Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NỘI DUNG PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ CHỈ TIÊU HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH LIÊN QUAN ĐẾN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH.

NỘI DUNG PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ CHỈ TIÊU HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH LIÊN QUAN ĐẾN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH.

Tải bản đầy đủ - 0trang

17



Có thể khái quát việc so sánh sự biến động trên tổng tài sản cũng như từng

loại tài sản cuối kỳ so với đầu kỳ thơng qua bảng phân tích sau:

Bảng 2.1. Phân tích biến động về giá trị và cơ cấu tài sản

Đơn vị tính: Đồng



Cuối kỳ

Đầu kỳ



Cuối kỳ



so với

đầu kỳ



Chỉ tiêu

Số

tiền



Tỷ

trọng

(%)



Số

tiền



Tỷ

trọng



±



%



Biến

động

về tỷ

trọng

(%)



(%)



A. Tài sản ngắn hạn

I. Tiền và tương đương tiền

II. Đầu tư tài chính ngắn hạn

III. Phải thu ngắn hạn

IV. Hàng tồn kho

V. Tài sản ngắn hạn khác

B. Tài sản dài hạn

I. Phải thu dài hạn

II. Tài sản cố định

III. Bất động sản đầu tư

IV. Đầu tư tài chính dài hạn

V. Tài sản dài hạn khác

Tổng cộng

2.1.2. Phân tích sự biến động về giá trị và cơ cấu nguồn vốn

Bằng phân tích cơ cấu nguồn vốn cho phép các nhà quản lý đánh giá được

năng lực tài chính cũng như mức độ về mặt độc lập tài chính của doanh nghiệp. Có

thể khái qt việc phân tích cơ cấu nguồn vốn qua bảng sau:

Bảng 2.2. Phân tích biến động về giá trị và cơ cấu nguồn vốn

Đơn vị tính: Đồng



Chỉ tiêu



Đầu kỳ



Cuối kỳ



Cuối kỳ



Biến



so với



động



đầu kỳ



về tỷ



18



Số

tiền



Tỷ

trọng

(%)



Số

tiền



Tỷ

trọng

(%)



±



%



trọng

(%)



A. Nợ phải trả

I. Nợ ngắn hạn

II. Nợ dài hạn

III. Nợ khác

B. Nguồn vốn chủ sở hữu

I. Vốn chủ sở hữu

II. Nguồn kinh phí và quỹ khác

Tổng cộng

2.2. Phân tích tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp

2.2.1. Phân tích các tỷ suất tài trợ của doanh nghiệp

Tính tự chủ về tài chính thể hiện qua các tỷ suất sau:

  Tỷ suất nợ

Tỷ suất nợ



=



Tổng nợ phải trả



x 100%

Tổng tài sản

Tổng nợ phải trả trong chỉ tiêu trên bao gồm cả nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và

nợ khác. Tỷ suất nợ phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bởi các khoản

nợ. Tỷ suất này càng cao thể hiện mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào các chủ

nợ càng lớn, tính tự chủ của doanh nghiệp càng thấp, do đó việc tiếp nhận các

khoản vay nợ càng khó. Một khi doanh nghiệp khơng thanh tốn kịp thời các khoản

nợ, doanh nghiệp ln phải đối đầu với áp lực thanh toán nợ, dẫn đến hiệu quả hoạt

động kinh doanh sẽ kém đi. Đây chính là một trong những chỉ tiêu quan tâm hàng

đầu với các nhà đầu tư khi đánh giá rủi ro và ra quyết định đầu tư cho một doanh

nghiệp nào đó, vì chỉ tiêu này cao thì tất nhiên khả năng thanh toán các khoản nợ

vay là rất thấp.

  Tỷ suất tự tài trợ

Tỷ suất tự tài trợ



=



Nguồn vốn chủ sở hữu



x 100%

Tổng tài sản

Tỷ suất tự tài trợ thể hiện khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp.

