Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHẦN MỀM ĐỊA CẦU ẢO (GOOGLE EARTH) TRONG THIẾT KẾ BÀI DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHẦN MỀM ĐỊA CẦU ẢO (GOOGLE EARTH) TRONG THIẾT KẾ BÀI DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

Tải bản đầy đủ - 0trang

+ Tổ chức lớp chặt chẽ, dễ quản lý.

+ Trong một thời gian có hạn có thể cung cấp, khai thác được lượng thơng

tin khá lớn, có thể hồn thành đúng kế hoạch đề ra.

+ Không chịu ảnh hưởng của thời tiết.

+ Trong một vài bài học, việc hình thành biểu tượng, khái niệm địa lí bị

hạn chế (vì chỉ hình thành qua lời giảng của giáo viên, thiếu trực quan).

- Cải tiến: Sắp xếp chỗ ngồi theo các cách khác nhau.

- Các loại bài lên lớp: Bài nghiên cứu tài liệu mới (lí thuyết), bài thực

hành, bài ơn tập, bài kiểm tra. Mỗi loại bài có mục đích và cơng việc cụ thể khác

nhau song đều có cấu trúc cơ bản như nhau.

(2) Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐTNST): Là các hoạt động giáo dục

thực tiễn được tiến hành song song với hoạt động dạy học trong nhà trường phổ

thông. HĐTNST là một bộ phận của quá trình giáo dục, được tổ chức ngồi giờ

học các mơn văn hóa ở trên lớp và có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động

dạy học.

Thông qua các hoạt động thực hành, những việc làm cụ thể và các hành

động của học sinh, HĐTNST là các hoạt động giáo dục có mục đích, có tổ chức

được thực hiện trong hoặc ngoài nhà trường nhằm phát triển, nâng cao các tố

chất và tiềm năng của bản thân học sinh, nuôi dưỡng ý thức sống tự lập, đồng

thời quan tâm, chia sẻ tới những người xung quanh. Thông qua việc tham gia

vào các HĐTNST, người học được phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực, chủ

động, tự giác và sáng tạo của bản thân.

Trong HĐTNST, người học được chủ động tham gia vào tất cả các khâu

của quá trình hoạt động: từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị, thực hiện và đánh

giá kết quả hoạt động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng của bản thân;

được trải nghiệm, được bày tỏ quan điểm, ý tưởng, được đánh giá và lựa chọn ý

tưởng hoạt động, được thể hiện, tự khẳng định bản thân, được tự đánh giá và

đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm mình và của bạn bè,… Từ

đó, hình thành và phát triển những giá trị sống và các năng lực cần thiết.

HĐTNST về cơ bản mang tính chất của hoạt động tập thể trên tinh thần tự chủ,

14



với sự nỗ lực giáo dục nhằm phát triển khả năng sáng tạo và cá tính riêng của

mỗi cá nhân trong tập thể.

1.1.2. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực

1.1.2.1. Khái niệm dạy học theo định hướng phát triển năng lực

* Khái niệm năng lực

Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng. 1998) có

giải thích:

Năng lực là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực

hiện một hoạt động ào đó. Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả

năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [15].

Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định

hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành

năm 2014 thì “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có

tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,…

nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh

nhất định [1]. Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất

của người lao động, kiến thức và kĩ năng) được thể hiện thông qua các hoạt

động của cá nhân nhằm thực hiện một loại cơng việc nào đó. Năng lực bao gồm

các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi cơng dân đều cần phải có, đó là

các năng lực chung, cốt lõi”.

Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc

như là các khả năng, hình ảnh thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm,

hiện thực hóa qua ý chí (John Erpenbeck 1998)

Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng yêu cầu phức hợp và thực hiện

thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể (OECD,2002). Năng lực là các

khả năng và kĩ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được… để giải

quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống.

Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí

và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành cơng và có trách nhiệm

các giải pháp… trong những tình huống thay đổi (Weinert, 2001).

15



Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng,

thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các

tình huống đa dạng của cuộc sống.

Như vậy, có thể hiểu một cách ngắn gọn năng lực là khả năng vận dụng

tất cả những yếu chủ quan ( mà bản then có sẵn hoặc được hình thành qua học

tập) để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống.

* Đặc điểm của năng lực

1) Có sự tác động của một cá nhân cụ thể tới một đối tuoựng cụ thể (kiến

thức, kĩ năng, quan hệ xã hội,…) để có một sản phẩm nhất định, do đó có thể

phân biệt người này với người khác.

