Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



1.1.3. Vai trò của tài chính doanh nghiệp

- Đảm bảo đủ vốn cho doanh nghiệp hoạt động.

- Huy động vốn với chi phí thấp nhất.

- Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài trợ.

- Giám sát và hướng dẫn các hoạt động chi tiêu phù hợp với doanh nghiệp.

1.2. Nội dung và ý nghĩa phân tích tài chính trong doanh nghiệp

1.2.1. Nội dung phân tích cấu trúc tài chính

Về cơ bản nội dung phân tích cấu trúc tài chính đề cập đến các khía cạnh chủ

yếu sau:

 Phân tích cấu trúc tài sản và nguồn vốn

 Phân tích cơ cấu nguồn vốn và sử dụng vốn trong doanh nghiệp

 Phân tích cân bằng tài chính trong các doanh nghiệp

 Phân tích một số chỉ tiêu hiệu quả tài chính

1.2.2. Ý nghĩa của phân tích cấu trúc tài chính

Phân tích cấu trúc tài chính xét theo nghĩa khái quát đề cập tới nghệ thuật

phân tích và giải thích các báo cáo tài chính. Để áp dụng hiệu quả nghệ thuật này

đòi hỏi phải thiết lập một quy trình có hệ thống và logic, có thể sử dụng làm cơ sở

cho việc ra quyết định và việc ra quyết định là mục đích chủ yếu của phân tích cấu

trúc tài chính. Dù cho đó là nhà đầu tư tiềm năng, một nhà cho vay tiềm tàng, hay

một nhà phân tích tham mưu cho lãnh đạo cơng ty,…thì mục tiêu cuối cùng đều như

nhau - đó là cung cấp cơ sở cho việc ra quyết định hợp lý. Các quyết định xem nên

mua hay bán cổ phần, nên cho vay hay từ chối hoặc nên lựa chọn giữa cách tiếp tục

kiểu trước đây hay là chuyển sang một quy trình mới, tất cả sẽ phần lớn sẽ phụ

thuộc vào các kết quả phân tích tài chính có chất lượng. Loại hình quyết định đang

được xem xét sẽ là yếu tố quan trọng của phạm vi phân tích, nhưng mục tiêu ra

quyết định là không thay đổi. Chẳng hạn, cả những người mua bán cổ phần lẫn nhà

cho vay ngân hàng đều phân tích các báo cáo tài chính và coi đó như là một công

việc hỗ trợ cho việc ra quyết định. Tuy nhiên, phạm vi chú ý chính trong những

phân tích của họ sẽ khác nhau. Nhà cho vay ngân hàng có thể quan tâm nhiều hơn

tới khả năng cơ động chuyển sang tiền mặt trong thời kỳ ngắn hạn và giá trị lý giải



6



của các tài sản có tính cơ động. Còn các nhà đầu tư cổ phần tiềm năng quan tâm

hơn đến khả năng sinh lợi lâu dài và cơ cấu vốn. Dù vậy, trong cả hai trường hợp,

sự định hướng vào việc ra quyết định của công tác phân tích là đặc trưng chung.

Có hai mục đích hoặc mục tiêu trung gian trong phân tích cấu trúc tài chính,

đồng thời là mối quan tâm cho mọi nhà phân tích thơng minh đó là:

- Thứ nhất, mục tiêu ban đầu của việc phân tích cấu trúc tài chính là nhằm để

"hiểu được các con số" hoặc để "nắm chắc các con số", tức là sử dụng các công cụ

phân tích tài chính như là một phương tiện hỗ trợ để hiểu rõ các số liệu tài chính

trong báo cáo. Như vậy, người ta có thể đưa ra nhiều biện pháp phân tích khác nhau

nhằm để miêu tả những quan hệ có nhiều ý nghĩa và chắt lọc thơng tin từ các dữ

liệu ban đầu.

