Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜ NG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜ NG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay, có những thành phần

kinh tế đã thể hiện tốt vai trò của mình.

Về kinh tế nhà nước, thành phần kinh tế này lấy sở hữu công cộng về tư liệu

sản xuất là cơ sở kinh tế. Kinh tế nhà nước không chỉ bao gồm các doanh nghiệp nhà

nước, mà còn bao gồm các tài sản, cơng cụ kinh tế quan trọng thuộc sở hữu nhà nước,

v.v.. Văn kiện Đại hội X của Đảng xác định rõ: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo,

v.v.. Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của

nền kinh tế quốc dân”.

kinh tế Nhà nước khơng ngừng lớn mạnh và đóng vai trò chủ đạo. nó nắm

những lĩnh vực then chột trong nền kinh tế, nhữngngành, những lĩnh vực có tác động

đến tồn bộ các hoạt động kinh tế - xã hội hoặc cóý nghĩa quan trọng đối với sự ổn

định và phát triển kinh tế - xã hội, chính trị của đấtnước như ngành điện, nước, giao

thông, thông tin liên lạc, công nghiệp quốc phòng...Nó là một cơng cụ có sức mạnh vật

chất mang tính quyết định để nhà nước điều tiết vàhướng dẫn nền kinh tế hàng hoá

nhiều thành phàan phát triển theo định hướng xã hộichủ nghĩa.

Một hình thức doanh nghiệp đang được khuyến khích phát triển đó là cổ phần

hố các doanh nghiệp Nhà nước. Mục đích của việc làm này là nhằm thu hút nguồn

vốn từ người lao động, hạn chế tiêu cực, nâng cao tinh thần lao động. Đặc biệt Nhà

nước có chính sách động viên chính các cán bộ, công nhân của doanh nghiệp mua cổ

phần. Trong các doanh nghiệp đó, Nhà nước nắm phần lớn cổ phần hoặc cổ phần

khống chế. Việc thực hiện cổ phần hố đã được tiến hành thí điểm ở thành phố Hồ Chí

Minh và đang được nhân rộng. Vấn đề còn vướng mắc là Nhà nước cần hồn chỉnh

quy chế và tiêu chuẩn lựa chọn hội đồng quản lý, giám đốc điều hành và tuyên truyền

cho mọi người thấy lợi ích to lớn của việc cổ phần hoá.

Cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể được coi là một thành phần kinh tế

của chủ nghĩa xã hội.Thành phần kinh tế này tồn tại và phát triển dựa trên hình thức sở

hữu tập thể và sở hữu của các thành viên. Sự phát triển theo định hướng xã hội chủ

nghĩa ở nước ta đòi hỏi phát triển mạnh mẽ và vững chắc thành phần kinh tế này, bởi

như V.I.Lênin đã nhấn mạnh, đó là mơ hình dễ tiếp thu nhất của những người nông dân

để tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Rút bài học kinh nghiệm sâu sắc từ phong

trào tập thể hoá trước đổi mới và thực tế những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà

nước ta rất quan tâm đến việc phát triển thành phần kinh tế này, chủ trương xây dựng

10



các hợp tác xã kiểu mới phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất và nhu cầu của

các chủ thể sản xuất.

Để nó có thể hoạt động với hiệu quả cao cần tuân thủ những nguyên tắc cơ bản

của quá trình hợp tác hố mà V.I. lênin đã đề ra. Đó là tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi

dưới sự lãnh đạp của Đảng. Trong đó, nguyên tắc tự nguyện là ngun tắc đầu tiên, cơ

bản nhất. Ngồi ra còn có những nguyên tắc khác như: phải sử dụng các hình thức đa

dạng, từ lĩnh vực lưu thơng, dịch vụ, đến lĩnh vực sản xuất, phát triển từ thấp đến cao,

từ tổ nhóm hợp tác đến hợp tác xã, quản lý dân chủ...Tất cả các nguyên tắc trên có liên

quan mật thiết với nhau. Chẳng hạn, không thể đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, nếu

như gia nhập hợp tác xã mà khơng mang lại lợi ích cho người lao động, trước hết là lợi

ích kinh tế và để các tổ chức kinh tế đó có thể mang lại lợi ích cho người lao động, thì

nó phải sản xuất - kinh doanh có hiệu quả.