2) Năng lực là một yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể. Năng lực

chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể. Vì vậy

năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động.

3) Đề cập tới xu thế đạt được một kết quả nào đó của một cơng việc cụ

thể, do một con người cụ thể thực hiện (năng lực học tập, năng lực tư duy, năng

lực tự quản lí bản thân,… Vậy không tồn tại năng lực chung chung.

* Năng lực chung

Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi…

làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động

nghề nghiệp.

Định hướng chương trình giáo dục phổ thơng (GDPT) sau năm 2015 đã

xác định một số năng lực những năng lực cốt lõi mà học sinh Việt Nam cần phải

có như sau:



16



Hình 1. Sơ đồ các năng lực chung, cốt lõi

[Nguồn:https://tusach.thuvienkhoahoc.com]

* Năng lực chuyên biệt

- Khái niệm năng lực chuyên biệt: Là những năng lực được hình thành và

phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt

trong các loại hình hoạt động, cơng việc hoặc tình huống, mơi trường đặc thù,

cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của

một hoạt động như Toán học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thê thao, Địa lí,…

- Các năng lực chuyên biệt:

+ Năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ (đặc trưng nhất của mơn Địa lí)

+ Năng lực học tập ngoài thực địa

+ Năng lực sử dụng bản đồ

+ Năng lực sử dụng số liệu thống kê

+ Năng lực sử dụng hình ảnh, hình vẽ, video, mơ hình,…

* Năng lực của học sinh phổ thông

Năng lực của học sinh là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ

năng, thái độ,… phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp

17



lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề

đặt ra cho chính các em trong cuộc sống. Năng lực của HS là một cấu trúc động

(trìu tượng), có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó khơng chỉ

là kiến thức, kĩ năng,… mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội,… thể hiện

tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và

những điều kiện thực tế đang thay đổi.

Như vậy, khái niệm về dạy học phát triển năng lực người học là:

Dạy học phát triển năng lực người học là dạy học hướng người học phát

huy các năng lực của bản thân như sáng tạo, trừu tượng, tư duy, phân tích,...

Nhằm góp phần cho việc hình thành và phát triển nhân cách cho người học.

1.1.2.2. Một số phương pháp dạy học địa lí theo định hướng phát triển năng lực

 Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề

Phương pháp dạy học nêu vấn đề hay còn gọi là phương pháp dạy học đặt

và giải quyết vấn đề là phương pháp GV đưa ra một chuỗi “tình huống có vấn

đề”, “tình huống học tập” và hướng dẫn (điều khiển) HS giải quyết một loạt các

vấn đề đó để nhận thức kiến thức địa lí. Tình huống có vấn đề hay tình huống

học tập là trạng thái tâm lí khi HS gặp phải một vấn đề cần giải quyết dựa vào

các tri thức đã có hoặc là q trình giải quyết vấn đề nảy sinh. Thực chất của

phương pháp này là sự tập hợp nhiều phương pháp, kết hợp với nhau một cách

chặt chẽ xoay quanh việc tạo ra và giải quyết một tình huống hoặc chuỗi liên

tiếp các tình huống có vấn đề.

Phương pháp này phát huy được tính sáng tạo trong học tập của HS, phát

triển trí tuệ, rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích, tổng hợp ở người học. Nâng

cao khả năng nhận biết các đối tượng, hiện tượng địa lí từ đó phát triển năng lực

cá nhân. Phương pháp này còn giúp HS liện hệ và sử dụng những tri thức đã học

để tiếp thu tri thức mới; đồng thời tạo ra các mối liên hệ giữa hình đang học với

các hình khác và bản đồ. HS có cơ hội vận dụng tri thức đã học vào thực tiễn,

trước nhất là thực tiễn học tập, giải quyết mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa

biết, phát huy năng lực giao tiếp xã hội...



18



 Phương pháp đàm thoại gợi mở

Phương pháp này đòi hỏi sự khéo léo của GV đặt ra các câu hỏi cho HS

trả lời dựa vào sự tái hiện tri thức đã có. Phương pháp đàm thoại gợi mở giúp

HS mở rộng. đào sâu kiến thức, củng cố và hệ thống hoá kiến thức đã tiếp thu

được. Đồng thời giúp HS tự kiểm tra, đánh giá việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ

xảo trong quá trình học tập của bản thân. Như vậy, thực chất của phương pháp

đàm thoại gợi mở là GV sử dụng hệ thống câu hỏi để vừa mở rộng, vừa đào sâu

kiến thức, vừa củng cố kiến thức cho HS.