Ngược lại với tỷ suất nợ, tỷ suất này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có tính độc



19



lập cao về tài chính và ít bị sức ép của các chủ nợ, doanh nghiệp càng có nhiều cơ

hội nhận các khoản tín dụng từ bên ngồi. Ngồi ra, khi phân tích tính tự chủ về tài

chính của doanh nghiệp còn sử dụng tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu.

Tỷ suất tự tài trợ của doanh nghiệp phản ánh thực trạng tài chính của doanh

nghiệp như: vốn vay có đủ khơng? ở mức độ nào? khả năng độc lập, tự chủ về tài

chính đến đâu?

- Tỷ suất này từ 10% - 40%, thì doanh nghiệp thiếu vốn và khả năng chủ

động về tài chính càng thấp khi tỷ suất tự tài trợ càng nhỏ. Thực trạng này khá phổ

biến ở các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, năng lực quản lý tài chính yếu kém.

- Tỷ suất này từ 40% - 50% được coi là bình thường chấp nhận. Đây là mức

độ phổ biến ở Việt Nam. Trong thực tế có thể cao hơn hay thấp hơn mức này.

- Tỷ suất từ 50% - 80% có thể thấy doanh nghiệp đủ vốn, mức độ tự chủ về

tài chính cao khi tỷ suất tự tài trợ càng cao.

  Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu

Tỷ suất nợ trên



=



Tổng nợ phải trả



x 100%

vốn CSH

Nguồn vốn CSH

Tỷ suất này thể hiện mức độ bảo đảm nợ bởi vốn chủ sở hữu, tỷ suất này



càng cao thì tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp càng thấp và ngược lại.

Khi tiến hành phân tích tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp ngồi việc

phân tích ba chỉ tiêu trên chúng ta cần sử dụng thêm các số liệu trung bình ngành

hoặc các số liệu định mức mà ngân hàng quy định đối với doanh nghiệp để có

những đánh giá đúng đắn tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp.

2.2.2. Phân tích tính ổn định của nguồn tài trợ

Trong cơng tác quản lý tài chính, mỗi nguồn vốn đều có liên quan đến thời

hạn sử dụng vốn và chi phí sử dụng vốn. Do vậy sự ổn định nguồn tài trợ cần phải

được quan tâm khi đánh giá cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp.Với ý nghĩa trên

nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành nguồn vốn thường xuyên và nguồn

vốn tạm thời.

Nguồn vốn thường xuyên



20



Nguồn vốn thường xuyên là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng thường

xuyên, lâu dài vào hoạt động sản xuất kinh doanh có thời gian sử dụng trên một

năm. Với cách phân loại này thì nguồn vốn thường xuyên sẽ bao gồm nguồn vốn

chủ sở hữu và nguồn vốn vay trung hạn, dài hạn. Cần lưu ý khoản nợ vay dài hạn

đến hạn trả không được xem là nguồn vốn thường xuyên.

Nguồn vốn tạm thời

Nguồn vốn tạm thời là nguồn vốn mà doanh nghiệp tạm thời sử dụng vào

hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời gian ngắn thường là một năm hoặc trong

một chu kỳ sản xuất. Theo cách phân loại này nguồn vốn tạm thời sẽ bao gồm các

khoản phải trả tạm thời như: Nợ lương, thuế, BHXH, BHYT, các khoản phải trả cho

người bán, các khoản vay ngắn hạn ngân hàng,… Nguồn vốn tạm thời thường được

sử dụng để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động.

Để phân tích tính ổn định về tài trợ có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:

  Tỷ suất nguồn vốn thường xuyên (NVTX)

Tỷ suất NVTX



=



Nguồn vốn thường xuyên

Tổng nguồn vốn



x 100%



  Tỷ suất nguồn vốn tạm thời (NVTT)



Tỷ suất NVTT



=



Nguồn vốn tạm thời

Tổng nguồn vốn



x 100%



  Tỷ suất nguồn vốn chủ sở hữu trên NVTX



Tỷ suất nguồn vốn CSH trên

NVTX



Nguồn vốn CSH

=



x 100%



NVTX

Với tỷ suất nguồn vốn thường xuyên càng lớn cho ta thấy sự ổn định tương

đối trong thời gian trên một năm đối với nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng, trong

thời gian này doanh nghiệp chưa bị áp lực thanh toán trong ngắn hạn. Ngược lại khi



21



tỷ suất này thấp cho thấy nguồn tài trợ của doanh nghiệp hầu hết là các khoản nợ

ngắn hạn, do vậy áp lực thanh toán các khoản nợ vay này là rất lớn.