Ở nước ta, quan trọng hợp tác hoá đối với những người sản xuất nhỏ diễn ra

từ sau khi hồ bình lập lại ở miền Bắc (1954). "Năm 1958, ở miền Bắc có từ 65 - 67%

số hộ nông dân đã vào kinh tế tập thể dưới hình thức tổ đội cơng. Đến năm 1960 đa số

hộ nông dân (85,8%) đã vào hợp tác xã (chủ yếu là bậc thấp)". Tiếp sau đó là chuyển

từ hợp tác xã bật thấp lên hợp tác xã bậc cao, các tư liệu sản xuất được tập thể hoá ở

mức độ cao và mở rộng quy mô sản xuất. Ở miền Nam sau khi giải phóng, các tổ chức

kinh tế hợp tác cũng được thành lập. Trong tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp và

dịch vụ, q trình hợp tác hố cũng diễn ra như vậy.

Về Kinh tế tư nhân bao gồm cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân. Nhìn chung,

sau hơn 20 năm đổi mới, kinh tế tư nhân đã có bước phát triển mạnh mẽ và đóng vai

trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Trong những năm gần đây, kinh tế

kinh doanh phát triển khá nhanh, hoạt động có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực, chiếm

45,7% GDP (trong đó kinh tế hợp tác đóng góp 6,8%GDP). Như vậy, kinh tế tư nhân

đạt 38,9% GDP, tương đương với tỷ trọng GDP của kinh tế nhà nước(5).

Trong kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể, tiểu chủ dựa trên hình thức tư hữu nhỏ về

tư liệu sản xuất, có vai trò quan trọng trong nhiều ngành nghề ở cả thành thị và nơng

thơn, có khả năng huy động vốn và lao động. Đóng góp của kinh tế cá thể, tiểu chủ

trong lĩnh vực nông nghiệp khá lớn, tỷ trọng GDP khá cao nhưng lại đang giảm liên

tục. Sự giảm sút này không đáng lo ngại, thậm chí là một dấu hiệu tích cực, phản ánh

sự di chuyển khá mạnh mẽ của nó vào các bộ phận, các thành phần kinh tế có trình độ

11



cao hơn; thực chất, là sự thu hẹp cách thức sản xuất nhỏ lẻ để tiến lên những hình thức

sản xuất tiến bộ hơn. Đây là một xu thế tất yếu, do sự phát triển của nền kinh tế thị

trường và quá trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố đang diễn ra một cách mạnh mẽ

buộc những thành viên của kinh tế cá thể, tiểu chủ phải thay đổi, di chuyển vào các bộ

phận, các thành phần kinh tế khác để bảo đảm lợi ích, do đó làm tăng sức cạnh tranh

và cơ hội để phát triển khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất.

Đối với kinh tế tư bản tư nhân, đây là bộ phận kinh tế dựa trên hình thức sở hữu

tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã

hội, bộ phận kinh tế này đã đóng góp tích cực vào việc phát triển lực lượng sản xuất,

huy động vốn, tạo việc làm cho người lao động, v.v..

Từ khi Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty ra đời (21/12/1990), các

doanh nghiệp tư nhân đã thực sự đi vào hoạt động với đầy đủ tư cách pháp nhân, kinh

tế tư bản tư nhân đã có sự phát triển đáng kể, phát huy có hiệu quả khả năng huy động

vốn và tạo việc làm mới cho người lao động; đóng góp của nó cũng ngày càng tăng.