Phương pháp này đặt HS vào vị trí vừa là người tìm tòi, thu thập, phân

tích, tổng hợp; HS có cơ hội phát triển kĩ năng hợp tác với bạn bè, kĩ năng nói,

kĩ năng viết báo cáo về một nội dung khoa học. Nó còn bồi dưỡng phương pháp

tự học, tự nghiên cứu; kĩ năng trình bày quan điểm của mình một cách lôgic

trước công chúng, kĩ năng giao tiếp, tăng tính tự tin, mạnh dạn.

 Phương pháp thảo luận

Phương pháp thảo luận là phương pháp mà GV tổ chức cho HS thảo luận,

trao đổi ý kiến về một vấn đề được đặt ra dưới dạng câu hỏi hoặc bài tập nhận

thức. Mục đích của thảo luận là để đánh giá được mức độ nắm kiến thức, kĩ

năng, khả năng diễn đạt và thái độ học tập của HS.

Hình thức thảo luận: thảo luận theo nhóm, thảo luận theo cặp, thảo luận

chung cả lớp.

Phương pháp này là phương pháp mà GV là người tổ chức thảo luận, HS

là chủ thể nhận thức, thảo luận, trao đổi ý kiến về một vấn đề được đặt ra dưới

dạng câu hỏi hay bài tập nhận thức. Đây là phương pháp hoạt động nhận thức

tích cực, chủ động; là cơ hội để HS tự thể hiện mình, phát triển kĩ năng giao tiếp

và trình độ tư duy; kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng diễn đạt, kĩ năng tập hợp

và ghi chép tư liệu...

 Phương pháp dạy học phát triển năng lực

Phương pháp dạy giáo dục phát triển năng lực là:

- Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và

phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm

19



thơng tin,...), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo

của tư duy.

- Chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp

đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp

nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hồn thành nhiệm

vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của GV”.

- Sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy

học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những

hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở

ngoài lớp... Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm

bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn,

nâng cao hứng thú cho người học.

- Sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học mơn học tối thiểu đã qui

định. Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội

dung học và phù hợp với đối tượng học sinh. Tích cực vận dụng công nghệ

thông tin trong dạy học.

 Phương pháp dạy học sử dụng cơng nghệ hiện đại

Với tất cả tính năng của cơng nghệ hiện đại thì việc truyền thụ kiến thức

khơng còn đơn thuần chỉ là bảng đen phấn trắng nữa. Sử dụng công nghệ hiện

đại vào dạy học đang dần trở thành một trào lưu mạnh mẽ và là xu hướng của

giáo dục thế giới. Khi sử dụng công nghệ hiện đại, GV đề ra được nhiều hoạt

động giúp HS tìm tòi khám phá và tự hình thành kiến thức mới thơng qua hoạt

động của bản thân, từ đó HS có niềm tin và hứng thú trong học tập hơn. Thông

qua các công nghệ hiện đại HS được rèn luyện kĩ năng thực hành và củng cố

kiến thức đã học một cách đầy đủ và liên hệ thực tiễn dễ dàng hơn.

Để vận dụng hiệu quả PPDH sử dụng công nghệ hiện đại người GV

hiểu rõ được chức năng của phần mềm sử dụng, tìm hiểu kĩ nội dung bài dạy,

phát huy hết chức năng phần mềm, tạo cho HS cảm giác đang xem một cuốn

phim hấp dẫn, hình thành phương thức học tập mới, một ý thức tự giác tích

cực cho mỗi HS. Ngồi ra khi sử dụng PPDH này còn phải phù hợp với điều

20



kiện cơ sở vật chất của trường và đối tượng HS. Chú ý phối hợp chặt chẽ, linh

hoạt các PPDH.

Các phương pháp trên không sử dụng một cách đơn lẻ mà được kết hợp

một cách nhuần nhuyễn trong cùng một giờ giảng phù hợp với nội dung bài học

và để đạt được hiệu quả cao nhất.

1.1.2.3. Một số hình thức tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực

Cho đến nay trong các tài liệu về hình thức tổ chức dạy học (HTTCDH) ở

nước ta cũng như nước ngồi chưa có được một sự phân loại rõ ràng, chưa được

mọi người thừa nhận về các HTTCDH. Tuy nhiên, hình thức tổ chức dạy học lên

lớp được sử dụng chủ yếu trong các nhà trường. Ngồi ra còn có các hình thức

tổ chức dạy học khác như dạy theo nhóm trên lớp, tự học ở nhà,học tập ngoại

khóa, thảo luận, tham quan và phụ đạo.

