Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Theo thống kê lao động việc làm hàng năm của Bộ LĐ – TB và XH thì lao động

chưa qua đào tạo không bằng, không chứng chỉ là những người tuy chưa qua một

trường lớp đào tạo nhưng do tự học, do được truyền nghề hoặc vừa làm vừa học nên

họ đã có được kỹ năng, tay nghề tương đương với bậc của lao động đã qua đào tạo

có bằng cùng nghề và thực tế đã làm công việc đang làm từ 3 năm trở lên.

Theo tổ chức lao động quốc tế lao động khơng có nghề: Là loại lao động mà

khi ra nước ngoài làm việc chưa được đào tạo một loại nghề nào cả. Loại lao động

này thích hợp với những cơng việc đơn giản, khơng cần trình độ chun mơn hoặc

phía nước ngồi cần phải tiến hành đào tạo cho mục đích của mình trước khi đưa

vào sử dụng.

Như vậy, ngược lại với lao động đã qua đào tạo nghề thì lao động chưa qua

đào tạo nghề là lao động chưa được đào tạo qua một trường lớp hay tổ chức nào.

d) Sức lao động

Sức lao động là phạm trù chỉ khả năng lao động của con người, là tập hợp thể

lực và trí lực của con người được con người vận dụng trong quá trình lao động

(Nguyễn Mậu Dũng, 2011).

Sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ

thể, trong một con người đang sống và được đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất một

giá trị thặng dư nào đó (Vũ Anh Tuấn và Phạm Đức Hạnh, 2005).

Như vậy, sức lao động là thể lực và trí lực của con người. Tồn tại trong cơ thể

sống, được con người vận dụng trong quá trình lao động.

e) Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò

của yếu tố con người trong quá trình phát triển. Nguồn nhân lực không chỉ bao hàm

những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, cũng khơng chỉ bao hàm

mặt chất lượng mà còn chứa đựng những hàm ý rộng lớn hơn, có thể nói 1 cách

tổng quát nguồn nhân lực chính là nguồn lực về con người, được hình thành từ cơ

sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau đạt được những

mục tiêu nhất định trong một đơn vị, tổ chức hay một quốc gia.

Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một

địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị sẵn sàng tham gia một cơng việc lao

động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng bằng con đường đáp ứng



được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng

CNH, HĐH (Phạm Minh Hạc, 2007).

g) Lực lượng lao động

Lực lượng lao động là số người trong độ tuổi lao động đang làm việc hoặc

chưa có việc làm nhưng đang có nhu cầu và đang tìm kiếm việc làm. Lực lượng lao

động, nhất là nguồn lao động và chất lượng nguồn lao động có vai trò như nhân tố

hàng đầu của những nhân tố quan trọng nhất trong phát triển kinh tế xã hội (Vũ Anh

Tuấn và Phạm Đức Hạnh, 2005).

h) Thị trường lao động

Thị trường lao động là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu hay nó là tập hợp các dàn

xếp mà thơng qua đó người mua và người bán có thể trao đổi, mua bán các sản

phẩm hàng hóa, dịch vụ (Nguyễn Mậu Dũng, 2007).

Thị trường lao động là thị trường trong đó tiền cơng, tiền lương và các điều

kiện lao động được xác định dựa trên cơ sở quan hệ cung cầu lao động (từ điển

Kinh tế học).

Cầu lao động: là lượng lao động mà người thuê ở mỗi mức giá có thể chấp

nhận được. Nó mơ tả tồn bộ hành vi người mua có thể mua được hàng hóa sức lao

động ở mỗi mức giá hoặc ở tất cả các mức giá có thể đặt ra.

Cung lao động: là lượng lao động mà người làm thuê có thể chấp nhận được ở

mỗi mức giá nhất định. Giống như cầu và lượng cầu, đường cung lao động mơ tả

tồn bộ hành vi của người đi làm thuê khi thỏa thuận ở các mức giá đặt ra. Cung lao

động có quan hệ tỷ lệ thuận với giá cả. Khi giá cả tăng thì lượng cung lao động tăng

và ngược lại.

i) Giá cả lao động

Giá cả sức lao động là biểu hiện bằng tiền của sức lao động. Nó liên quan

chặt chẽ và có ảnh hưởng chủ yếu đến cung cầu của lao động, nó được xác định

khơng chỉ bởi giá trị sức lao động mà còn phụ thuộc vào trạng thái cân bằng giữ

cung và cầu lao động trên thị trường (Nguyễn Mậu Dũng, 2011).

