp rất nhiều trở ngại. Nhà nước lại can thiệp quá sâu vào nền kinh tế dẫn

đến việc tổ chức doanh nghiệp không thể phát huy hết khả năng của mình, nhiệm vụ

tích tụ và tập trung vốn không đạt được hiệu quả. Từ khi chuyển đổi nền kinh tế, đời

sống nhân dân đã được cải thiện rõ rệt, thu nhập quốc dân tăng lên…tuy nhiên nó vẫn

còn quá nhỏ bé so với nền kinh tế thế giới. Một trong những nguyên nhân chính là

thực trạng tích lũy vốn của ta chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, quy mô vốn của các

doanh nghiệp thấp.

Sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta bắt đầu từ kế hoạch 5 năm

lần thứ nhất 1960 đến 1964 do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đề ra. Q trình này

có thể được chia thành 2 thời kỳ:

Thời kỳ 1960- 1985:CNH được tiến hành trong điều kiện cơ chế kinh tế tập

trung quan liêu, bao cấp

Thời kỳ 1986 đến nay: CNH gắn liền với quản lý của nhà nước theo định hướng

XHCN. Từ năm 1986 đến nay, cùng với công cuộc đổi mới, mở cửa, các kênh huy

động vốn cho CNH, HĐH cũng bắt đầu phong phú, linh hoạt hơn. Đối với nguồn vốn

nước ngồi, ngồi hình thức cũ là vay nợ và viện trợ, đã có thêm hình thức đầu tư trực

tiếp. Nguồn vốn trong nước cũng được bổ xung một số kênh mới, đặc biệt là từ khi có

pháp lệnh Ngân hàng nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, tín dụng và cơng

ty Tài chính . Theo 2 pháp lệnh này, hệ thống ngân hàng một cấp ở nước ta đã chuyển

sang hệ thống ngân hàng hai cấp. Các Ngân Hàng Thương Mại có thể được thành lập

9



dưới hình thức cơng ty cổ phần và được phép thực hiện đa dạng hoá các nghiệp vụ.

Đây là tiền đề pháp lý đầu tiên cho phép các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam có

thêm nhiều khả năng thực hiện các nghiệp vụ tài chính, góp phần thúc đẩy nhanh q

trình tích tụ và tập trung vốn.. Tính chung tổng vốn đầu tư phát triển tồn xã hội thực

hiện cả giai đoạn 1996 - 2000 thì cả nước đạt 394,1 ngàn tỷ đồng, tăng 66,7% so với

giai đoạn 1991 - 1995. Tỷ trọng vốn đầu tư phát triển tồn xã hội giai đoạn 1996-2000

chiếm trong GDP bình quân là 28,6% năm. Tích luỹ nội bộ của nền kinh tế từ mức

không đáng kể đã tăng lên 25%GDP. Trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay : năm

2001- 2006 chiếm 28,2% so với tỷ lệ đóng góp của vốn đầu tư là 52,7% năm 2007 tốc

độ tăng trưởng tín dụng là 53,9%, gấp 3,1 lần tốc độ tăng GDP theo giá thực tế; năm

2008 tăng 39,6%, gấp 3,3 lần, năm 2009 tăng 34,8%, năm 2010 tăng 37 ,5%, năm

2011- 2017 chiếm nguồn vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 15.524 tỷ đồng; trong đó vốn

đầu tư trực tiếp nước ngoài ước thực hiện 1.150 tỷ đồng.

Trong các nguồn vốn cấu thành nên tổng nguồn vốn đầu tư phát triển tồn xã

hội, nguồn vốn Nhà nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất. Trong khi đó thì nguồn

vốn ngồi Quốc doanh qua các năm 1996-2000 lại có chiều hướng Vốn đầu tư toàn xã

hội ngày càng giảm sút, mặc dù năm 2000 có tăng hơn 1999 nhưng vẫn ở mức thấp so

với năm 1995. Trong tổng số vốn đầu tư ngồi quốc doanh thì vốn trong nước ước tính

đạt 674,8 nghìn tỷ đồng, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32,8% GDP

tính đến năm 2017, dân cư chiếm tỷ trọng lớn, trên 80%, còn vốn của các doanh

nghiệp ngoài quốc doanh chỉ chiếm dưới 20%. cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội

phân theo ngành kinh tế cũng đã có những chuyển biến theo chiều hướng tích cực. Tuy

nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vấn đề huy động và sử dụng vốn trong nước

hiện nay đang bộc lộ những yếu kém cần khắc phục. Ngân sách nhà nước ln ở trong

tình trạng căng thẳng, không thể đáp ứng đủ các yêu cầu cho đầu tư phát triển và các

yêu cầu cấp bách về xã hội. Đầu tư của nhà nước bị phân tán do phải đáp ứng quá

nhiều nhiệm vụ. Các nguồn thu từ đất đai, nhà ở, các loại dịch vụ cơng ích như: viện

phí, phí cung cấp điện, nước,... còn để thất thốt và lãng phí lớn. Đóng góp của nhân

dân để xây dựng mới và cải tạo trường học, trạm xá, giao thơng địa phương,...vào sự

nghiệp Văn hố - Giáo dục - Y tế,... chưa được thể chế hoá, sử dụng và quản lý kém

hiệu quả, bất hợp lý, bị lạm dụng và thất thoát. Số vốn huy động được thơng qua hệ

thống tín dụng chủ yếu là ngắn hạn, không đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển và

10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÍ LUẬN TÍCH LŨY TƯ BẢN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×