Để phát huy ưu điểm của từng hình thức dạy học, phù hợp với đối tượng

HS, điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường, đặc điểm của mơn học Địa lí, tác giả

đưa ra một số hình thức dạy học có ứng dụng phần mềm Google Earth như sau:

 Hình thức dạy học lí thuyết trên lớp

Giáo viên sử dụng phần mềm Google Earth kết hợp với nội dung trong

sách giáo khoa để giảng dạy trên lớp. Hình thức dạy giống như dạy PownPoint

nhưng khác ở chỗ giáo viên sử dụng máy tính kết nối internet để trình chiếu nội

dung cần truyền tải cho học sinh quan sát trực tiếp.

Ví dụ: Bài 10. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc). (Địa lí lớp

11). Nội dung bài là giới thiệu khái quát về Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và

dân cư xã hội của Trung Quốc. Đối với bài này, giáo viên có thể sử dụng Google

Earth để giảng dạy.

 Hình thức dạy học thực tế ảo

Đây là hình thức dạy học cho học sinh sử dụng công nghệ thực tế ảo phần mềm Google Earth trực tiếp. Điều quan trọng là GV cần chuẩn bị nội

dung một cách chi tiết, có hướng dẫn HS quy trình học cụ thể; kiểm sốt chặt

chẽ việc HS tham gia học và hoạt động trực tuyến; dành thời gian trao đổi,

đánh giá HS,...

21



 Hình thức trải nghiệm sáng tạo

Giáo viên xây dựng và tổ chức một chuyến đưa học sinh đi tham quan, du

lịch ảo, khám phá các vùng đất khác nhau trên thế giới ngay từ màn hình máy

tính của mình. Giáo viên có thể chọn con đường riêng hoặc cho học sinh tham

quan những địa điểm du lịch nổi tiếng trên thế giới đã được lập trình sẵn trong

Google Earth. Điều thú vị là dịch vụ du lịch ảo này được hồn tồn miễn phí nên

rất tiện lợi cho giáo viên thực hiện.

1.1.3. Địa cầu ảo Google Earth

1.1.3.1. Giới thiệu về Google Earth

Google Earth là một phần mềm mơ phỏng quả địa cầu có tên gọi gốc là

Earth Viewer vẽ bản đồ trái đất là một quả địa cầu ảo 3D, trên đó là những hình

ảnh địa lí chi tiết được lấy từ ảnh vệ tinh, các ảnh chụp trên không và từ hệ

thống GIS.

Google thể hiện một cách tổng quan về các khu vực trên Trái Đất, mơ

phỏng địa hình theo hình ảnh khơng gian đa chiều bằng cách kết hợp tổng thể

các ảnh viễn thám. Có thể lưu dấu vị trí, hình dạng và toàn bộ thư mục và nội

dung của thư mục vào ổ cứng máy tính. Tệp hoặc thư mục dấu vị trí được lưu

dưới dạng tệp đơn lẻ trong định dạng KML hay KMZ có thể mở bất kỳ lúc nào

trong Google Earth.

Google Earth cung cấp khả năng tìm kiếm và khả năng để định vị, thu

phóng, xoay, nghiêng xem Trái Đất. Nó cũng cung cấp các cơng cụ cho việc

tạo dữ liệu mới và một bộ các lớp dữ liệu như núi lửa và địa hình có sẵn

trong Google Earth và hiển thị thông tin dữ liệu ra giao diện màn hình của

Google Earth.

Google Earth có ba phiên bản :

(1) Phiên bản miễn phí : đây là phiên bản dành cho gia đình và cá nhân sử

dụng, phiên bản này có nhiều tính năng, bao gồm hiển thị vệ tinh và ảnh máy

bay, một bộ các lớp dữ liệu có thể hiển thị dạng bản đồ, khả năng hiển thị dữ

liệu của bên thứ ba, gồm các công cụ cho việc tạo dữ liệu mới, và khả năng nhập

vào dữ liệu GPS. Tại các trường học có thể sử dụng phiên bản miễn phí của

22



Google Earth và Google đã tạo ra một trang web Geo Giáo dục để cung cấp

thông tin hữu ích về cách sử dụng Google Earth, Maps, Sky, và SketchUp trong

các lớp học tại trường. Các tổ chức giáo dục đại học cũng có thể cài đặt các

phiên bản miễn phí cho sử dụng phi thương mại.