- Thứ hai, do sự định hướng của cơng tác phân tích cấu trúc tài chính nhằm

vào việc ra quyết định, một mục tiêu quan trọng khác là nhằm đưa ra một cơ sở hợp

lý cho việc dự đoán tương lai. Trên thực tế, tất cả các cơng việc ra quyết định, phân

tích tài chính hay tất cả những việc tương tự đều nhằm hướng vào tương lai. Do đó,

người ta sử dụng các cơng cụ và kĩ thuật phân tích báo cáo tài chính nhằm cố gắng

đưa ra đánh giá có căn cứ về tình hình tài chính tương lai của cơng ty, dựa trên phân

tích tình hình tài chính trong q khứ và hiện tại, và đưa ra ước tính tốt nhất về khả

năng của những sự cố kinh tế trong tương lai.

Như vậy, mục đích tối cao và quan trọng nhất của phân tích cấu trúc tài chính

là giúp cho những người ra quyết định đánh giá chính xác thực trạng tài chính và

tiềm năng của DN; từ đó lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu. Bởi vậy, việc phân

tích BCTC có ý nghĩa quan trọng đối với nhiều phía.

Đối với chủ DN và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu

của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Bên cạnh đó, nhà quản trị DN còn

quan tâm đến nhiều mục tiêu khác như tạo công ăn việc làm cho cán bộ công nhân

viên, nâng cao chất lượng sản phẩm, cung cấp nhiều sản phẩm, hàng hố và dịch vụ

với chi phí thấp, nâng cao năng lực cạnh tranh, đóng góp phúc lợi xã hội, bảo vệ

mơi trường. Tuy nhiên, một doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện được các mục tiêu

này nếu đáp ứng hai thử thách sống còn và là hai mục tiêu cơ bản: Kinh doanh có



7



lãi và thanh tốn được nợ. Nếu một doanh nghiệp kinh doanh liên tục bị lỗ, rút cuộc

sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa. Mặt khác, nếu doanh nghiệp

khơng có khả năng thanh toán nợ đến hạn cũng bị buộc phải ngừng hoạt động và

đóng cửa. Vậy nên, để tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp phải đảm bảo hai

yếu tố sống còn là kinh doanh có lãi và đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ.

Nhà quản trị doanh nghiệp phải nắm bắt tình hình cấu trúc tài chính q khứ

và tiên đốn về bức tranh tài chính trong tương lai của doanh nghiệp mình thơng

qua cơng tác phân tích báo cáo tài chính một cách thường xuyên liên tục nhằm khai

thác tốt nhất tiềm lực cũng như có những quyết định kinh tế sáng suốt đảm bảo cho

doanh nghiệp phát triển bền vững.

Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng. Mục đích của các

đối tượng này là thu được lợi tức từ việc cho vay, các khoản lợi nhuận từ việc đầu tư

vào các chương trình dự án và thu hồi vốn kinh doanh đúng thời hạn. Nhà cho vay

ngân hàng có thể quan tâm nhiều hơn tới khả năng cơ động chuyển sang tiền mặt

trong thời kỳ ngắn hạn và giá trị lý giải của các tài sản có tính cơ động. Thơng qua

việc phân tích báo cáo tài chính của các doanh nghiệp các đối tượng này biết được

tình hình tài chính nói chung, khả năng sinh lời, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong tổng

nguồn vốn, khả năng thanh toán tức thời và các rủi ro mà doanh nghiệp có thể mắc

phải để có quyết định đúng đắn trong việc đưa ra quyết định là có nên tiếp tục cấp

hoặc ngừng cấp tín dụng cho các đối tượng này.

Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm hàng đầu của các đối tượng này là khả

năng sinh lợi lâu dài, cơ cấu vốn, thời gian hoàn vốn, khả năng thanh tốn,…Nhà

đầu tư có nhiều đối tượng lựa chọn để đầu tư nhưng mục tiêu của họ là đặt tài sản

của mình vào nơi mà họ hi vọng sẽ đạt được các mục đích nói trên. Trên cơ sở phân

tích báo cáo tài chính giữa các cơng ty, các nhà đầu tư có thể phân tích, so sánh và

lựa chọn phương án đầu tư tối ưu.