Đối với tỷ suất nguồn vốn tạm thời hoàn toàn ngược lại với tỷ suất nguồn

vốn thường xuyên. Tuy nhiên để đánh giá chính xác hơn nữa tính ổn định về nguồn

tài trợ của doanh nghiệp ta cần phải xem xét tỷ suất giữa nguồn vốn chủ sở hữu trên

NVTX. Tỷ suất này càng cao thì việc chịu áp lực trong thanh toán kể cả những

khoản nợ dài hạn càng thấp, chứng tỏ nguồn tài trợ của doanh nghiệp càng ổn định.

Tuy nhiên điều này có thể ảnh hưởng khơng tích cực đến hiệu ứng đòn bẩy tài chính

trong việc sử dụng nguồn vốn vay của doanh nghiệp

2.3. Phân tích cân bằng tài chính trong các doanh nghiệp

Cân bằng tài chính nhằm đảm bảo sự cân đối giữa các yếu tố của nguồn tài

trợ với các yếu tố của tài sản. Sự vận động của tài sản thường tách rời với thời gian

sử dụng của nguồn vốn, nên khi nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố của tài sản

và nguồn vốn sẽ chỉ sự an tồn, tính bền vững lâu dài và cân đối trong tài trợ và sử

dụng vốn của doanh nghiệp. Và đích cuối cùng của việc nghiên cứu cân bằng tài

chính là nhằm phát hiện những nhân tố hiện tại hoặc tiềm tàng của sự mất cân bằng

tài chính, để từ đó có cơ sở cho các nhà quản trị doanh nghiệp ra quyết định về việc

huy động và sử dụng vốn có hiệu quả đảm bảo khả năng thanh tốn an tồn.

2.3.1. Phân tích cân bằng tài chính trong dài hạn

Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ TSLĐ và ĐTNH tại thời

điểm lập báo cáo tài chính. Còn VLĐ ròng chính là phần chênh lệch giữa TSLĐ và

ĐTNH với NVTT. Có hai cách Tính VLĐ ròng của doanh nghiệp như sau:

 VLĐ ròng = NVTX – TSCĐ và ĐTDH

 VLĐ ròng = TSLĐ và ĐTNH – NVTT

Chỉ số cân bằng thứ nhất thể hiện cân bằng giữa nguồn vốn ổn định với

những tài sản có thời gian chu chuyển trên một chu kỳ kinh doanh hoặc trên một

năm. Chỉ tiêu này còn thể hiện nguồn gốc VLĐ ròng hay còn gọi là sự phân tích bên

ngồi về VLĐ.

Chỉ số cân bằng thứ hai thể hiện rõ cách thức sử dụng VLĐ ròng: VLĐ ròng

được phân bổ vào các khoản phải thu, hàng tồn kho hay các khoản có tính thanh



22



khoản cao. Nó nhấn mạnh đến tính linh hoạt trong việc sử dụng VLĐ ở doanh

nghiệp. Chính vì vậy, phân tích cân bằng tài chính qua chỉ tiêu và cách tính này

nhấn mạnh đến phân tích bên trong, nó còn thể hiện khả năng thanh tốn của doanh

nghiệp.

