Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
27 Tình trạng tệ nạn xã hội trên địa bàn xã

27 Tình trạng tệ nạn xã hội trên địa bàn xã

Tải bản đầy đủ - 0trang

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT

Việt Nam là nước đang phát triển có dân số đứng thứ 13 trên thế giới với 90,5

triệu người, hằng năm với mức tăng trung bình khoảng 1 triệu người, là nước có lợi

thế về sức lao động. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng tồn cầu

hóa, Việt Nam đang có nhiều cơ hội phát huy lợi thế nguồn nhân lực, trao đổi hàng

hóa “sức lao động”. Mặt khác, trong điều kiện đất nước ta hiện nay, hơn 70% lao

động sống ở nơng thơn, trình độ chun mơn tay nghề thấp, tiền công sức lao động

rẻ, sức ép việc làm lớn, mỗi năm có khoảng 2,45% người dân cần việc làm. Chính

vì vậy, xuất khẩu lao động khơng những là chủ trương lớn của đảng và nhà nước,

mà còn là chiến lược quan trọng lâu dài góp phần giải quyết việc làm cho số người

đến độ tuổi lao động, giảm thiểu gánh nặng của quốc gia. Do đó, xuất khẩu lao động

trở thành vấn đề cấp thiết có nội dung kinh tế - xã hội sâu sắc và liên quan chặt chẽ

với các yếu tố kinh tế khác trong định hướng phát triển kinh tế quốc gia (Trần Thị

Lý, 2015).

Xuất khẩu lao động của nước ta bắt đầu từ những năm 1980 thơng qua hình

thức đưa lao động sang các nước xã hội chủ nghĩa làm việc theo Hiệp định hợp tác

quốc tế về lao động. Từ năm 1991 đến nay, xuất khẩu lao động đã được chuyển dần

theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hằng năm số lượng lao động được đưa đi đều tăng lên và hiệu quả năm sau đều đạt

cao hơn năm trước, hiện nay có khoảng hơn 500 ngàn lao động làm việc ở 41 nước

và vùng lãnh thổ (Trần Thị Lý, 2015). Xuất khẩu lao động đối với nước ta đã thực

sự trở thành một giải pháp hữu hiệu đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo và cải

thiện đời sống cho 1 số bộ phận người lao động, đặc biệt ở khu vực nông thôn.

Nguồn lợi kinh tế của công tác xuất khẩu lao động là rất lớn đã tạo ra những chuyển

biến làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nâng cao mức sống của nhiều hộ gia đình nơng

dân.

Xã Xn Hồng, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh trong những năm qua, cấp

đảng ủy chính quyền địa phương coi xuất khẩu lao động là một trong những nhiệm

vụ quan trọng góp phần phát triển nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho

người lao động, làm giàu chính đáng, tăng nguồn thu ngoại tệ và cũng là một trong

những biện pháp xóa đói giảm nghèo, góp phần khơng nhỏ thúc đẩy sự phát triển

kinh tế xã hội ở địa phương. Số lao động đi xuất khẩu của xã ngày càng tăng, nhiều



hộ gia đình từ hộ nghèo đã trở nên khá giả hơn, nhà cửa khang trang, mua sắm được

tiện nghi sinh hoạt đắt tiền và có vốn làm ăn ổn định tăng gia sản xuất kinh doanh

nâng cao thu nhập.

Hoạt động xuất khẩu lao động trên địa bàn xã Xuân Hồng đã mang lại nhiều

lợi ích cho đời sống kinh tế và xã hội của người dân một cách rõ rệt. Lượng lao

động đi xuất khẩu của xã tăng dần qua các năm, năm sau cao hơn năm trước. Nhìn

chung một cách tổng quát, xuất khẩu lao động ở xã Xuân Hồng đã giải quyết được

mục tiêu trước mắt là tạo việc làm cho người dân trên địa bàn xã. Hiện nay đã có

gần 400 người đi lao động ở nhiều nước bao gồm: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,

Thái Lan, Angola và khoản tiền mà mỗi người mang về hàng năm khoảng 80 đến

300 triệu đồng. Đây là khoản thu không hề nhỏ với mỗi lao động nông thôn. Nguồn

lợi về kinh tế của hoạt động xuất khẩu lao động đã được khẳng định, tạo ra bước

chuyển biến cơ bản làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nâng cao mức sống cho nhiều

hộ gia đình. Song song với những mặt tích cực của xuất khẩu lao động mang lại thì

nó vẫn gây ra một số hệ lụy đến đời sống của người dân. Xuất phát từ những vấn đề

lí luận và thực tiễn như trên, tơi tiến hành thực hiện đề tài: “Tác động của xuất khẩu

lao động đến đời sống kinh tế và xã hội của người dân trên địa bàn xã Xuân Hồng,

huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh”.

