Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
QUẢN LÝ HỆ THỐNG THÔNG TIN TRONG KHÁCH SẠN

QUẢN LÝ HỆ THỐNG THÔNG TIN TRONG KHÁCH SẠN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đề án môn học



N



GVHD : Mai Kiều Anh



LỜI MỞ ĐẦU

............



gành khách sạn , với chức năng phục vụ về nhu cầu lưu trú của con người đã có q trình

hình thành và phát triển mấy trăm năm . Cứ mỗi giai đoạn phát triển lại có thêm những

biến đổi khơng chỉ về quy mô , số lượng , cấp hạng , loại , đối tượng phục vụ ,chất lượng và cách

thức quản lý . Cạnh tranh khách sạn ngày càng trở nên khốc liệt và gay gắt . Trong điều kiện cạnh

tranh đó đòi hỏi nhà quản lý phải có những thông tin cần thiết để đề ra những phương hướng

thích hợp . Đồng thời trong điều hành khách sạn hằng ngày , người quản lý phải xử lý một khối

lượng thông tin rất lớn . Theo các nhà nghiên cứu đã tổng kết : trung bình một ngày , các Giám

đốc khách sạn phải thảo luận trực tiếp ít nhất 25 người , liên lạc điện thoại với 20 người , họ chỉ

còn 10% thời gian trong ngày là rãnh rỗi . Chính vì những lý do này mà việc ‘tổ chức hệ thống

thông tin trong khách sạn’ là một công việc quan trọng trong công tác quản lý khách sạn .

Xuất phát từ niềm say mê đối với môn học và tầm quan trọng của vấn đề là lý do em chọn

đề tài “ Tổ chức hệ thống thông tin trong khách sạn” .Dưới sự hướng dẫn của cô Mai Kiều

Anh , cùng với việc vận dụng những kiến thức đã được học kết hợp quá trình tự nghiên cứu em

đã hoàn thành đề án này . Em xin chân thành cám ơn sự hướng dẫn tận tình của cơ Mai Kiều Anh

trong suốt q trình nghiên cứu đề tài .

Đứng trên quan điểm cá nhân em để hồn thành bài viết nên còn nhiều thiếu sót . Rất

mong sự đóng góp ý kiến của q thầy cơ để bài viết của em được hoàn thiện . Em xin chân

thành cảm ơn quý thầy cô.

Nội dung đề án gồm 3 phần :

Phần I : Cơ sở lý luận chung

Phần II : Nội dung của công tác tổ chức thông

Phần III : Quản lý hệ thống thông tin trong khách sạn



SVTH : Cao Thị Cẩm Hương



2



Đề án môn học



GVHD : Mai Kiều Anh

PHẦN I



CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG



I>Kinh doanh khách sạn :

1-Khái niệm :

-Khái niệm khách sạn du lịch :

Khách sạn du lịch là một toà nhà được xây dựng kiên cố được trang bị hiện đại , phục vụ

khách du lịch trong một thời gian ngắn đáp ứng các nhu cầu về các mặt ăn , ngủ , vui chơi giải trí

và các dịch vụ cần thiết khách nhằm mục đích sinh lợi .

-Khái niệm doanh nghiệp khách sạn :

Doanh nghiệp khách sạn là đơn vị có tư cách pháp nhân , hạch toán độc lập , hoạt động

nhằm mục đích sinh lợi bằng việc kinh doanh phục vụ lưu trú , ăn uống , vui chơi giải trí và các

dịch vụ cần thiết khác cho khách du lịch

2-Nội dung hoạt động kinh doanh khách sạn :

-Khách sạn cung cấp cho khách du lịch hai dịch vụ cơ bản : ăn và ngủ . Đây là hai dịch vụ

cơ bản tạo nên những nội dung chủ yếu của hoạt động kinh doanh khách sạn .

-Ngoài hai nội dung kinh doanh chính trên , các khách sạn nhất là các khách sạn lớn thường

kinh doanh các dịch vụ như tổ chức hội nghị , vui chơi giải trí ... và nhiều dịch vụ cần thiết khác

tuỳ theo khả năng của khách sạn và yêu cầu của khách .