Dựa vào hai cơng thức xác định VLĐ ròng trên, có các trường hợp cân bằng

tài chính sau:



Trường hợp 1



TSCĐ

& Đầu

Tư dài

hạn

TSLĐ

&

ĐTNH



Nguồn

vốn

thường

xuyên

Nguồn

vốn

tạm

thời



Trường hợp2



Trường hợp 3



TSCĐ

& Đầu

Tư dài

hạn



Nguồn

vốn

thường

xuyên



TSCĐ

& Đầu

Tư dài

hạn



Nguồn

vốn

thường

xuyên



TSLĐ

&

ĐTNH



Nguồn

vốn

tạm

thời



TSLĐ

&

ĐTNH



Nguồn

vốn

tạm

thời



Trường hợp (1)

VLĐ ròng = NVTX – TSCĐ và Đầu tư dài hạn < 0

Trong trường hợp này nguồn vốn thường xuyên không đủ để tài trợ cho

TSCĐ và ĐTDH. Phần thiếu hụt này chắc chắn sẽ được bù đắp bằng một phần

nguồn vốn tạm thời hay các khoản nợ ngắn hạn khác. Như vậy cân bằng tài chính

trong trường hợp này là khơng tốt, doanh nghiệp ln ở trong tình trạng thiếu vốn

kinh doanh và áp lực về thanh tốn rất nặng nề.

Trường hợp (2)

VLĐ ròng = NVTX – TSCĐ và Đầu tư dài hạn = 0

Trường hợp này nguồn vốn thường xuyên vừa đủ tài trợ cho toàn bộ các

khoản TSCĐ và ĐTDH. Cân bằng tài chính có tiến triển hơn so với trường hợp (1)

nhưng độ an toàn và bền vững lâu dài chưa cao và khả năng mất cân bằng rất dễ xảy

ra.

Trường hợp (3)



23



VLĐ ròng = NVTX – TSCĐ và Đầu tư dài hạn > 0

Trong trường hợp này nguồn vốn thường xuyên không những sử dụng để tài

trợ cho TSCĐ và ĐTDH mà còn sử dụng để tài trợ một phần cho TSLĐ và ĐTNH

của doanh nghiệp. Cân bằng tài chính trong trường hợp này được đánh giá là tốt và

an toàn.

Đối với các trường hợp trên ta chỉ đơn thuần xem xét VLĐ ròng tại một thời

điểm. Để đánh giá cân bằng tài chính của doanh nghiệp ta phải xem xét trong một

thời gian liên tục thì mới có thể đánh giá hiện tại, dự đoán những khả năng triển

vọng về cân bằng tài chính trong tương lai của doanh nghiệp. Đồng thời cần phải

nghiên cứu, tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốn thường

xuyên và TSCĐ.

2.3.2. Phân tích cân bằng tài chính trong ngắn hạn

Các yếu tố thuộc VLĐ ln có mối liên hệ với từng chu kỳ hoạt động SXKD

của doanh nghiệp. Khi doanh thu tăng thì số dư khoản phải thu khách hàng cũng gia

tăng và ngược lại. Cũng trong chu trình đó, hoạt động tiêu thụ gia tăng làm tăng làm

tăng dự trữ tồn kho ở doanh nghiệp và hoạt động cung ứng đến lượt nó sẽ làm gia

tăng các khoản nợ và tín dụng đến nhà cung cấp. Do những nhân tố trên tác động

qua lại lẫn nhau nên trong chu kỳ kinh doanh sẽ phát sinh nhu cầu về dự trữ tồn

kho, về các khoản phải thu, nhưng đồng thời các tài sản này cũng được tài trợ bằng

các khoản khác. Do đó nhu cầu VLĐ ròng về ngun thuỷ được xác định như sau:

Nhu cầu VLĐ ròng = Hàng tồn kho + Khoản phải thu KH - Nợ phải trả người

bán

Một cách tổng qt hơn, nhu cầu VLĐ ròng có liên quan đến các nguồn vốn

tạm thời khác như nợ lương, nợ thuế,… do vậy nhu cầu VLĐ ròng còn được tính

như sau:

Nhu cầu VLĐ ròng = HTK + Khoản phải thu ngắn hạn - Nợ phải thu

ngắn hạn

Chú ý trong chỉ tiêu nợ ngắn hạn trên ta khơng tính nợ vay ngắn hạn.