Giá cả lao động (gọi một cách chính xác là giá cả của hàng hóa sức lao động)

là toàn bộ số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động phù

hợp với lượng giá trị sức lao động mà người đó đã cống hiến, phù hợp với cung cầu

về lao động trên thị trường lao động. Toàn bộ số lượng tiền tệ nói đến ở đây là sự



thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động. Đó là tiền lương danh

nghĩa. Lượng tiền này chưa phản ánh mức sống của người lao động vì còn phụ

thuộc vào yếu tố giá cả tại thời điểm và khu vực mà người đó tiêu dùng. Số lượng

tư liệu sinh hoạt và dịch vụ mà người lao động có thể trao đổi từ số lượng tiền có

thể sử dụng là tiền lương thực tế. Khi đó mức sống của người lao động được đánh

giá thông qua tiền lương thực tế (Vũ Anh Tuấn và Phạm Đức Hạnh, 2005).

2.1.1.2 Xuất khẩu lao động

Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung

ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có

tính chất pháp quy được hai bên cơng nhận và đồng ý (Lê Văn Tùng, 2009).

Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung

ứng lao động cho một quốc gia trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính

chất hợp pháp quy định được sự thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận người

lao động (ILO, 1971).

Theo Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, người lao động

đi làm việc ở nước ngoài là cơng dân Việt Nam cư trú tại nước ngồi, có đủ các điều

kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người

lao động đi làm việc ở nước ngoài.

2.1.1.3 Đánh giá tác động

a) Đánh giá

Đánh giá là quá trình đánh giá một cách có hệ thống và khách quan một dự

án, chương trình hoặc một chính sách đang được thực hiện hoặc đã hoàn thành từ

giai đoạn thiết kế đến triển khai và các kết quả đạt được. Mục đích của việc đánh

giá là để xác định tính phù hợp và mức độ hồn thành các mục tiêu, tính hiệu quả,

tác động và tính bền vững. Quá trình đánh giá cần cung cấp thơng tin đáng tin cậy

và hữu ích, cho phép lồng ghép những bài học kinh nghiệm vào quá trình ra quyết

định của các nhà tài trợ và đối tượng tiếp nhận tài trợ. (Tổ chức xã hội dân sự thế

giới, 2007).

b) Tác động

Tác động là những hệ quả lâu dài của dự án, chương trình hay hoạt động có

thể là ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực. Tác động đến đời sống người dân là những

ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân có thể là cải thiện đời sống hay có khi là



hạn chế mức sống của người dân sau khi có chương trình hay một dự án nào đó

theo tổ chức xã hội dân sự thế giới (Tổ chức xã hội dân sự thế giới CIVICUS,

2007).

2.1.2 Đặc điểm và vai trò của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân

2.1.2.1 Các hình thức xuất khẩu lao động

Ngày 17/03/2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 8/2003/NĐ – CP quy

định chi tiết về việc đưa người Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Tại

điều 3 khoản 2 Nghị định này quy định rõ các hình thức đưa người lao động Việt

Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngồi, trong đó bao gồm các hình thức cơ bản

sau:

a) Thơng qua doanh nghiệp Việt Nam được cung ứng lao động theo các hợp đồng

được ký kết với bên nước ngoài

Nội dung: Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động sẽ tuyển lao động Việt Nam

đi làm việc ở nước ngoài theo các hợp đồng cung ứng lao động.

Các doanh nghiệp tự mình đảm nhiệm tất cả các khâu từ tuyển chọn đến đào

tạo đến đưa đi và quản lý lao động ở nước ngoài.

Các yêu cầu về tổ chức lao động do phía nước tiếp nhận đặt ra.

Quan hệ lao động được điều chỉnh bởi pháp luật của nước tiếp nhận.

Quá trình làm việc là ở nước ngoài người lao động chịu sự quản lý trực tiếp

của người sử dụng lao động nước ngoài.