-Hơn nữa , các khách sạn không chỉ kinh doanh các dịch vụ và hàng hoá do khách sạn sản

xuất ra mà còn kinh doanh một số dịch vụ và hàng hố do các ngành khác sản xuất ra . Do vậy ,

khách sạn còn thực hiện chức năng “đại lý” ,chuyển bán các sản phẩm của các nghành khác trong

nền kinh tế quốc dân .

Như vậy , hoạt động kinh doanh khách sạn ngày nay rất đa dạng , phong phú bao gồm

hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú , dịch vụ ăn uống và các dịch vụ bổ sung khác.

3) Đặc điểm của hoạt động kinh doanh khách sạn

a) Đặc điểm về sản phẩm của khách sạn :

- Sản phẩm khách sạn bao gồm toàn bộ các hoạt động diễn ra trong cả một quá trình từ khi

nghe lời yêu cầu của khách đến khi khách rời khỏi khách sạn . Quá trình này bao gồm : các hoạt

động đảm bảo nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của khách như ăn , ngủ , giao tiếp , mua bán hàng

hố. Và những hoạt động đảm bảo mục đích của chuyến đi như nhu cầu giải trí , nghỉ ngơi ....

- Sản phẩm của khách sạn rất đa dạng , tổng hợp , có cả dạng vật chất và phi vật chất , có

thứ do khách sạn tạo ra , có thứ do ngành khác tạo ra nhưng khách sạn là khâu phục vụ trực tiếp ,

là điểm kết của quá trình du lịch .

b) Đặc điểm trong mối quan hệ giữc sản xuất và tiêu dùng sản phẩm khách sạn :

Sản phẩm khách sạn về cơ bản là sản phẩm dịch vụ , mang tính phi vật chất , nên trong

khách sạn quá trình sản xuất dịch vụ và quá trình tiêu dùng sản phẩm khách sạn diễn ra gần như

đồng thời trong cùng một thời gian và trên cùng một không gian .

- Cùng một không gian : Sản phẩm khách sạn không được mang đến cho khách mà khách

du lịch phải đến khách sạn và thoả mãn nhu cầu của mình tại đó .

- Cùng một thời gian : Trong khách sạn , chúng ta chỉ tiến hành phục vụ khi khách có yêu

cầu và thường là với sự có mặt của khách hàng . Vì vậy , thời gian phục vụ của khách sạn phụ

thuộc vào thời gian tiêu dùng của khách .

Hoạt động kinh doanh của khách sạn diễn ra liên tục , khơng có ngày nghỉ , giờ nghỉ , bất

cứ thời gian nào có khách khách sạn phải ln sẵn sàng phục vụ .

SVTH : Cao Thị Cẩm Hương



3



Đề án môn học

GVHD : Mai Kiều Anh

Nhưng do yêu cầu của khách khong đều đặn trong năm nên cường độ họat động của khách

sạn lại diễn ra khơng đều đặn mà có tính thời vụ .

d) Đặc điểm về tổ chức quá trình kinh doanh khách sạn :

Trong khách sạn quá trình phục vụ do nhiều bộ phận nghiệp vụ khác nhau đảm nhận . Các

bộ phận này vừa có tình độc lập tương đối vừa quan hệ mật thiết với nhau trong một quá trình

phục vụ liên tục nhằm thoả mãn nhu cầu trọn vẹn của khách .

Vì vậy , trong khách sạn , mơ hình tổ chức vừa khơng thể tổ chức theo kiểu phân xưởng sản

xuất linh kiện và cũng không thể tổ chức theo kiểu dây chuyền .Như vậy , các bộ phận trong

khách sạn độc lập hơn so với phương pháp sản xuất dây chuyền nhưng phối , hợp thông tin cho

nhau chặt chẽ hơn kiểu tổ chức sản xuất phân xưởng . Do đó , vấn đề quan trọng trong công tác

tổ chức của khách sạn là xác định trách nhiệm rõ ràng cho từng bộ phận nhưng phải đảm bảo

kênh thông tin thông suốt để phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận của khách sạn như lễ tân ,

buồng , nhà hàng , bếp ,...