Chỉ tiêu nhu cầu VLĐ ròng thể hiện nhu cầu tài trợ trong ngắn hạn. Do đó khi phân

tích cân bằng tài chính cần xem xét mối quan hệ giữa VLĐ ròng và nhu cầu VLĐ

ròng. Phần chênh lệch giữa VLĐ ròng và nhu cầu VLĐ ròng chính là ngân quỹ ròng

và được tính như sau:

Ngân quỹ ròng = VLĐ ròng – nhu cầu VLĐ ròng

Hoặc

= Tiền – Vay ngắn hạn



24



- Khi NQR dương thể hiện cân bằng tài chính an tồn vì lúc này VLĐ ròng

sau khi bù đắp cho các khoản nợ vay ngắn hạn vẫn còn thừa. Tình trạng về áp lực

thanh tốn ở doanh nghiệp không xảy ra, số VLĐ nhàn rỗi này doanh nghiệp có thể

hoạch định cho mình kế hoạch đầu tư nào tốt nhất để đem lại lợi nhuận cao nhất.

- Trong trường hợp VLĐ ròng bằng nhu cầu VLĐ ròng, NQR = 0. Điều này

có nghĩa là VLĐ ròng vừa đủ tài trợ cho nhu cầu VLĐ ròng, cân bằng tài chính ít

bền vững hơn so với trường hợp NQR dương.

- Nếu NQR âm, nghĩa là VLĐ ròng khơng đủ tài trợ cho nhu cầu VLĐ ròng,

tất nhiên doanh nghiệp sẽ phải huy động những khoản vay ngắn hạn để bù đắp vào

chỗ thiếu hụt đó. Cân bằng tài chính trong trường hợp này được xem là kém an

tồn.

2.4. Chỉ tiêu đánh giá rủi ro tài chính của doanh nghiệp

Có thể dùng các chỉ tiêu đo lường độ biến thiên như: Phương sai, độ lệch

chuẩn, hệ số biến thiên để đánh giá rủi ro tài chính doanh nghiệp. Theo đó chúng ta

chỉ cần thay thế kết quả kinh doanh bằng kết quả sau cùng sau khi đã trừ đi chi phí

tài chính (lãi vay). Mặt khác, ta cũng có thể đánh giá rủi ro tài chính qua cơng thức:

VAR(Htc) = VAR[(Hkd(1-T) +(Hkd -r) N/VCSH(1-T)] (1)

Qua phép biến đổi ta được:

(Htc) =[1+N/VCSH](1-T) (Hkd) (1)

Trong đó : N/VCSH, Đòn bẩy tài chính

(Htc), (Hkd) : Lần lượt là độ biến thiên hiệu quả tài chính và kinh doanh.

Ngồi hai chỉ tiêu trên, chúng ta cũng có thể dùng chỉ tiêu độ lớn đòn bẩy tài

chính để đánh giá rủi ro tài chính doanh nghiệp. Như chúng ta đã biết, việc phân

tích rủi ro tài chính doanh nghiệp được biểu hiện qua độ biến thiên của hiệu quả tài

chính. Tuy nhiên, việc xem xét các vấn đề này phải đặt ra là xem xét ảnh hưởng của

việc sử dụng nợ đối với vốn chủ sở hữu. ảnh hưởng này thể hiện qua độ lớn đòn bẩy

tài chính(ĐLĐBTC). Độ lớn đòn bẩy tài chính có thể được định nghĩa là ảnh hưởng

của sự thay đổi lợi nhuận trước thuế và lãi vay đối với lợi nhuận trên vốn chủ sở

hữu.

% Thay đổi lợi nhuận trên VCSH

ĐLĐBTC =



(1)



25



% Thay đổi lợi nhuận trước thuế và lãi vay

ứng với công thức này, số liệu được tập hợp từ các tài liệu chi tiết của kết

quả kinh doanh. Độ lớn đòn bẩy tài chính còn được tính như sau:

LNTT &Lvay

ĐLĐBTC =



= Ktc (2)

LNTT



Theo công thức (1) đã nêu trên, ta thấy độ biến thiên của hiệu quả tài chính

phụ thuộc vào độ biến thiên của hiệu quả kinh doanh và độ biến thiên của ĐBTC.