Bên cạnh các chủ DN, các nhà quản lý, chủ ngân hàng và các nhà đầu tư còn

có các đối tượng khác cũng hết sức quan tâm đến tình hình tài chính của các công ty

như các nhà cung cấp vật tư, thiết bị, hàng hoá dịch vụ quan tâm về khả năng thanh

toán hiện tại và tương lai của khách hàng để có quyết định có nên tiếp tục cung cấp



8



hàng hố, dịch vụ hay khơng; các cơ quan tài chính thống kê chủ quản, các nhà

phân tích tài chính, người lao động,…về cơ bản thì nhóm này cũng có nhu cầu về

thơng tin tài chính của các DN như là các đối tượng mà chúng ta đã phân tích trên vì

nó cũng liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm, đến khách hàng hiện tại và tương

lai của họ.

1.3. Tài liệu sử dụng trong phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp

Để tiến hành phân tích cấu trúc tài chính người ta sử dụng mọi nguồn tài liệu

có khả năng làm rõ mục tiêu của dự đốn tài chính.Trong đó thơng tin kế tốn là

một nguồn thơng tin đặc biệt cần thiết. Thơng tin kế tốn được phản ánh khá đầy đủ

trong hệ thống báo cáo tài chính. Phân tích tài chính được hình thành thơng qua việc

xử lí số liệu trên các báo cáo tài chính: Đó là bảng cân đối kế toán và báo cáo kết

quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài

chính, …Hệ thống báo cáo tài chính được thiết kế để trình bày kết quả của những

nghiệp vụ và những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ và là kênh truyền hình truyền

đạt thơng tin chính của hoạt động quản lí với thế giới bên ngồi. Cụ thể:

1.3.1. Hệ thống báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn

chủ sở hữu và cơng nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình

lưu chuyển tiền tệ và khả năng sinh lời trong kỳ của doanh nghiệp. Báo cáo tài

chính cung cấp các thơng tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho người sử dụng thơng tin

kế tốn trong việc đánh giá, phân tích và dự đốn tình hình tài chính, kết quả hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính được sử dụng như nguồn dữ

liệu chính khi phân tích tài chính doanh nghiệp.

Theo Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành (Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC

ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính), hệ thống Báo cáo tài chính áp dụng cho tất cả

các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước ở Việt

Nam bao gồm 4 biểu mẫu báo cáo sau:

- Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01 - DN);

- Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02 - DN);

- Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03 - DN);



9



- Bản thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B09 - DN).

1.3.1.1. Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh một cách tổng

qt tồn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp theo hai cách đánh giá tài sản và

nguồn hình thành tài sản tại thời điểm lập báo cáo và được chi phối bởi các nguyên

tắc: cơ sở dồn tích, hoạt động liên tục, giá gốc và thận trọng. Các chỉ tiêu của bảng

cân đối kế toán được phản ánh dưới hình thái giá trị và theo nguyên tắc cân đối

(tổng tài sản = tổng nguồn vốn).

- Phần tài sản: Phản ánh giá trị ghi sổ của toàn bộ tài sản hiện có của doanh

nghiệp cuối năm kế tốn tồn tại dưới các hình thái. Các chỉ tiêu phản ánh trong phần

tài sản được sắp xếp theo nội dung kinh tế của các loại tài sản của doanh nghiệp

trong quá trình tái sản xuất và trong tất cả các giai đoạn, các khâu của quá trình

SXKD.

- Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp

đến cuối năm hạch toán. Các chỉ tiêu ở phần nguồn vốn được sắp xếp theo từng

nguồn hình thành tài sản của đơn vị (nguồn vốn của bản thân doanh nghiệp – vốn

chủ sở hữu, nguồn vốn đi vay, nguồn vốn chiếm dụng,…). Tỉ lệ và kết cấu của từng

nguồn vốn trong tổng số nguồn vốn hiện có phản ánh tính chất hoạt động, thực

trạng tài chính của doanh nghiệp.