Tuy nhiên, do mới hình thành, nên tỷ trọng cơ cấu GDP của nó chưa cao. Đối với

thành phần kinh tế này, Đảng ta chủ trương khuyến khích phát triển rộng rãi trong

những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm; tạo môi trường kinh

doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để nó phát triển trên những định hướng ưu tiên

của Nhà nước, v.v..

Về Kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu hỗn

hợp về vốn giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong và ngồi nước dưới

các hình thức hợp tác, liên doanh. Trong quan niệm của V.I.Lênin, kinh tế tư bản nhà

nước là hình thức kinh tế quá độ đặc biệt quan trọng và cần thiết để đi lên chủ nghĩa xã

hội. Ơng coi nó là thứ chủ nghĩa tư bản mà 2/3 là chủ nghĩa xã hội, là cái “không đáng

sợ”, thậm chí còn là “phòng chờ” để đi vào chủ nghĩa xã hội.

Tuy vậy, sự vận động hiện thực của thành phần kinh tế này ở nước ta đang là

một vấn đề cần phải bàn. Các cơ chế, chính sách, điều kiện ở Việt Nam hiện nay chưa

tạo ra sự thuận lợi cho thành phần kinh tế này phát triển. Những năm đầu tiên khi

chúng ta mới thực hiện đường lối mở cửa, có lẽ các doanh nghiệp nước ngoài hy vọng

vào việc khai thác những tiềm năng của một thị trường còn rất mới mẻ, nên họ đã đầu

tư rất lớn vào Việt Nam, liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với các doanh

nghiệp nước ngoài diễn ra mạnh mẽ, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ở mức cao.

12



Tuy nhiên, chỉ sau đó một thời gian, số vốn này giảm mạnh. Chính vì nguồn vốn đầu

tư giảm nên tỷ trọng GDP của thành phần kinh tế này cũng liên tục giảm. Đầu tư nước

ngoài là bộ phận phát triển nhất của kinh tế tư bản nhà nước ở nước ta, nếu đầu tư

nước ngoài giảm sút thì tất yếu sẽ làm cho thành phần kinh tế này kém phát triển, thậm

chí là khơng phát triển.

Tuy nhiên, theo chúng tôi, trong thời gian tới, kinh tế tư bản nhà nước có khả

năng phát triển mạnh mẽ, bởi hiện nay, chúng ta đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế

giới (WTO), Đảng và Nhà nước ta đang tìm mọi biện pháp tích cực và hiệu quả để cải

thiện môi trường đầu tư. Hơn nữa, hiện nay, một số thành phần kinh tế khác đang phát

triển rất mạnh mẽ, nên trong tương lai không xa, nhu cầu liên doanh, liên kết sẽ tăng

cao, từ đó sẽ làm cho kinh tế tư bản nhà nước phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho

việc chuyển sang nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.

Về Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế mới nảy sinh

trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Năm 1987, khi Luật Đầu tư trực

tiếp nước ngồi được ban hành thì kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi mới thực sự có

bước phát triển nhanh chóng. Hiện nay, đã có hàng ngàn cơng ty nước ngồi có dự án

đầu tư ở Việt Nam. Tính từ năm 1988 đến năm 2003, nước ta đã thu hút được trên 40

tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài và đã thực hiện được hơn 20 tỷ USD. Năm 2005,

các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi đóng góp khoảng 15,9% GDP, năm 2007

khoảng 17%. Từ khi chúng ta gia nhập WTO, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

(FDI) đổ vào Việt Nam tăng đột biến, năm 2007 là hơn 20 tỷ USD (tăng khoảng 70%

so với năm 2006), sáu tháng đầu năm năm 2008 là 31,6 tỷ USD.