Qua công thức trên, ta thấy nếu độ biến thiên của ĐBTC càng lớn hay việc sử dụng

nợ của đơn vị càng nhiều thì độ biến thiên của hiệu quả tài chính càng lớn( cùng

một mức rủi ro kinh doanh). Điều này cũng có nghĩa rủi ro tài chính có quan hệ chặt

chẽ với cấu trúc tài chính doanh nghiệp. Đây là mặt trái của việc sử dụng nợ cao,

tuy nhiên nó có tác dụng khuyếch đại hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.

Mặt khác, theo cơng thức (2) đã nêu trên thì mối quan hệ giữa cấu trúc tài

chính và rủi ro tài chính doanh nghiệp được thể hiện như sau:

Nếu doanh nghiệp duy trì cấu trúc tài chính, có tỷ suất nợ cao thì chi phí lãi

vay càng lớn. Nếu như trong kỳ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thấp hoặc

thua lỗ khơng đủ để thanh tốn lãi vay thì bắt buộc doanh nghiệp phải dùng nguồn

vốn chủ sở hữu để thanh tốn. Từ đó làm cho khoản thu nhập trên VCSH rất thấp

hoặc khơng có, do đó rủi ro đối với VCSH là rất lớn. Về lý thuyết thì doanh nghiệp

nên sử dụng nợ khi ĐLĐBTC lớn hơn 1, vì việc vay nợ giúp cho doanh nghiệp đạt

tỷ suất lợi nhuận trên VCSH cao hơn việc không dùng nợ. Đồng thời với việc dùng

nợ cao thì rủi ro xảy ra với VCSH càng lớn. Cho nên, trong những trường hợp khác

nhau cần phải cân nhắc giữa hiệu quả và rủi ro để duy trì một cấu trúc tài chính

thích hợp.



26



PHẦN 3:

GIẢI PHÁP LỰA CHỌN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH HỢP LÝ TRONG CÁC

DOANH NGHIỆP

Cấu trúc tài chính hợp lý là sự kết hợp giữa nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở

hữu để tài trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Do vậy trong phần lựa chọn

cấu trúc tài chính hợp lý hiểu việc lựa chọn cấu trúc tài sản là việc lựa chọn hình

thức đầu tư, lựa chọn cấu trúc nguồn vốn là lựa chọn nguốn tài trợ đầu tư và ở đây

thể hiện sự khéo léo và tài ba của nhà quản lý là sự kết hợp giữa hai lựa chọn.

3.1. Lựa chọn cấu trúc tài sản hợp lý

Việc lựa chọn cẩu túc tài sản hợp lý khi nó mang lại hiệu suất sử dụng cao

và hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp

Việc lựa chọn cấu trúc tài sản chịu ảnh hưởng của các nhân tố:

- Loại hình doanh nhiệp: Tuỳ theo quy mơ của từng doanh nghiệp và đặc

diểm hoạt động của từng doanh nghiệp mà vấn đề lựa chọn cấu trúc tài sản khác

nhau.

- Phương án bán hàng và tiêu thụ sản phẩm: Doanh nghiệp bán hàng qua đại

lý thì tỉ trọng khoản phải thu nợ khách hàng thường cao hơn các doanh nghiệp bán

hàng theo phương pháp trực tiếp.

- Chính sách bán hàng của doanh nghiệp: Các khoản phải thu chiếm tỉ trọng

nhiều hay ít còn tuỳ thuộc vào các doanh nghiệp sử dụng chính sách thắt chặt hay

nới lỏng tín dụng bán hàng.