1.3.1.2. Báo cáo kết qủa hoạt động kinh doanh

Là báo cáo tài chính phản ánh tóm lược các khoản doanh thu, chi phí và kết quả

kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kì nhất định. Báo cáo này là cơ sở để

đánh giá khuynh hướng hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá hiệu quả và khả năng

sinh lời của doanh nghiệp. Báo các này có thể thay đổi trong từng thời kì theo từng

thời kì quản lý nhưng phải phản ánh được các nội dung cơ bản sau: Doanh thu

thuần, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, lợi nhuận

từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính, lợi nhuận từ

hoạt động khác.

1.3.1.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ



10



Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp thông tin về các dòng tiền và tương đương

tiền của doanh nghiệp qua đó giúp người đọc:

-



Tiếp cận với hoạt động kinh doanh, đầu tư, và tài chính của doanh nghiệp



trong kỳ báo cáo.

-



Đánh giá khả năng tạo ra tiền của đơn vị cũng như nhu cầu sử dụng tiền của



đơn vị.

-



Biết được lĩnh vực nào tạo ra tiền, lĩnh vực nào tiêu tốn tiền, lượng tiền và



thời điểm thừa thiếu…

1.3.1.4. Bảng thuyết minh báo cáo tài chính

Đây là một bộ phận khơng thể tách rời báo cáo tài chính; cung cấp những thơng

tin mà các báo cáo khác chưa trình bày như: chính sách, phương pháp kế tốn mà

doanh nghiệp áp dụng; các số liệu chi tiết một số khoản mục trên báo cáo tài chính;

các thơng tin khác phải khai báo theo yêu cầu của chuẩn mực, chế độ kế toán.

Trên đây là các nguồn dữ liệu mà nhà phân tích sử dụng chúng để phân tích tài

chính.

1.3.2 Cơ sở dữ liệu khác

Sự tồn tại, phát triển cũng như quá trình suy thoái của doanh nghiệp phụ thuộc

vào nhiều yếu tố: Có yếu tố bên trong và yếu tố bên ngồi; Có yếu tố chủ quan và

yếu tố khách quan. Điều đó tuỳ thuộc vào tiêu thức phân loại các yếu tố ảnh hưởng.

- Các yếu tố bên trong:

Các yếu tố bên trong là những yếu tố thuộc về tổ chức doanh nghiệp; trình độ

quản lý; ngành nghề, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh;

quy trình cơng nghệ; năng lực của lao động...

- Các yếu tố bên ngoài:

Các yếu tố bên ngoài là những yếu tố mang tính khách quan như: chế độ chính trị

xã hội; tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế; tiến bộ khoa học kỹ thuật; chính sách tài

chính tiền tệ; chính sách thuế...

Phân tích tài chính nhằm phục vụ cho những dự đốn tài chính, dự đốn kết quả

tương lai của doanh nghiệp, trên cơ sở đó mà đưa ra được những quyết định phù

hợp. Như vậy, không chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu những báo biểu tài chính mà



11



phải tập hợp đầy đủ các thơng tin liên quan đến tình hình tài chính của doanh

nghiệp, như các thơng tin chung về kinh tế, tiền tệ, thuế khố, các thơng tin về

ngành kinh tế của doanh nghiệp, các thông tin về pháp lý, về kinh tế đối với doanh

nghiệp. Cụ thể là:

+ Các thông tin chung:

Thông tin chung là những thông tin về tình hình kinh tế chính trị, mơi trường

pháp lý, kinh tế có liên quan đến cơ hội kinh tế, cơ hội đầu tư, cơ hội về kỹ thuật

công nghệ... Sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh tế có tác động mạnh mẽ

đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Những thông tin về các cuộc thăm dò thị

trường, triển vọng phát triển trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ thương mại...