e) Đặc điểm của việc sử dụng các yếu tố cơ bản trong kinh doanh

- Dung lượng lao động : Hoạt động kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng lao động lớn

do phải sử dụng nhiều lao động sống trong quá trình sản xuất , bán và phục vụ các dịch vụ hàng

hoá . Đặc điểm này phát sinh là do : Một là , khách hàng được phục vụ trực tiếp , điều đó cản trở

trong một số trường hợp khơng thể cơ giới hố các hoạt động bán hàng và phục vụ , đặc biệt là

khâu phục vụ ăn uống , điều này tác động một cách trực tiếp đến chi phí tiền lương trong giá

thành dịch vụ . Hai là , quy trình phục vụ khách đòi hỏi nhiều lao động cụ thể khác nhau cho nên

tiêu chuẩn tuyển chọn , nội dung đào tạo cũng khác nhau và họ cũng khó thay thế cho nhau

được . - Dung lượng vốn lớn : Hoạt động kinh doanh khách sạn du lịch đòi hỏi dung lượng vốn

lớn là do: Sản phẩm của ngành kinh doanh khách sạn du lịch chủ yếu là các dịch vụ khơng có

hình dáng vật chất cụ thể do đó tiêu hao vật chất chiếm tỷ trọng nhỏ , phần lớn vốn nằm trong bộ

phận vốn cố định . Và do các khách sạn được xây dựng sang trọng , đảm bảo cung cấp tiện nghi

cho khách một cách đầy đủ vì vậy , vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật lớn . Mặt khác ,

trong quá trình hoạt động , các cơ sở ấy luôn phải giữ được sự sang trọng , hiện đại và tiện nghi

đầy đủ đòi hỏi phải thường xuyên bảo trì , bảo dưỡng chúng .

f) Đặc điểm của đối tượng phục vụ :

Đối tượng phục vụ của khách sạn là các khách du lịch có quốc tịch , đặc điểm dân tộc , địa

vị xã hội , trình độ văn hố , sở thích , phong tục tập quán , lối sống khác nhau . Vì vậy , quá trình

phục vụ trong các khách sạn chịu sự tác động rất lớn bởi hành vi du khách . Từ đó , một mặt phải

tiến hành điều tra ,nắm bắt những nhu cầu chung của khách, đặc biệt là nhu cầu của khách hàng

mục tiêu nhằm tạo sự tương hợp giữa chất lượng chờ đợi của khách hàng và chất lượng mong

muốn của khách sạn . Mặt khác , phải chiếu cố đến những kháh khó tính để tạo nên một ảnh

hưởng tốt đẹp về khách sạn dưới con mắt của những khách khác .

g) Tính đặc thù của hoạt động kinh doanh ăn uống trong khách sạn :

- Đối tượng phục vụ khách của các nhà hàng là khách du lịch , khách địa phương và nhiều

thành phần khác nhau nhưng đòi hỏi các cơ sở phải tổ chức ăn uống phù hợp với yêu cầu và tập

tục của khách du lịch chứ không tuân the tập quán của địa phương .

- Do khách du lịch ăn ở khách sạn thường là nơi cách xa địa điểm cư trú thường xuyên ,

khách sạn phải tổ chức ăn uống cho khách cả buổi chính và bữa điểm tâm .

- Việc phục vụ ăn uống trong khách sạn du lịch đồng thời cũng là hình thức giải trí cho

khách .Việc tổ chức các cơ sở ăn uống theo các hình thức dân tộc cổ truyền góp phần truyền bá

phong tục , nghệ thuật ẩm thực của một vùng , một đất nước . Việc này thực hiện bằng cách bài

trí kiến trúc đặc biệt của cơ sở , cũng như qua đồng phục của nhân viên phục vụ , dụng cụ ăn

uống , các món ăn đặc sản ...

SVTH : Cao Thị Cẩm Hương

4



Đề án môn học

GVHD : Mai Kiều Anh

-Góp phần xuất khẩu tại chỗ các sản phẩm nông nghiệp , công nghiệp , công nghiệp thực

phẩm , tạo những điều kiện thuận lợi hơn nhiều so với ngoại thương.