Quyền và nghĩa vụ của người lao động do phía nước ngồi bảo đảm.

b) Thơng qua doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, khoán cơng trình hoặc đầu tư ở

nước ngoài

Nội dung: Các doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận khoán cơng trình ở

nước ngồi hoặc đầu tư dưới hình thức liên doanh liên kết chia sẻ sản phẩm hoặc

các hình thức đầu tư khác. Hình thức này chưa phổ biến nhưng sẽ phát triển trong

tương lai cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.

Đặc điểm của hình thức này: Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam

sẽ tuyển chọn lao động Việt Nam thực hiện các hợp đồng kinh tế, hợp đồng liên

doanh – liên kết giữa Việt Nam và nước ngoài.



Các yêu cầu về tổ chức lao động, điều kiện lao động do doanh nghiệp xuất

khẩu lao động Việt Nam đặt ra.

Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam có thể trực tiếp tuyển dụng

lao động hoặc thông qua các tổ chức cung ứng lao động trong nước.

Doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam trực tiếp đưa lao động đi nước

ngoài, quản lý lao động ở nước ngoài cũng như đảm bảo các quyền lợi của người

lao động ở nước ngồi. Vì vậy quan hệ lao động tương đối ổn định.

Cả người sử dụng lao động Việt Nam và lao động Việt Nam đều phải tuân thủ

theo quy định của pháp luật, phong tục tập quán của nước ngoài.

c) Theo hợp đồng lao động do cá nhân người lao động trực tiếp ký kết với người sử

dụng lao động ở nước ngồi (gọi là hợp đồng cá nhân)

Hình thức này ở Việt Nam còn ít vì nó đòi hỏi người lao động phải có trình độ

học vấn, ngoại ngữ tốt, giao tiếp rộng. Khi tham gia xuất khẩu theo hình thức này

người lao động cần phải tìm hiểu rõ các thơng tin về đối tác, điều này gây khó khăn,

trở ngại lớn nhất cho người lao động. Trong thực tế cũng có những yêu cầu chỉ cần

người lao động đơn giản, khơng đòi hỏi kiến thức giao tiếp và trình độ học vấn.

d) Xuất khẩu lao động thông qua hợp đồng tu nghiệp sinh, thực tập sinh

Hình thức này khi nhận lao động thường núp dưới bóng tu nghiệp sinh hoặc

thực tập sinh, theo nguyên lý thì các học viên đang học chuyên môn kỹ thuật tại các

trường sang tu nghiệp, lao động thực tế trong thời hạn nhất định, với mức thu nhập,

thù lao theo thỏa thuận không theo mức lương nước bản địa cũng như các chế độ

lao động khác, tuy nhiên một số nước đã lợi dụng con đường này để tiếp nhận lao

động và được hiểu là XKLĐ vì quyền lợi của người lao động do hai bên thỏa thuận

phù hợp với người lao động (hiện tại Nhật Bản đang áp dụng hình thức này nhiều

nhất).

Ngồi những hình thức đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngồi,

hình thức XKLĐ tại chỗ cũng đang trở nên phổ biến ở Việt Nam. Thông qua các tổ

chức kinh tế của Việt Nam người lao động được cung ứng cho các tổ chức kinh tế

nước ngoài dưới những hình thức:

Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi.

Các khu chế xuất, khu cơng nghiệp.

Các tổ chức, cơ quan ngoại giao tại Việt Nam.



2.1.2.2 Đặc điểm của xuất khẩu lao động

a) Xuất khẩu lao động mang tính tất yếu khách quan

Xuất khẩu lao động diễn ra chủ yếu là do giữa các nước trên thế giới có sự

chênh lệch về kinh tế - xã hội. Những nước giàu có nền kinh tế phát triển mạnh

thường có nhiều lao động có tay nghề cao, nhiều chuyên gia giỏi có trình độ cao mà

lại thiếu những lao động phổ thông, lao động cho những công việc vất vả nặng

nhọc, độc hại hoặc những cơng việc có thu nhập tương đối thấp so với thu nhập

chung của xã hội. Điều ngược lại diễn ra tại những quốc gia nghèo đang phát triển,

nơi mà dân số đông nên rất dồi dào về lao động song do nền kinh tế chậm phát triển

nên trình độ lao động còn thấp chủ yếu là lao động đơn giản thủ cơng là chính cộng

thêm với mức thu nhập thấp, thiếu việc làm, thiếu những chuyên gia giỏi trình độ

chun mơn kỹ thuật cao. Cũng tương tự như quy tắc hai bình thơng nhau trong vật

lý. Vậy điều đương nhiên sẽ xảy ra là lao động từ chỗ dư thừa sẽ chảy về chỗ thiếu

hụt. Đó cũng chính là nguyên lý chính của quy luật cung – cầu trong nền kinh tế thị

trường (Trần Thị Lý, 2015).

b) Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế nhập khẩu đặc biệt

Trong hoạt động xuất khẩu lao động, người lao động sẽ đem bán sức lao động

của mình cho chủ sử dụng lao động ở nước ngồi và nhận về khoản tiền công là tiền

lương được trả. Chính vì sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt nên tính chất

của xuất khẩu lao động khơng chỉ đơn thuần như hoạt động xuất nhập khẩu hàng

hóa thơng thường, tranh chấp về hàng hóa giữa các nước đã là một việc khó giải

quyết bao nhiêu thì tranh chấp và những phạm vi trong việc xuất khẩu lao động

giữa các nước lại càng khó giải quyết và xử lý hơn rất nhiều. Bởi đó mà đòi hỏi phải

có sự quản lý và quan tâm của đặc biệt của Nhà nước (Trần Thị Lý, 2015).

c) Xuất khẩu lao động mang lại lợi ích cao

Đối với quốc gia hoạt động xuất khẩu lao động mang lại một khoản thu cho

ngân sách nhờ khoản thuế thu từ hoạt động của công ty, doanh nghiệp xuất khẩu lao

động và khoản thu ngoại tệ người lao động gửi về nước. Hơn nữa, đối với quốc gia

xuất khẩu lao động còn giúp giải quyết việc làm, giảm thiểu thất nghiệp, thông qua

xuất khẩu đẩy nhanh được tiến trình phát triển đất nước và mở rộng quan hệ quốc

tế.

Đối với các doanh nghiệp công ty xuất khẩu lao động: Hoạt động xuất khẩu

mang lại lợi nhuận trước hết cho các nhân viên của doanh nghiệp nhờ vào các



khoản thu từ chi phí đưa người đi lao động làm việc ở nước ngồi như phí mơi giới,

phí đào tạo sau đó là mang lợi ích cho chủ doanh nghiệp nhờ khoản thu được từ

hoạt động của doanh nghiệp.

Đối với các đối tượng đi xuất khẩu lao động và người thân: khoản lợi ích mà

họ nhận được chính là khoản tiền lương họ được nhận và gửi về nước cho người

thân. Khoản tiền đó còn có thể trở thành khoản vốn đầu tư cho những người lao

động sau khi họ trở về nước, giúp họ làm giàu và cải thiện cuộc sống của bản thân

và gia đình. Một lợi ích vơ hình nữa mà họ nhận được từ việc đi xuất khẩu lao động

đó là nâng cao trình độ tay nghề, ý thức lao động kỷ luật cho bản thân họ điều mà ở

trong nước không thể có được (Trần Thị Lý, 2015).

d) Xuất khẩu lao động ngày càng diễn ra có tính cạnh tranh gay gắt

Cũng giống như mọi hoạt động kinh tế khác, hoạt động xuất khẩu lao động

cũng được đặt ra trong một môi trường cạnh tranh gay gắt. Sự cạnh tranh trước hết

là từ phía những người lao động với nhau. Bởi số lượng lao động được chọn đi xuất

khẩu lao động sang các nước là có hạn mà dân số đơng, nguồn lao động dư thừa lớn

nên họ phải cạnh tranh nhau trên con đường đi đến việc có được một suất đi lao

động nước ngồi.

Sự cạnh trên khơng chỉ diễn ra giữa những người lao động mà còn giữa các

doanh nghiệp xuất khẩu lao động, họ phải cạnh tranh khi cùng xuất khẩu vào một

thị trường, khi cùng hoạt động trên cùng một địa bàn.