Như vậy, cùng với quá trình tổng kết kinh nghiệm và phát triển sáng tạo lý

luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã bước đầu

tìm ra những biện pháp, bước đi mang tính quy luật của q trình đi lên chủ nghĩa xã

hội. Một trong những biện pháp đó, xét về mặt kinh tế, là phát triển nền kinh tế nhiều

thành phần. Để nền kinh tế nhiều thành phần phát triển theo đúng định hướng xã hội

chủ nghĩa, một mặt, chúng ta phải tạo môi trường phát triển thuận lợi, đảm bảo tính

độc lập, tự chủ của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước phải thực sự

đóng vai trò chủ đạo; mặt khác, chúng ta phải tăng cường vai trò của Đảng và Nhà

nước trong lãnh đạo, quản lý kinh tế.



13



2.1.2. Kinh tế thị trường phát triển chưa đồng đều

Thời gian qua, hệ thống các loại thị trường ở nước ta đã được hình thành.

Tuy nhiên, đối chiếu với một nền kinh tế thị trường vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các

quy luật của kinh tế thị trường, hiện đại và hội nhập quốc tế và tiềm năng, thế mạnh

của nền kinh tế nước ta thì nhìn một cách tổng quát, đến nay vẫn còn tình trạng chưa

ăn khớp, chưa đồng bộ, vận hành chưa thông suốt ở một số thị trường và phân đoạn thị

trường ở Việt Nam.

 Quy mô, cơ cấu, tốc độ phát triển của một số thị trường và phân đoạn thị

trường còn mất cân đối, khập khiễng, chưa tương hợp được nói đến như sau:

-Thị trường hàng hóa, dịch vụ có quy mơ tương đối lớn, tốc độ phát triển nhanh

nhưng chưa bền vững, tăng trưởng không đều, có những năm suy giảm(1). Cơ cấu thị

trường hàng hóa, dịch vụ chưa hợp lý, tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị và đô thị

lớn; thị trường ở khu vực nơng thơn quy mơ nhỏ, hàng hóa ít. Thị trường hàng hóa,

dịch vụ có sự chia cắt, thiếu liên thông, không đồng đều giữa các vùng, miền. Trong cơ

cấu thị trường hàng hóa, dịch vụ, khu vực thương nghiệp, chủ yếu là bán lẻ hàng hóa,

chiếm tỷ trọng cao nhất (76,8%); còn khu vực dịch vụ (khách sạn, nhà hàng, du lịch,

dịch vụ) chiếm tỷ trọng nhỏ (23,2%).

-Thị trường lao động phát triển không đồng đều, mất cân đối. Quy mơ thị

trường lao động nhỏ, tính ổn định của thị trường không cao. Quy mô của thị trường lao

động chính thức thấp, chỉ đạt khoảng 30%, chủ yếu là thị trường lao động phi chính

thức và khơng chính quy. Trong cơ cấu thị trường lao động, tỷ lệ lao động làm việc

trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn còn chiếm tỷ lệ cao hơn so với khu

vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ.

-Thị trường bất động sản, thị trường quyền sử dụng đất phát triển chưa bền

vững, một số phân đoạn thị trường còn phát triển méo mó, các ngun tắc thị trường

chưa được vận dụng hiệu quả, Nhà nước vẫn là chủ thể can thiệp chính trên thị trường.

Một số thị trường bất động sản ở các đô thị lớn, như thị trường nhà ở, nhà chung cư

tăng trưởng nóng. Thị trường đất đai nông nghiệp tồn tại nhiều bất cập, như quy mơ

đất nơng nghiệp của các hộ nơng nghiệp ít thay đổi, nhỏ lẻ, manh mún, gây rất nhiều

khó khăn cho việc tích tụ và tập trung ruộng đất.

-Thị trường vốn quy mô nhỏ, thanh khoản yếu, thiếu hấp dẫn, chưa đủ khả năng

thu hút mạnh các dòng vốn đầu tư nước ngồi, nhất là các dòng vốn lớn. Có sự mất

14



cân đối giữa thị trường vốn ngắn hạn và dài hạn. Cơ cấu tín dụng mất cân đối về kỳ

hạn, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ lệ cao.