ảnh hưởng lớn đến chiến lược và sách lược kinh doanh trong từng thời kỳ.

+ Các thông tin theo ngành kinh tế:

Thông tin theo ngành kinh tế là những thông tin mà kết quả hoạt động của doanh

nghiệp mang tính chất của ngành kinh tế như đặc điểm của ngành kinh tế liên quan

đến thực thể của sản phẩm, tiến trình kỹ thuật cần tiến hành, cơ cấu sản xuất có tác

động đến khả năng sinh lời, vòng quay vốn, nhịp độ phát triển của các chu kỳ kinh

tế, độ lớn của thị trường và triển vọng phát triển...

+ Các thông tin của bản thân doanh nghiệp:

Thông tin về bản thân doanh nghiệp là những thông tin về chiến lược, sách lược

kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, thơng tin về tình hình và kết quả

kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình tạo lập, phân phối và sử dụng vốn, tình hình

và khả năng thanh tốn... Những thơng tin này được thể hiện qua những giải trình

của các nhà quản lý, qua Báo cáo tài chính, báo cáo kế tốn quản trị, báo cáo thống

kê, hạch toán nghiệp vụ...

Bên cạnh hệ thống báo cáo tài chính, khi Phân tích tài chính doanh nghiệp, các

nhà phân tích còn kết hợp sử dụng nhiều nguồn dữ liệu khác nhau như: Báo cáo

quản trị, báo cáo chi tiết, các tài liệu kế toán, tài liệu thống kê, bảng cơng khai một

số chỉ tiêu tài chính... Đây là những nguồn dữ liệu quan trọng giúp cho các nhà

phân tích xem xét, đánh giá được các mặt khác nhau trong hoạt động tài chính một



12



cách đầy đủ, chính xác. Tuy nhiên, phần lớn nguồn dữ liệu này chỉ được sử dụng

trong nội bộ (trừ các chỉ tiêu tài chính cơng khai).

1.4. Phương pháp phân tích

Để tiến hành phân tích tài chính của một doanh nghiệp, các nhà phân tích thường

kết hợp sử dụng các phương pháp mang tính nghiệp vụ - kỹ thuật khác nhau như

phương pháp so sánh, phương pháp loại trừ, phương pháp dự báo, phương pháp

Dupont... Mỗi một phương pháp có những tác dụng khác nhau và được sử dụng

trong từng nội dung phân tích khác nhau. Cụ thể:

1.4.1. Phương pháp so sánh

So sánh là phương pháp được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong phân tích kinh tế

nói chung và phân tích tài chính nói riêng. Mục đích của so sánh là làm rõ sự khác

biệt hay những đặc trưng riêng có của đối tượng nghiên cứu; từ đó, giúp cho các đối

tượng quan tâm có căn cứ để đề ra quyết định lựa chọn. Khi sử dụng phương pháp

so sánh, các nhà phân tích cần chú ý một số vấn đề sau đây:

So sánh với mục tiêu đánh giá:

+ Điều kiện so sánh được của chỉ tiêu:

Chỉ tiêu nghiên cứu muốn so sánh được phải đảm bảo thống nhất về nội dung

kinh tế, thống nhất về phương pháp tính tốn, thống nhất về thời gian và đơn vị đo

lường.