(2) Phiên bản “Pro” - Phiên bản này được phát triển để sử dụng với mục đích

thương mại, cho phép nhập vào shapefile ESRI MapInfo và file tab, có thể đo lường

khu vực vòng tròn và đa giác, và có thể in và lưu hình ảnh có độ phân giải cao.

(3) Phiên bản doanh nghiệp - Sản phẩm này xử lí hình ảnh và dữ liệu

khơng gian địa lí khác nhau cho nhân viên trong các tổ chức cơng ty.

Ngồi ra có một phiên bản của Google Earth cho iPhone. Sản phẩm này có

thể hiển thị các hình ảnh tương tự mà có sẵn trên các phiên bản máy tính để bàn,

thực hiện tìm kiếm, và liên kết đến các bài viết trên Wikipedia, nhưng nó khơng có

tất cả các tính năng của các phiên bản máy tính để bàn của Google Earth.

Mỗi một phiên bản của Google Earth có thể được sử dụng để đọc và dữ

liệu được lưu với định dạng KML (Keyhole Markup Language), trong đó cho

phép các trường đào tạo, sinh viên và những người dùng khác để chia sẻ dữ liệu.

Sản phẩm của Google Earth mà chúng ta thu được có thể là: Định vị địa

hình như một máy GPS ngay tại văn phòng, Hệ tọa độ địa lí được quy chuẩn về

hệ quốc tế WGS84 với độ chính xác tới Centimet, Đo chiều dài và diện tích,

Hình ảnh chụp chi tiết, Video clip thao tác, Giải trí bằng các tour du lịch tham

quan sinh động các danh lam trên tồn thế gới, Chia sẻ thơng tin địa điểm qua

mạng Internet…

Google Earth không phải là một hệ thống thơng tin địa lí (GIS) với khả

năng phân tích sâu rộng của ArcGIS hoặc MapInfo, nhưng là dễ dàng hơn để sử

dụng hơn so với các gói phần mềm khác [13].

1.1.3.2. Chức năng của Google Earth

Địa lí là một mơn khoa học có phạm trù rộng lớn và có tính thực nghiệm.

Cần liên hệ với hình ảnh thực tế để HS có cái nhìn cụ thể về nội dung đang học.

Google Earth chính là một ứng dụng xem bản đồ trên toàn thế giới dễ dàng nhất,

ứng dụng này cho phép người dùng di chuyển tới bất kỳ nơi nào trên Trái đất để

23



xem được các hình ảnh vệ tinh, bản đồ, địa hình, tòa nhà 3D và các thiên hà ở

ngồi khơng gian cũng như trong lòng đại dương (xem hình 1.2). Các tính năng

hấp dẫn có thể sử dụng trong dạy học địa lí như:



Hình 1.1 Giao diện Google Earth

1) Chức năng hiển thị dữ liệu

* Tính năng khám phá lịch sử và nền văn minh

Google Earth có thể cung cấp cho người dùng những thơng tin về xã hội

và sự phát triển của dân số thế giới. Điều này rất thuận lợi trong dạy học địa lí

phần kinh tế xã hội. Thơng qua cơng cụ Historical Imagery (truy cập mục View

> Historical Imagery) người dùng sử dụng thanh trượt ở góc trên bên trái màn

hình để thấy phạm vi dân số từ những năm 1990 đến hiện tại. Đây là một công

cụ thực sự hữu ích khi người dùng muốn xem những thay đổi diễn ra trong cộng

đồng (dân số, kiến trúc, đất đai hoặc các chi tiết thường bị bỏ qua trong các bảng

thống kê). Người dùng có thể xem được khoảng thời gian mà những tòa nhà mới

mọc lên xung quanh khu vực đang sống. Ở gần các khu vực đô thị hoặc vùng

ngoại ơ của một thành phố người dùng có thể nhìn thấy nhiều thay đổi ấn tượng

hơn. Tòa nhà mới, cửa hàng và trung tâm thương mại sẽ biến mất toàn bộ khi

người dùng quay trở lại thời gian cách đây hơn một thập kỷ (xem hình 1.4).

24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHẦN MỀM ĐỊA CẦU ẢO (GOOGLE EARTH) TRONG THIẾT KẾ BÀI DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×