II>Quản trị kinh doanh khách sạn :

1-Những nhiệm vụ quản trị kinh doanh khách sạn :

Các nhiệm vụ quản trị kinh doanh khách sạn có thể được phân chia ra thành những nhóm

cơ bản sau :

a)Tổ chức nghiên cứu thị trường : Trong lĩnh vực kinh doanh khách sạn ,cạnh tranh đã trở

nên gay gắt . Làm sao thu hút được nguồn khách đến nghỉ tại khách sạn của mình với số lượng

đơng và ngày nghỉ dài , đó là một bài tốn khó cho các nhà quản lý. Điều cần thiết phải nghiên

cứu quan hệ cung- cầu của khách sạn trên địa bàn ,các khả năng cạnh tranh thu hút nguồn khách ,

cơ cấu dịch vụ , giá cả... Tất cả những vấn đề này là cơ sở để tổ chức hoạt động kinh doanh có

hiệu quả.

b)Xây dựng kế hoạch kinh doanh : Để thực hiện được những mục tiêu đề ra , khách sạn xây

dựng kế hoạch kinh doanh cho từng tháng , từng quý và cả năm nhằm tạo ra tính chủ động , sáng

tạo cho từng bộ phận ( bàn , buồng , bar, bếp ,lễ tân , bảo dưỡng , bán hàng , tổ chức các dịch vụ

bổ sung ... ) , sử dụng triệt để cơ sở vật chất - kỹ thuật , tiền vốn hàng hoá , vật tư và lực lượng

lao động hiện có để phục vụ khách hàng , nâng cao nguồn thu nhập .

c)Xây dựng cơ cấu “sản phẩm” hợp lý : Đây là một nhiệm vụ quản lý đặc biệt quan trọng

trong khách sạn . Trên cơ sở của việc nghiên cứu thị trường , khách sạn phải tổ chức cung cấp

cho khách một cơ cấu dịch vụ và hàng hoá hợp lý với chất lượng cao. Điều này không những đáp

ứng nhu cầu đa dạng của khách mà còn đem lại hiệu quả kinh tế cao , vì phần lớn các “ sản

phẩm” của khách sạn có đặc điểm là thời điểm sản xuất gắn liền với thời điểm và nơi tiêu dùng .

Không thể sản xuất xong để lưu kho hoặc đem đi nơi khác tiêu dùng được .

d)Hồn thiện các hình thức phục vụ khách : Một trong những yêu cầu cơ bản của nhiệm vụ

này phải đạt được 3 yếu tố cần thiết trong quá trình phục vụ khách : phục vụ đầy đủ , nhanh

chóng với chất lượng phục vụ cao . Ba yểu tố này quyết định đến việc đáp ứng hoặc không đáp

ứng đến nhu cầu của khách , đồng thời dẫn tới việc gia tăng hoặc giảm số lượng khách tới khách

sạn . Hồn thiện các hình thức phục vụ không chỉ được thực hiện thông qua biện pháp cải tiến tổ

chức mà còn thơng qua việc ứng dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại vào quá trình phục vụ .

Ví dụ như : Tổ chức quầy “mini bar” (quầy bar nhỏ) tại buồng ngủ của khách , máy đòi tiền tự

động , máy bán thuốc lá tự động ....

e)Kiểm tra chất lượng các dịch vụ và hàng hoá trước khi cung cấp cho khách hàng .Chất

lượng dịch vụ và hàng hoá của khách sạn bán cho khách khơng những quyết định đến danh tiếng

và uy tín của khách sạn mà còn quyết định hiểu quả sản xuất kinh doanh của cơ sở . Chỉ một sơ

suất nhỏ trong khâu chất lượng như thái độ của nhân viên đối với khách hàng , hoặc vấn đề vệ

sinh ... sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý và việc tiêu thụ dich vụ hàng hoá của khách .

f)Bồi dưỡng trình độ cho cán bộ nhân viên trong khách sạn : Bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ

chun mơn , ngoại ngữ cho cán bộ , công nhân viên trông khách sạn là việc làm hết sức thiết

thực . Nhu cầu của khách càng cao thì việc áp dụng các thành tựu khoa hock kỹ thuật vào quá

trình phục vụ phải càng nhiều .