- Khả năng quản lý và thu nợ khách hàng tốt thì số vòng quay khoản phải

thu sẽ tăng và số ngày thu hồi nợ sẽ giảm, doanh nghiệp sẽ đạt được cấu trúc tài sản

hợp lý hơn là hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

- Triển vọng thị trường trong tương lai: Nghành nghề mà doanh nghiệp đang

hoạt động gặp khó khăn thì doanh nghiệp có xu hướng thu hẹp quy mô sản xuất, cấu

trúc tài sản sẽ phải thu hẹp lại, như thanh lý tài sản cũ kỹ, sử dung không mang lại

hiệu quả, giải quyết nhanh tốc hàng tốn kho, giảm bớt việc dự trữ hàng mua vào,

tìm cách đầu tư vào các nghành nghề nào có lợi hơn. Ngược lại, ngành nghề mà

doanh nghiệp hoạt động có triển vọng phát triển trong tương lai thì doanh nghiệp sẽ



27



mở rộng quy mô tài sản, mua sắm đầu tư thêm TSCĐ, tăng lượng hàng dự trữ ...

phục vục cho sản xuất.

- Đặc điểm sản phẩm mà doanh nghiệp đang kinh doanh: Sản phẩm có tính

mùa vụ thì doanh nghiệp ít đầu tư TSCĐ mà thường sử dụng tài sản đi thuê để đáp

ứng nhu cầu sản xuất trong mùa vụ. Sản phẩm có q trình sản xuất dài thì tỉ trọng

hàng tồn kho trong doanh nghiệp cao.

- Chu kỳ sống của sản phẩm: Sản phẩm có chu kỳ sống vào thời ký đầu, thị

trường của sản phẩm lúc này chưa phát triển, cấu trúc tài sản lúc mày chưa tăng,

quy mô tài sản của doanh nghiệp chưa tăng.

- Chính sách quyết định của nhà quản trị tài chính trong thời kỳ: Khi nhà

quản trị dự đốn nhu cầu của thị trường trong tương lai sẽ tăng, thì nhà quản trị sẽ

quyết định tăng dự trữ hàng tồn kho (đầu cơ) để bán trong thời gian tới, lúc này cấu

trúc tài sản sẽ ưu tiên cho hàng tồn kho và nợ phải trả cho nhà cung ứng.

- Phương pháp kế toán cũng ảnh hưởng đến cấu trúc tài sản của doanh

nghiệp. Cụ thể như phương pháp tính khấu hao sẽ ảnh hưởng đến giá trị còn lại của

TSCĐ, phương pháp tính giá hàng xuất kho, lập dự phòng giảm giá cũng sẽ ảnh

hưởng đến giá trị hàng tồn kho hay phương pháp lập các khoản dự phòng nợ phải

thu ...

Trên đây là các nhân tố tác động đến việc lựa chọn một cấu trúc tài sản. Tuy

nhiên để việc ra quyết định một cách có cơ sỡ hơn, doanh nghiệp nên sử dụng các

chỉ tiêu phân tích, nhất là sử dụng hệ số các đòn bẩy: Đòn bẩy kinh doanh, đòn cân

định phí ... Như đã phân tích ở phần trên, hệ số đòn bẩy kinh doanh cho thấy ứng

với một mức hoạt động, hệ số này càng cao thì doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh

doanh lớn hơn nhưng hiệu quả kinh doanh cũng sẽ biến thiên lớn và như vậy rủi ro

doanh nghiệp cũng cao. Lý do là chỉ một thay đổi nhỏ về doanh thu cũng dẫn đến

một sự thay đổi lớn hơn về lợi nhuận kinh doanh. Lợi nhuận kinh doanh sẽ tăng rất

nhanh trong trường hợp mở rộng thị trường, tăng doanh thu nhưng cũng giảm rất

mạnh nếu tiêu thụ của doanh nghiệp giảm.

Các doanh nghiệp sản xuất thường có tỉ trọng TSCĐ lớn nên độ lớn đòn bẩy

kinh doanh cao. Trong khi đó các doanh nghiệp thương mại có độ lớn đòn bẩy kinh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NỘI DUNG PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ CHỈ TIÊU HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH LIÊN QUAN ĐẾN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×