Xuất khẩu lao động là hoạt động có tính rộng rãi trên tồn thế giới

Nói đến xuất khẩu lao động có thể người ta chỉ nghĩ rằng việc làm đó chỉ

dành cho các quốc gia đang và kém phát triển, nơi mà nguồn lao động dồi dào dẫn

đến dư thừa, còn các quốc gia phát triển chỉ là nước tiếp nhận lao động. Song thực

tế không phải như vậy, hoạt động xuất khẩu lao động lại diễn ra hầu hết trên các

nước kể cả các nước đang phát triển. Đối với các nước có nền kinh tế phát triển họ

xuất khẩu lao động của mình sang các nước phát triển khác để làm việc hoặc tới các

quốc gia đang và kém phát triển thông qua các chương trình, dự án đầu tư. Đặc

điểm nổi bật của hoạt động xuất khẩu lao động ở các nước phát triển là lao động

xuất khẩu của họ là lao động chất xám có chất lượng cao, trình độ tay nghề cao, còn

các nước đang và kém phát triển thì hầu hết là lao động giản đơn, không lành nghề

(Trần Thị Lý, 2015).

e) Xuất khẩu lao động phụ thuộc nhiều vào chính sách của quốc gia



Xuất khẩu lao động là một hoạt động có liên quan đến mối quan hệ hợp tác

giữa các quốc gia với nhau, bởi thế chính sách của mỗi quốc gia có liên quan mật

thiết đến hoạt động xuất khẩu lao động. Chính sách, pháp luật của quốc gia đưa lao

động của các nước đó là điều đương nhiên vì nó quyết định đến sự khuyến khích

hay hạn chế của hoạt động xuất khẩu lao động nhưng chính sách, pháp luật của

quốc gia tiếp nhận lao động cũng có ảnh hưởng rất lớn đến họat động xuất khẩu lao

động, ví dụ một quốc gia đưa ra chính sách hạn chế lượng người nước ngồi nhập

cư thì ngay lập tức sẽ hạn chế hoạt động xuất khẩu lao động của các quốc gia có lao

động đi làm việc tại nước đó và ngược lại (Trần Thị Lý, 2015).

2.1.2.3 Vai trò của xuất khẩu lao động

Đối với Việt Nam việc xuất khẩu lao động có vai trò quan trọng về cả kinh tế

và xã hội. Chúng ta đang phải đối mặt với tình trạng gia tăng dân số, đồng nghĩa với

việc tăng nguồn lao động trong khi phát triển việc làm ở trong và ngồi nước còn

hạn chế. Vì thế XKLĐ là hướng giải quyết đúng đắn trong giai đoạn này và có ý

nghĩa vơ cùng quan trọng có nêu lên một số vấn đề sau:

Xuất khẩu lao động làm gia tăng thu nhập cho người lao động góp phần vào

cơng cuộc xóa đói giảm nghèo ở địa phương. Thu nhập là mục tiêu hàng đầu của

người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngồi. Thu nhập của người lao động

có xu hướng tăng lên hàng năm trên cơ sở năng xuất lao động của họ. Với con số

ngoại tệ gửi về nước mỗi năm lên đến 1,5 tỷ USD xuất khẩu lao động ở Việt Nam

đã trở thành một trong những ngành nghề mang lại nguồn thu ngoại tệ cao cho quốc

gia. Không dừng lại ở đó, xuất khẩu lao động còn góp phần làm tăng thu ngân sách

nhà nước nhờ có những khoản thuế thu từ hoạt động của các doanh nghiệp xuất

khẩu lao động và từ khoản ngoại tệ lao động gửi về nước. Như vậy, xuất khẩu lao

động vừa trực tiếp lẫn gián tiếp góp phần thúc đẩy sự phát triển và ổn định xã

hội..Khơng những thế, xuất khẩu lao động còn góp phần tăng ngân sách nhà nước từ

các hoạt động của các doanh nghiệp XKLĐ và từ khoản ngoại tệ lao động gửi về

nước. Như thế XKLĐ vừa trực tiếp vừa gián tiếp góp phần thức đẩy, ổn định kinh tế

xã hội và thực sự là một giải pháp hữu hiệu cho cơng cuộc xóa đói giảm nghèo, tăng

thu nhập cho hộ dân, tạo ra những chuyển biến cơ bản làm thay đổi bộ mặt nông

thôn, nâng cao mức sống cho nhiều hộ dân.