Việc thường xuyên bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ , chuyên môn và ngoại ngữ cho cán bộ ,

công nhân viên là yêu cầu tất yếu khách quan . Các nhà kinh doanh khách sạn đã khẳng định :

kinh doanh khách sạn là một chu kỳ không bao giờ chấm dứt của quá trình phỏng vấn , tuyển

dụng , huấn luyện và kết thúc hợp đồng . Chính vì vậy , khách sạn thường xuyên tổ chức các hình

thức bồi dưỡng thơng qua việc tổ chức các lớp kèm cặp , gửi đi học hoặc cung cấp sách nghiệp

vụ chuyên môn .

SVTH : Cao Thị Cẩm Hương



5



Đề án môn học

GVHD : Mai Kiều Anh

g)Tổ chức lao động hợp lý : Một trong những đặc điểm của khách sạn là lực lượng lao động

đông với những nghiệp vụ đa dạng , Do đó , tổ chức lao động một cách tối ưu và khoa học là yếu

tố quyết định tới việc nâng cao năng xuất lao động , chất lượng phục vụ khách và hiệu quả của

quá trình kinh doanh .

h)Thực hiện công tác hoạch tác kih tế : Cũng như giám sát kiểm tra toàn bộ hoạt động của

khách sạn , của từng bộ phận là nhiệm vụ thường xuyên của các nhà quản lý .

i)Tổ chức công tác hành chính , văn thư, lưu trữ : Những nhiệm vụ này cũng ảnh hưởng rất

lớn đến việc quản lý và điều hành các hoạt động kinh doanh của khách sạn . Nếu chỉ có sai sót

nhỏ sẽ gây ra những khó khăn , phức tạp trong việc chỉ đạo các hoạt đọng cụ thể .

Ngoài những nhiệm vụ quản lý trên , tuỳ thuộc vào qui mô , cấp , hạng , đối tượng phục

vụ , và sự phân cấp của các cơ quan cấp trên , khách sạn còn nhiều nhiệm vụ khác .

2-Cơ cấu tổ chức của khách sạn

a)Khái niệm:

Để thực hiện chức năng ,nhiệm vụ của bộ máy lãnh đạo và quản lý khách sạn nhằm đạt

được những mục tiêu đặt ra , cần phải tập hợp một số lượng người nhất định . Những người này

được chia thành các bộ phận theo chiều dọc hoặc theo chiều ngang . Theo chiều dọc ta có các cấp

quản lý , theo chiều ngang là các bộ phận trong quản lý.

-Các cấp trong bộ máy quản lý nói lên sự phục tùng trong quản lý từ dưới lên trên . Mỗi

cấp quản lý có nhiệm vụ và quyền hạn rõ ràng để thực hiện mục tiêu đặt ra.

-Bộ phận quản lý là một đơn vị độc lập , thực hiện những hoạt động nhất định và chịu sự

chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo cấp quản lý .

-Thành phần và mối quan hệ qua lại của các bộ phận trong quản lý và tính phục tùng trong

quá trình quản lý được thể hiện thơng qua cơ cấu quản lý .

Cơ cấu quản lý của khách sạn là một hệ thống tổ chức , thơng qua đó thực hiện qui trình

quản lý trên cơ sở giới hạn các chức năng quản lý cho các cơ quan quản lý.

Cơ cấu quản lý được xây dựng thông qua :

- Sơ đồ quản lý xác định quyền của người quản lý và quyền của các nhân viên . Phác hoạ

hình thức tổ chức chủ yếu và công việc đang thực hiện ở các bộ phận . Đồng thời cũng xác định

được công việc giao cho các bộ phận và đánh giá thực hiện các cơng việc đó .

- Các văn bản qui định quyền hạn , trách nhiệm và sự phối hợp giữa các cấp và các bộ phận

. Nếu không có các qui định này sẽ dẫn đến sự rối loạn trong quản lý khách sạn .

b)Các loại cơ cấu tổ chức khách sạn :

-Cơ cấu tổ chức theo trực tuyến : là cơ cấu quản lý lâu đời nhất trong lịch sử được vận dụng

vào các đơn vị kinh doanh khách sạn . Nguyên lý cơ bản của cơ cấu này là : Mỗi bộ phận hoặc

một người chỉ có một người lãnh đạo trực tiếp . Thơng thường mỗi một người lãnh đạo có một số

người dưới quyền nhất định .