+ Gốc so sánh:

Gốc so sánh được lựa chọn có thể là gốc về khơng gian hay thời gian, tuỳ thuộc

vào mục đích phân tích. Về khơng gian, có thể so sánh đơn vị này với đơn vị khác,

bộ phận này với bộ phận khác, khu vực này với khu vực khác... Việc so sánh về

không gian thường được sử dụng khi cần xác định vị trí hiện tại của doanh nghiệp

so với đối thủ cạnh tranh, so với số bình quân ngành, bình quân khu vực... Cần lưu

ý rằng, khi so sánh về mặt khơng gian, điểm gốc và điểm phân tích có thể đổi chỗ

cho nhau mà không ảnh hưởng đến kết luận phân tích. Về thời gian, gốc so sánh

được lựa chọn là các kỳ đã qua (kỳ trước, năm trước) hay kế hoạch, dự toán. Cụ thể:

- Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích, gốc so sánh

được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kỳ trước hoặc hàng loạt kỳ trước



13



(năm trước). Lúc này sẽ so sánh trị số chỉ tiêu giữa kỳ phân tích với trị số chỉ tiêu ở

các kỳ gốc khác nhau;

- Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, gốc so sánh là trị số

kế hoạch của chỉ tiêu phân tích. Khi đó, tiến hành so sánh giữa trị số thực tế với trị

số kế hoạch của chỉ tiêu nghiên cứu.

+ Các dạng so sánh:

Các dạng so sánh thường được sử dụng trong phân tích là so sánh bằng số tuyệt

đối, so sánh bằng số tương đối và so sánh với số bình quân.

So sánh bằng số tuyệt đối phản ánh qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu nên khi so

sánh bằng số tuyệt đối, các nhà phân tích sẽ thấy rõ được sự biến động về qui mô

của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ (điểm) phân tích với kỳ (điểm) gốc.

So sánh bằng số tương đối: Khác với số tuyệt đối, khi so sánh bằng số tương đối,

các nhà quản lý sẽ nắm được kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức độ phổ

biến và xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế. Trong phân tích tài chính, các

nhà phân tích thường sử dụng các loại số tương đối sau:

- Số tương đối động thái: Dùng để phản ánh nhịp độ biến động hay tốc độ tăng

trưởng của chỉ tiêu và thường dùng dưới dạng số tương đối định gốc [cố định kỳ

gốc: yi/y0 (i = 1, n)] và số tương đối liên hoàn [thay đổi kỳ gốc: y (i + 1)/yi (i = 1, n)].

- Số tương đối kế hoạch: Số tương đối kế hoạch phản ánh mức độ, nhiệm vụ mà

doanh nghiệp cần phải thực hiện trong kỳ trên một số chỉ tiêu nhất định.

- Số tương đối phản ánh mức độ thực hiện: Dùng để đánh giá mức độ thực hiện

trong kỳ của doanh nghiệp đạt bao nhiêu phần so với gốc. Số tương đối phản ánh mức độ

thực hiện có thể sử dụng dưới chỉ số hay tỷ lệ và được tính như sau:



Chỉ số (tỷ lệ %) thực hiện so



Trị số chỉ tiêu thực hiện

x

100

Trị số chỉ tiêu gốc

với gốc của chỉ tiêu nghiên cứu

So sánh với số bình quân: Khác với việc so sánh bằng số tuyệt đối và số tương

=



đối, so sánh bằng số bình quân sẽ cho thấy mức độ mà đơn vị đạt được so với bình

quân chung của tổng thể, của ngành, của khu vực. Qua đó, các nhà quản lý xác định

được vị trí hiện tại của doanh nghiệp (tiên tiến, trung bình, yếu kém).

1.4.2. Phương pháp liên hệ, đối chiếu



14



Liên hệ, đối chiếu là phương pháp phân tích sử dụng để nghiên cứu, xem xét mối

liên hệ kinh tế giữa các sự kiện và hiện tượng kinh tế, đồng thời xem xét tính cân

đối của các chỉ tiêu kinh tế trong quá trình hoạt động. Sử dụng phương pháp này

cần chú ý đến các mối liên hệ mang tính nội tại, ổn định, chung nhất và được lặp đi

lặp lại, các liên hệ ngược, liên hệ xi, tính cân đối tổng thể, cân đối từng phần... Vì

vậy, cần thu thập được thơng tin đầy đủ và thích hợp về các khía cạnh liên quan đến

các luồng chuyển dịch giá trị và sự vận động của các nguồn lực trong doanh nghiệp.