-Thị trường khoa học - cơng nghệ quy mơ còn nhỏ, kết nối cung - cầu còn nhiều

hạn chế. Các nghiên cứu khoa học và cơng nghệ có tính ứng dụng thấp, ít gắn kết với

thực tiễn, chưa đáp ứng được nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Năng lực

nghiên cứu của các viện, trung tâm nghiên cứu thấp. Các doanh nghiệp ít có nhu cầu

mua bán, chuyển giao cơng nghệ ở trong nước.

 Trình độ phát triển và hiệu quả hoạt động của các loại thị trường khơng đồng

đều.

Nhìn tổng thể, trình độ phát triển một số loại thị trường trong nền kinh tế nước

ta còn thấp, điều này được thể hiện rõ ở chỉ số tự do kinh tế của nước ta chỉ ở mức 5152/100 điểm, thấp hơn nhiều so với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Ma-laixi-a, Xin-ga-po.

Trình độ phát triển thị trường hàng hóa, dịch vụ ở khu vực nơng thơn còn thấp.

Các kênh phân phối hiện đại, các tổ chức kiểm định chất lượng hàng hóa, tổ chức bảo

vệ người tiêu dùng... trên thị trường hàng hóa, dịch vụ chưa phát triển. Hệ thống

thương mại và các kênh phân phối trong nước có nhiều cấp trung gian, hiệu quả hoạt

động thấp. Hiệu quả hoạt động của thị trường hàng hóa và dịch vụ chỉ đạt 4,2/7 điểm,

xếp thứ 81/133 theo như xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2016.

Quan hệ cung - cầu trên thị trường lao động bị mất cân đối. Tồn tại nhiều

nghịch lý trên thị trường lao động, như thừa lao động trình độ thấp nhưng lại thiếu lao

động trình độ cao hay tỷ lệ sinh viên mới tốt nghiệp đại học ra trường chưa tìm được

việc làm phù hợp với trình độ đào tạo cao, hoặc phải đi làm công nhân trong các khu

công nghiệp. Tranh chấp lao động, đình cơng, bãi cơng diễn ra phức tạp.

Thị trường bất động sản vẫn có phân đoạn phát triển tự phát, tình trạng đầu cơ

làm méo mó quan hệ thị trường vẫn tồn tại. Tình trạng giao dịch “ngầm” vượt ngồi

các quy định pháp luật, gây nhiều lãng phí và tổn thất cho ngân sách nhà nước vẫn tồn

tại trên thị trường bất động sản.

Cơ chế giám sát, kiểm tra, kiểm soát nội bộ, đặc biệt là hệ thống quản trị rủi ro

đối với hệ thống ngân hàng còn chưa theo kịp diễn biến thị trường và còn nhiều bất

cập. Thị trường cổ phiếu còn thiếu minh bạch và mang tính đầu cơ hơn là đáp ứng nhu

cầu vốn cho nền kinh tế.

15



Năng lực khoa học và công nghệ của nước ta vẫn còn thấp, chưa gắn kết được

giữa khoa học và công nghệ với thực tiễn sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu

quả hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ thấp, thiếu nhiều tổ chức trung

gian, tư vấn về khoa học và công nghệ. Việc chuyển đổi các tổ chức khoa học - công

nghệ công lập thành các tổ chức tự chủ, tự chịu trách nhiệm còn chậm và gặp nhiều

khó khăn, vướng mắc.

2.1.3. Kinh tế thị trường phát triển chưa vững chắc

Việc chạy đua chỉ số GDP của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam

bất yếu tố con người và môi trường đã khiến thế hệ mai sau của đất nước này mất dần

cơ hội phát triển trong tương lai khi mà tiềm năng của đất nước không vững chắc,ơ

nhiễm mơi trường, tài chính suy giảm, gặp các vấn đề về an ninh lương thực và năng

lực dẫn đến phát triển khơng bền vững .Bản chất của mơ hình phát triển không bền

vững là phát triển không quan tâm đến mơi trường, kích thích tiêu thụ q mức và khai

thác nguồn tài nguyên quá mức.