Ưu điểm của cơ cấu này là :

 Mỗi người thực hiện hiểu được người lãnh đạo trực tiếp và duy nhất của mình.

 Đảm bảo việc truyền đạt các mệnh lệnh một cách nhanh chóng từ trên xuống dưới và

thu nhận nhanh thông tin phản hồi .

 Có khả năng xác định rõ ràng và đầy đủ nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi thành viên.

Nhược điểm chủ yếu của cơ cấu này là mỗi một người lãnh đạo phải hiêủ rất rõ và cụ thể

bộ phận mà mình phụ trách , nhưng đối với các thao tác quy trình kỹ thuật và kinh doanh phức

tạp thì điều này rất khó thực hiện .

Cơ cấu quản lý theo trực tuyến được vận dụng chủ yếu trong các khách sạn loại nhỏ và

phần lớn người lãnh đạo ở một mức độ nhất định cũng là người thực hiện.

SVTH : Cao Thị Cẩm Hương



6



Đề án môn học

GVHD : Mai Kiều Anh

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của khách sạn theo trực tuyến

GIÁM ĐỐC



Tổ

Lễ tân



Tổ

Buồng



Tổ

Bàn



Tổ

Bar



Tổ

Bếp



-Cơ cấu tổ chức theo chức năng : Cơ cấu tổ chức theo chức năng ra đời khi có lãnh đạo là

những người có chun mơn nghiệp vụ và ra các quyết định trong phạm vi hiểu biếtcủa mình .Cơ

cấu này thu được kết quả lớn vì nó đã tạo ra được sự phân cơng và chun mơn hố trong lao

động quản lý .

Ưu điểm của cơ cấu này : Người lãnh đạo cấp dưới sẽ nhận được những quyết định ,chỉ

thị của nhiều thủ trưởng .Người lãnh đạo cao nhất sẽ bổ nhiệm một số lãnh đạo là chuyên gia chỉ

chịu trách nhiệm về một số lĩnh vực nhất định trong hoạt động kinh doanh .

Nhược điểm cơ bản của cơ cấu tổ chức theo chức năng là người lãnh đạo cấp dưới

hoặc người thực hiện có một số người lãnh đạo trực tiếp .Do đó , rất khó làm rõ ranh giới và trách

nhiệm của từng hoạt động .

Vì tính chất đặc trưng của hoạt động khách sạn nên cơ cấu chức năng không được áp

dụng tồn bộ trong thực tế . Nó làm cơ sở cho việc thiết kế cơ cấu tổ chức theo kiểu hỗn hợp .

-Cơ cấu tổ chức hỗn hợp : Đây là sự kết hợp giữa cơ cấu trực tuyến và cơ cấu tổ chức theo

chức năng . Trong cơ cấu này , các bộ phận cấp thấp hoặc những người trực tiếp làm việc chỉ có

một nhà lãnh đạo trực tiếp , còn những bộ phận trung gian (các bộ phận khác ) có một số người

lãnh đạo là chuyên gia trong , một lĩnh vực nhất định nào đó.

Ưu điểm của cơ cấu này là chun mơn hoá các cán bộ lãnh đạo cấp trung gian và đảm bảo

nguyên tắc một thủ trưởng đối với những người trực tiếp làm việc . Xác định rõ thẩm quyền của

các chuyên gia , đồng thời phân định rõ ràng nhiệm vụ , trách nhiệm cũng như quyền lợi của các

bộ phận tác nghiệp trong khách sạn .



GIÁM ĐỐC

SVTH : Cao Thị Cẩm Hương



7



Đề án môn học



GVHD : Mai Kiều Anh



Phó Giám Đốc

Kinh tế



Bộ phận

Lễ tân



Phó Giám Đốc

Nghiệp vụ



Bộ phận

Buồng



Bộ phận

Bếp



Đây chỉ là cơ cấu mẫu ,việc xây dựng cơ

cấu quản

lý khách sạn còn phụ thuộc

vào rất

nhiều điều kiện như : qui

mô của

khách sạn , các dịch vụ mà khách sạn phát triển , các

điều kiện kinh tế - xã hội nơi khách sạn hoạt động ...