Xuất khẩu lao động có vai trò quan trọng trong việc giải quyết việc

làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp ổn định lại thị trường lao động. Đối với những quốc gia



có nền kinh tế chưa phát triển thì việc thất nghiệp, giải quyết việc làm cho người lao

động rất hạn chế và khó khăn, tạo ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng với nền kinh tế - xã

hội. Chính vì thế thất nghiệp và giải quyết việc làm ln là vấn đề nhạy cảm của các

nhà lãnh đạo mỗi quốc gia.

Xuất khẩu lao động giúp nâng cao tay nghề, trình độ chun mơn và giúp lao

động được tiếp cận với nhiều cơng nghệ, máy móc hiện đại hơn. Sự yêu cầu khắt

khe, hiệu quả công việc và năng suất của nước ngồi đã gây nên sức ép khơng nhỏ

đối mới mỗi lao động, chính vì thế khi làm việc tại nước ngồi những kỷ năng, kiến

thức và trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thức tế và nhận thức của lao động cũng

được nâng lên. Thơng qua đó quốc gia có lao động đi xuất khẩu lao động sau khi về

nước sẽ có được một đội ngũ lao động có tay nghề trình độ cao, có tác phong cơng

nghiệp và ý thức kỹ luật cao hơn.

Chính vì thế cơng tác xuất khẩu lao động có một vai trò rất lớn đối với mỗi

quốc gia bởi vậy Đảng và Nhà nước ta luôn xác định đây là một trong những công

tác trọng điểm mang tính chiến lược cho quốc gia trong thời gian tới (Trần Thị

Ninh, 2010).

2.1.3 Nội dung tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống kinh tế - xã hội

của người dân xã Xuân Hồng

2.1.3.1 Tác động đến quá trình sản xuất

a. Nguồn lực sản xuất của hộ

(1) Nguồn lực đất đai

Đất đai là yếu tố thiết yếu và quan trọng không thể thay thế được trong quá

trình sản xuất nơng nghiệp, đồng thời đất đai cũng là yếu tố phản ánh sự quan tâm

đầu tư cho hoạt các hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân hay khơng. Diện

tích đất đai và mức độ đầu tư thâm canh phản ảnh lên được tầm quan trọng sản xuất

nơng nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế của hộ. Nhưng hiện nay xu thế của

các hộ gia đình khi có một số vốn nhất định nào đó sẽ tìm kiếm một cơng việc khác

thoát ly khỏi sản xuất nơng nghiệp nên diện tích đất các hộ dùng để sản xuất nơng

nghiệp sẽ có xu thế giảm so với trước đây.

(2) Nguồn lực lao động

Đa số phần lớn những lao động sau khi đi xuất khẩu về nước họ sẽ được bổ

sung thêm nhiều kiến thức mới về công việc và giao tiếp xã hội cũng như những



suy nghĩ tân tiến hơn từ đó tạo ra những điều kiện thuận lợi cho lao động sau khi về

nước sẽ tìm được những cơng việc mới một cách dễ dàng. Song song với điều đó,

những lao động sau khi đi xuất khẩu sẽ có một số vốn nhất định và họ thường có xu

thế lựa chọn những cơng việc nhẹ nhàng bớt vất vả hơn và mang tính ổn định cao

như các cơng việc tại cơ quan, xí nghiệp. Chính vì thế lao động sau khi đi xuất khẩu

về thường năng động và dễ dàng phát triển kinh tế hơn. Bên cạnh đó cũng có những

lao động họ ỉ vào số tiền họ kiếm được ở nước ngoài, mang theo mình suy nghĩ

từng đấy tiền sẽ đủ sống khơng cần phải làm thêm gì nữa, họ rơi vào tâm lý thích

nghỉ ngơi, hưởng thụ dẫn đến những hậu quả, ảnh hưởng xấu đến gia đình của họ,

cũng như con cái của họ sau này.