Biểu hiện kinh tế: Tăng trưởng nhanh và theo chiều rộng, tiềm lực kinh tế còn

yếu, chưa đạt mức tiềm năng,tốc độ tăng trưởng có nguy cơ suy giảm trong tương lai.

stt

1

2

3

4

5

6

7



Nội dung

2010 2011

2012

Tăng trưởng GDP thực tế

6.4

5.89

5.3

Chỉ số tiêu dùng (CPI)

11.8

18.1

6.8

Tổng vốn ĐTPT so với GDP

38.5

33.3

31.1

Tốc độ tăng xuất khẩu

26.5

34.2

18.2

Nhập siêu so kim ngạch xuất khẩu

-17.4 -10.2

0.7

Tỉ lệ hộ nghèo

14.2

12.6

11.1

Tỉ lệ thất nghiệp thành thị

4.3

3.6

3.2

Số nợ hiện nay của Việt Nam so với các nước khác thì chưa thuộc



2013

5.4

6.0

30.4

15.4

0.7

9.9

3.6

loại cao



2014

5.8

7.0

30.0

10.0

-0.6

2

4





chưa tới giới hạn nguy hiểm, song số nợ đó đang tăng lên nhanh chóng và sẽ có nguy

cơ đe dọa tính bền vững của sự phát triển trong tương lai, nhất là khi vốn vay chưa

được sử dụng có hiệu quả.



16



Đầu tư của nhà nước còn lãng phí, thất thốt

Năm

Tốc độ tăng trưởng GDP

2008

6,23%

2011

5,89%

2012

5,3%

Từ năm 2007,nền kinh tế có dấu hiệu lạm phát rất cao, từ 2007-2012 khủng

hoảng tài chính. Đặc trưng của giai đoạn này là tốc độ tăng trưởng kinh tế chùng

lại.Năm 2018,tăng trưởng GDP thấp nhất,lạm phát tăng tốc đều ở 10-20%. Năm

2011,một số gói kích cầu được tung ra với số tiền rất lớn nhưng mang lại hiệu quả

ngược lại như:bong bóng chứng khốn,lạm phát tăng cao,thâm hụt ngân sách,gây bất

ổn tỉ giá,bất ổn kinh tế vĩ mô… Giai đoạn này một số tập đoàn lớn như vinasin,

vinalines lâm vào khủng hoảng gây lãng phí lớn. Năm 2012,nền kinh tế Việt Nam lâm

vào tình trạng khó khan trong đó nổi bật là nợ xấu ngân hang và hàng tồn kho tăng

cao. Một lượng lớn doanh nghiệp rơi vào khó khăn hoặc phá sản

2.2. Vận dụng lý luận giá trị thặng dư vào sự phát triển của nền kinh tế thị

trường ở Việt Nam hiện nay

Trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hố, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế,

phát triển nguồn nhân lực được coi là một trong ba khâu đột phá của chiến lược

chuyển đổi mơ hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời phát triển nguồn

nhân lực trở thành nền tảng phát triển bền vững và tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Nhân lực là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.

Trình độ phát triển của nguồn nhân lực là một thước đo chủ yếu sự phát triển của các

quốc gia. Vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng phát triển nguồn nhân lực.

17



Trong thế kỷ XX, đã có những quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên, nhưng do phát

huy tốt nguồn nhân lực nên đã đạt được thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, hồn

thành cơng nghiệp hố và hiện đại hoá chỉ trong vài ba thập kỷ.

Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định quan điểm coi con người là

trung tâm của sự phát triển, của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay,

trong điều kiện đẩy mạnh cơng nghiệp hố và hội nhập quốc tế, phát triển nhân lực

được coi là một trong ba khâu đột phá của chiến lược chuyển đổi mơ hình phát triển

kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời, phát triển nhân lực trở thành nền tảng phát

triển bền vững và tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Các nước phát triển lợi dụng ưu thế về vốn, kỹ thuật, đẩy nhanh đào tạo nhân

tài, tranh giành người tài với các nước khác. Các nước đang phát triển tăng cường đầu

tư kinh phí cho khoa học công nghệ giáo dục đào tạo nhân tài, đồng thời ngăn ngừa

chảy máu chất xám bằng những chính sách ưu đãi thích hợp. Chính phủ Ấn Độ đầu tư

1,1% tổng sản phẩm kinh tế quốc dân, 87% tổng đầu tư khoa học công nghệ cho đào

tạo [Định hướng phát triển đội ngũ tri thức Việt Nam – tr.57].

Sau chiến tranh thế giới thứ II, Nhật Bản là nước bại trận bị chiến tranh tàn phá

nặng nề nhưng quốc gia này vẫn khẳng định sự lựa chọn truyền thống trong giáo dục.

Hệ thống giáo dục Nhật Bản được ưu tiên trên nhiều khía cạnh, được sự quan tâm tạo

điều kiện của gia đình và xã hội. Hàn Quốc bị ảnh hưởng nhiều của nền văn hóa Nho

học Trung Hoa nên rất chú trọng phát triển giáo dục. Nhờ đó đầu tư trong giáo dục của

Hàn Quốc không ngừng tăng lên trong 50 năm qua. Đối với Trung Quốc, họ có chính

sách mạnh dạn tìm người tài. Trước mắt Trung Quốc đang thực hiện việc phát hành

“thẻ xanh”, một loại thẻ dành cho những kỹ thuật viên, các nhà đầu tư, các nhà doanh

nghiệp với đặc quyền vào Trung Quốc không cần visa.

Việc phát triển nhân lực, một mặt, cần phải có tầm nhìn chiến lược phát triển

tổng thể và dài hạn, nhưng đồng thời, trong mỗi thời kỳ nhất định, cần xây dựng

những định hướng cụ thể, để từ đó đánh giá thời cơ, thách thức, những khó khăn, hạn

chế và nguyên nhân… để đề ra mục tiêu và giải pháp phát triển thích hợp cho giai

đoạn đó phù hợp với bối cảnh kinh tế-xã hội trong nước và quốc tế.



18



Yêu cầu đối với phát triển nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay

Nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội

nhập quốc tế, từ bối cảnh trong nước, phát triển nguồn nhân lực đang đứng trước

những yêu cầu:

Thứ nhất, bảo đảm nguồn nhân lực là một trong ba khâu đột phá cho công

nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã được đề ra trong Chiến

lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020: chuyển đổi mơ hình tăng trưởng từ chủ yếu

theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu; tăng cường ứng

dụng khoa học và công nghệ; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện tái cấu trúc nền

kinh tế; tăng nhanh hàm lượng nội địa hóa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản

phẩm, doanh nghiệp và của nền kinh tế; tăng năng suất lao động, tiết kiệm trong sử

dụng mọi nguồn lực;…

Thứ hai, Việt Nam có lực lượng lao động lớn (khoảng 52.207.000 người; hàng

năm trung bình có khoảng 1,5-1,6 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động)(*), một

mặt, tạo cơ hội cho nền kinh tế có bước phát triển mạnh mẽ, mặt khác, tạo sức ép lớn

về giải quyết việc làm và đào tạo nghề nghiệp.

Thứ ba, nhu cầu đào tạo nghề nghiệp của người lao động ngày càng cao hơn cả

về số lượng và chất lượng do mức thu nhập ngày càng cao, do chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, do q trình đơ thị hố ngày càng mạnh mẽ, do sự xuất hiện của những ngành, nghề

mới,…

Thứ tư, sự phát triển nguồn nhân lực cần đáp ứng yêu cầu phát triển cân bằng

hơn giữa các vùng miền, xuất phát từ yêu cầu giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an

ninh, quốc phòng để phát triển đất nước.