III>Thông tin và sự cần thiết phải tổ chức thông tin trong khách sạn

1-Thông tin và vai trò của thơng tin trong khách sạn :

a)Khái niệm thông tin :

Trong quản trị kinh doanh khách sạn nói riêng và quản trị kinh doanh nói chung , người ta

thường chú trọng tới thông tin kinh tế và những thông tin liên quan đến quản trị kinh doanh .

Thông tin trong quản trị kinh doanh là những tín hiệu mới được thu nhận , được hiểu và được

đánh giá là có ích trong việc ra quyết định quản trị kinh doanh.

b)Vai trò của thơng tin trong hoạt động kinh doanh khách sạn :

Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường , đòi hỏi các nhà quản lý khách

sạn phải phải có những thơng tin cần thiết như : tình hình chính trị , kinh tế , xã hội , văn hóa của

địa phương , đất nước , khu vực và quốc tế , cũng như thơng tin về hồn cảnh thị trường , quan hệ

cung cầu , tỷ giá ... để đề ra những phương hướng kinh doanh thích hợp . Việc thực hiện thơng tin

hai chiều trong khách sạn đóng vai trò quan trọng :

- Giúp cho mọi người hiểu rõ tình hình kinh doanh của khách sạn để tất cả có thể chia sẽ

những khó khăn , đồng thời nỗ lực hơn trong công việc , cùng nhau cượt qua những khó khăn .

- Giải thích tới mọi nhân viên của khách sạn về chiến lược kinh doanh trong giai đoạn hiện

thời để họ biết được những gì đang thực hiện và tại sao phải thực hiện công việc này.

Những thông tin hai chiều này được thực hiện bằng nhiều cách , nhưng cách tốt nhất là tổ

chức các cuộc họp để tăng thêm sự hiểu biết , tinh thần trách nhiệm và nâng cao sự hiểu biết của

nhân viên . Thông qua các cuộc họp , nhân viên sẽ biết được họ sẽ làm gì và làm như thế nào để

có thể kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất và như vậy thu nhập , việc làm của họ được đảm bảo .

2-Sự cần thiết phải tổ chức thông tin trong khách sạn :

Trong khách sạn các bộ phận nghiệp vụ vừa có tính độc lập tương đối vừa quan hệ mật thiết

với nhau trong quá trình phục vụ . Các bộ phận nghiệp vụ phải phối hợp ,thông tin cho nhau chặt

chẽ . Do đó , việc xác định rõ ràng nhiệm vụ của từng bộ phận , đồng thời bảo đảm kênh thông

tin thông suốt để phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận trong khách sạn là rất quan trọng .

SVTH : Cao Thị Cẩm Hương



8



Bộ phận

Bàn

Bar



Đề án mơn học

GVHD : Mai Kiều Anh

Hơn nữa , tình trạng chất lượng không đảm bảo trong khách sạn là xuất phát từ những sai

lệch giữa các mức chất lượng . Trong đó , sai lệch loại 1 sinh ra từ nhận thức sai lầm về những

mong đợi của khách hàng ; sai lệch loại 2 xuất phát từ sự lệch lạc giữa ý muốn của người cung

ứng cái thực sự được thực hiện ; sai lệch loại 3 xảy ra khi sự nhận thức của khách hàng vào lúc

cuối cung ứng dịch vụ mà khách sạn không nắm bắt được .

Nguyên nhân cả ba sai lệch trên đều do thông tin kém hiệu quả . Biện pháp khắc phuvj là

thiết lập và duy trì hệ thống thơng tin có hiệu quả , xây dựng hệ thóng thơng tin nội bộ và coi

trọng việc truyền thông nội bộ

Vậy , công tác tổ chức thông tin trong khách sạn là rất cần thiết .



PHẦN II

NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC TỔ CHỨC THƠNG TIN



I) Những vấn đề liên quan đến thơng tin trong khách sạn :

1) Yêu cầu của thông tin trong khách sạn :

Thơng tin được coi như hữu ích cho cơng tác quản trị kinh doanh khi nó đạt được những

yêu cầu cơ bản sau :

SVTH : Cao Thị Cẩm Hương



9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

QUẢN LÝ HỆ THỐNG THÔNG TIN TRONG KHÁCH SẠN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×