(3) Nguồn lực tài chính

Mức độ đầu tư vào các trang thiết bị và máy móc cũng được các hộ gia đình

chú trọng hơn khi có người đi xuất khẩu lao động. Số vốn tích lũy được trong

khoảng thời gian lao động tại nước ngoài sẽ được các hộ sử dụng vào các mục đích

khác nhau như: mua sắm trang thiết bị, xe máy, ô tô, xây sửa nhà cửa, đầu tư sản

xuất, mua sắm trang thiết bị cho sản xuất. Sự đầu tư này làm cho hộ thay đổi về

những thói quen lạc hậu, thiếu năng suất mà chuyển qua là những suy nghĩ tân tiến

hơn, giúp hộ đạt hiệu quả kinh tế cao hơn trong sản xuất so với trước đây.

b. Ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh

(1) Tình hình đầu tư cho sản xuất

Xuất khẩu lao động là cách để các lao động tích lũy một số vốn căn bản để

sau khi hết thời gian lao động ở nước ngồi có thể tự tạo một việc làm mới cho

mình bằng nhiều cách khác nhau như: dùng số vốn đã có đầu tư vào hoạt động sản

xuất nông nghiệp hay sử dụng mở xưởng sản xuất, mở cửa hàng kinh doanh. Đây là

cơ sở để phát triển sản xuất, là nền tảng cho việc nâng cao thu nhập cho bản thân và

gia đình sau khi kết thúc thời gian lao động.

(2) Ảnh hưởng đến kết quả - hiệu quả sản xuất

Nguồn lợi về kinh tế của công tác xuất khẩu là rất lớn tạo ra những chuyển

biến cơ bản làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nâng cao mức sống cho nhiều gia đình

nơng dân. Một nghiên cứu tại Thái Bình do tổ chức Health Berdge Canada và Trung

tâm Nghiên cứu Phụ nữ thực hiện mới đây cho thấy, 73% gia đình có người đi làm

việc tại nước ngoài cải thiện đáng kể đời sống kinh tế, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt,

chất lượng cuộc sống được nâng lên. Thực tế, trước khi đi xuất khẩu lao động, thu



nhập của các hộ gia đình rất thấp, chủ yếu trong khoảng 5 - 10 triệu đồng/năm, khá

hơn một chút là đến dưới 15 triệu đồng/năm. Rất ít hộ có thu nhập một năm 30 triệu

đồng, còn trên 50 triệu đồng thì hầu như khơng có. Khi đi xuất khẩu lao động, thu

nhập của người lao động đã tăng lên đáng kể, khoảng từ 6 - 10 lần so với thu nhập

cũ. Có tới gần nửa số hộ đi xuất khẩu lao động thu nhập từ 100 - 150 triệu

đồng/năm và trên 150 triệu đồng/năm. Cùng với mức thu nhập cao, các hộ gia đình

có thêm nguồn vốn đầu tư sản xuất kinh doanh buôn bán, phát triển tiểu thủ công

nghiệp khôi phục nghề truyền thống tạo thêm nhiều việc làm mới giải quyết công

ăn việc làm cho lao động gia đình và đia phương.

2.1.3.2 Tác động đến đời sống kinh tế của hộ

a) Thu nhập và chi tiêu của hộ

(1) Thu nhập

Thu nhập là yếu tố quan trọng quyết định cho cuộc sống của người lao động.

Với một xã thuần nơng thì thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, vấn đề

được mùa mất giá là sức ép vô cùng lớn đối với người dân. Hiểu rõ vấn đề đó nên

chính quyền địa phương luôn chú trọng tuyên truyền giúp đỡ người lao động tham

gia XKLĐ. Từ hoạt động xuất khẩu mà thu nhập của hộ tăng lên đáng kể so với

trước.

(2) Chi tiêu

Với nguồn thu nhập tăng cao, kéo theo đó mức sống của hộ cũng được tăng

lên. Được thể hiện rõ qua việc chi tiêu trong cuộc sống hằng ngày của hộ. Nếu như

trước đây ăn chỉ để no thì bây giờ được hộ dân chú trọng quan tâm đến việc ăn uống

làm sao cho khoa học, đảm bảo an toàn vệ sinh. Cũng như quần áo dầy dép chỉ biết

mặc làm sao cho đủ ấm thì hiện tại cũng được chú trọng về vẻ đẹp hơn.

b) Đời sống sinh hoạt của hộ

So với trước đây kinh tế gia đình đã trở nên khá hơn kéo theo đó mức sống

cũng thay đổi tốt hơn. Đời sống an nhàn, con người biết cách hưởng thụ cuộc sống

hơn. Quan tâm đến sức khỏe, biết cách làm cho tinh thần thoải mái hơn bằng việc

nâng cao các hoạt động du lịch, giải trí.

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đến đời

sống của người dân

2.1.4.1 Các yếu tố của hộ có người đi xuất khẩu lao động



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×