Từ bối cảnh quốc tế, phát triển nguồn nhân lực đang đứng trước những yêu cầu:

Thứ nhất, Việt Nam phải có đủ nhân lực để có khả năng tham gia vào quá trình

vận hành của các chuỗi giá trị toàn cầu trong xu thế các tập đoàn xuyên quốc gia có

ảnh hưởng ngày càng lớn.

Thứ hai, nguồn nhân lực phải có năng lực thích ứng với tình trạng nguồn tài

nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm và sự sụt giảm các nguồn đầu tư tài chính (do

tác động và hậu quả của khủng hoảng kinh tế thế giới); có khả năng đề ra các giải pháp

gia tăng cơ hội phát triển trong điều kiện thay đổi nhanh chóng của các thế hệ công

nghệ, tương quan sức mạnh kinh tế giữa các khu vực.

19



Thứ ba, nhân lực nước ta phải được đào tạo để có khả năng tham gia lao động ở

nước ngồi do tình trạng thiếu lao động ở nhiều quốc gia phát triển để phát huy lợi thế

của thời kỳ dân số vàng; đồng thời có đủ năng lực để tham gia với cộng đồng quốc tế

giải quyết những vấn đề mang tính tồn cầu và khu vực.

2.2.2. Khuyến khích và sử dụng nguồn vốn đầu tư có hiệu quả

Vốn đầu tư là yếu tố trực tiếp quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế, đồng thời

cũng là một trong những yếu tố liên quan đến chất lượng tăng trưởng, đến lạm phát,

đến ổn định kinh tế vĩ mô

Thị trường vốn Việt Nam đang hội nhập sâu rộng trong khu vực khi Cộng đồng

Kinh tế ASEAN (AEC) hình thành.

Thực tiễn những năm qua cho thấy, đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước vào các

chương trình, dự án có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội, tạo động

lực thúc đẩy phát triển đất nước.

Tính đến hết năm 2016, cả nước có 22.509 dự án còn hiệu lực với tổng vốn

đăng ký đạt gần 293,25 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án FDI đạt hơn

154,54 tỷ USD (bằng gần 53% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực). Khu vực FDI đã đầu tư

vào 19 trong tổng số 21 ngành, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến và chế tạo

chiếm tỷ trọng lớn nhất (58,8% tổng vốn đăng ký), kinh doanh bất động sản đứng thứ

hai (17,7% tổng vốn đăng ký). Có 116 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt

Nam, trong đó Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 5.747 dự án còn hiệu lực, tổng vốn

đăng ký hơn 50,7 tỷ USD (chiếm 17,3% tổng vốn đầu tư); đứng thứ 2 là Nhật Bản với

3.280 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 42 tỷ USD (chiếm 14,3% tổng vốn

đầu tư).

Đến nay, FDI đã có mặt tại 63 tỉnh, thành phố trên cả nước, trong đó tập trung

chủ yếu tại các địa bàn trọng điểm, có lợi thế. Xếp theo quy mơ vốn, thành phố Hồ Chí

Minh dẫn đầu với 6.737 dự án còn hiệu lực, vốn đăng ký hơn 44,82 tỷ USD, chiếm

15,3% tổng vốn đăng ký cả nước; thứ hai là Bà Rịa - Vũng Tàu với 342 dự án, vốn

đăng ký 26,86 tỷ USD, chiếm 9,2%; thứ ba là Bình Dương với 3.035 dự án, vốn đăng

ký 26,96 tỷ USD, chiếm 9,1%(7).

Đầu tư sử dụng nguồn vốn tác động sâu sắc đến rất nhiều mặt của đời sống

kinh tế - xã hội, do vậy, cần có cách tiếp cận tồn diện và bao quát để xem xét, đánh

giá về hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư sử dụng nguồn vốn nhà nước.

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜ NG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×