1.2 MỤC TIÊU CHUNG

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống kinh tế xã hội của

người dân trên địa bàn xã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; từ đó đề

xuất một số giải phát nhằm tăng thu nhập và giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của

xuất khẩu lao động đến đời sống kinh tế xã hội của người dân trên địa bàn xã.

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

(1) Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về lao động, xuất khẩu lao

động, đánh giá tác động;

(2) Đánh giá thực trạng xuất khẩu lao động trên địa bàn xã Xuân Hồng, huyện

Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh;

(3) Phân tích tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống kinh tế và xã hội của

người dân trên địa bàn xã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh;



(4) Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu

cực của xuất khẩu lao động đến người dân trên địa bàn xã Xuân Hồng, huyện

Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu là nghiên cứu về tác động của xuất khẩu lao động đến

đời sống kinh tế và xã hội của người dân trước và sau khi có xuất khẩu lao động.

Đối tượng khảo sát là các hộ gia đình có người đi xuất khẩu lao động, các

thành viên trong gia đình có người đi xuất khẩu lao động, người dân và cán bộ tại

địa phương.

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Phạm vi về nội dung

Đề tài tập trung đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống kinh

tế và xã hội của người dân trước và sau khi có người đi xuất khẩu lao động, các hộ

gia đình có người đi và khơng có người đi xuất khẩu lao động.

1.4.2 Phạm vi không gian

Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại xã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân, tỉnh

Hà Tĩnh.

1.4.3 Phạm vi về thời gian

Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 2/ 2018 đến 6/ 2018

Thông tin, số liệu thứ cấp: từ năm 2015 đến năm 2017. Điều tra khảo sát trong

năm 2018



PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Các khái niệm có liên quan

2.1.1.1 Lao động

a) Lao động

Lao động là hoạt động có mục đích của con người, nhằm tạo ra những của cải

vật chất, tinh thần cho xã hội (Từ điển Tiếng Việt, 2007).

Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm làm thay

đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người (Vũ Anh Tuấn

và Phạm Đức Hạnh, 2005).

Như vậy, lao động chính là hoạt động của con người tác động vào giới tự

nhiên, làm biến đổi tự nhiên theo những mục đích nhất định của mình. Con người

có thể dùng sức mạnh cơ bắp hoặc trí tuệ để tác động vào tự nhiên biến chúng thành

có ích cho cuộc sống của mình.

b) Lao động đã qua đào tạo nghề

Theo công văn số 4190 ngày 29/11/2015 của bộ lao động – Thương binh và

xã hội: lao động đã qua đào tạo nghề là những người đã hoàn thành ít nhất một

chương trình đào tạo của một nghề tại cơ sở dạy nghề (gồm cả các cơ sở sản xuất

kinh doanh) và được cấp văn bằng chứng chỉ nghề được thừa nhận theo các kiến

thức hiện hành.

Lao động có nghề là loại lao động trước khi ra nước ngoài làm việc đã được

đào tạo thành thạo một loại nghề nào đó và khi số lao động này ra nước ngồi làm

việc có thể bắt tay ngay vào cơng việc mà khơng phải bỏ ra thời gian và chi phí để

tiến hành đào tạo nữa theo tổ chức lao động quốc tế.

Như vậy, lao động đã qua đào tạo nghề là những lao động đã tham gia ít nhất

một chương trình đào tạo nghề tại cơ sở dạy nghề và có bằng hay chứng chỉ xác

nhận tay nghề của lao động đó.

c) Lao động chưa qua đào tạo nghề

Được hiểu là những người chưa có bất kỳ loại văn bằng chứng chỉ nào và

thực tế cũng không đảm nhận một cơng việc nào đòi hỏi chun mơn kỹ thuật từ 3

năm trở lên hoặc cơng việc đòi hỏi kỹ thuật nhưng kinh nghiệm chưa đủ 3 năm.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

27 Tình trạng tệ nạn xã hội trên địa bàn xã

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×