1.4.3. Phương pháp tỷ số tài chính

Đây là phương pháp quan trọng nó cho phép xác định rõ cơ sở phân tích, mối

quan hệ kết cấu và xu thế quan trọng về tình hình tài chính. Các tỷ số này là những

cơng cụ chính trong phân tích gồm các tỷ số về khả năng thanh toán, mức độ hoạt

động, hiệu quả hoạt động, …

1.4.4. Phương pháp thay thế liên hoàn

Đây là phương pháp xác định ảnh hưởng của từng nhân tố bằng cách thay thế lần

lược và liên tiếp các nhân tố tử giá trị gốc sang giá trị phân tích để xác định trị số

của chỉ tiêu nhân tố đó thay đổi. Sau đó, so sánh trị số của chỉ tiêu vùa phân tích

được với trị số của chỉ tiêu chưa có biến đổi của nhân tố cần xác định ta sẽ tính

được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó. Tác dụng xác định mức độ và chiều hướng

ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả kinh doanh nhằm xác định ảnh hưởng đến

chỉ tiêu kinh tế và đưa ra các giải pháp kịp thời.

Đặc điểm và điều kiện áp dụng phương pháp thay thế liên hoàn như sau:

- Xác định chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu;

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu;

- Mối quan hệ giữa chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu với các nhân tố ảnh

hưởng thể hiện dưới dạng tích số hoặc thương số;

- Sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng và xác định ảnh hưởng của chúng đến chỉ tiêu

phản ánh đối tượng nghiên cứu theo thứ tự nhân tố số lượng được xác định trước rồi

mới đến nhân tố chất lượng; trường hợp có nhiều nhân tố số lượng hoặc nhiều nhân

tố chất lượng thì xác định nhân tố chủ yếu trước rối mới đến nhân tố thứ yếu sau;



15



- Thay thế giá trị của từng nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng

nghiên cứu một cách lần lượt. Cần lưu ý là có bao nhiêu nhân tố thì thay thế bấy

nhiêu lần và nhân tố nào đã thay thế thì được giữ nguyên giá trị đã thay thế (kỳ

phân tích) cho đến lần thay thế cuối cùng;

- Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố và so với số biến động tuyệt đối của chỉ

tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc.

Phương pháp thay thế liên hồn có thể được khái quát như sau:

Chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu là Q và Q chịu ảnh hưởng của các nhân

tố a, b, c, d. Các nhân tố này có quan hệ với Q và được sắp xếp theo thứ tự từ nhân

tố số lượng sang nhân tố chất lượng, chẳng hạn Q = abcd. Nếu dùng chỉ số 0 để chỉ

giá trị của các nhân tố ở kỳ gốc và chỉ số 1 để chỉ giá trị của các nhân tố ở kỳ phân

tích thì Q1 = a1b1c1d1 và Q0 = a0b0c0d0. Gọi ảnh hưởng của các nhân tố a, b, c, d đến

sự biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu Q (ký hiệu là ∆ Q) lần

lượt là ∆ a, ∆ b, ∆ c, ∆ d, ta có:

∆ Q = Q1 - Q0 = ∆ a + ∆ b + ∆ c + ∆ d.

Trong đó:

∆ a = a1b0c0d0 - a0b0c0d0.

∆ b = a1b1c0d0 - a1b0c0d0.

∆ c = a1b1c1d0 - a1b1c0d0.

∆ d = a1b1c1d1 - a1b1c1d0.

1.4.5. Phương pháp Dupont

Là phương pháp phân tích dựa trên mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ tiêu tài

chính, từ đó biến đổi một chỉ tiêu tổng hợp thành một hàm số của một loạt các biến

số. Chẳng hạn: tách hệ số khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) hay hệ số

khả năng sinh lời của tài sản (ROA), ... thành tích số của chuỗi các hệ số có mối

quan hệ mật thiết với nhau.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x