Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
c) Tác động đến sức khỏe thể trạng của người lao động

c) Tác động đến sức khỏe thể trạng của người lao động

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bảng 4.27 Tình trạng tệ nạn xã hội trên địa bàn xã

STT



Mức độ



Số lượng (người)



Cơ cấu (%)



1



Gia tăng



34



68,00



2



Không thay đổi



9



18,00



3



Giảm sút



7



14,00



Tổng



50



100,00



(Nguồn: Số liệu điều tra, 2018)

Đầu tiên phải kể đến là các quán internet. Bên cạnh mặt tích cực nó mang lại

cho người dân sự giao lưu, mở mang kiến thức đối với thế giới bên ngồi, thì đồng

thời nó cũng mang lại những hạn chế nhất định. Nhiều đối tượng thanh thiếu niên

đã lợi dụng quán internet để chơi đến nửa đêm, thậm chí thâu đêm, bỏ bê việc học.

Theo số liệu phỏng vấn được từ hộ điều tra thì số người vào quán chơi điện tử và

chát chiếm một tỷ lệ rất lớn khoảng 80%. Trong đó có khoảng 40% là thanh thiếu

niên có người nhà đi XKLĐ. Tiếp theo phải kể đến là các quán nhậu. Nó mang lại

sự thuận lợi cho cuộc sống giao lưu bạn bè, tạo sự thoải mái, thuận tiện trong cuộc

sống. Xong các quán xá mở cửa quá khuya hoặc bán nhiều rượu gây ra những hậu

quả khó lường. Qua điều tra khảo sát ý kiến của người dân xã Xuân Hồng, chúng tôi

đã nhận được 79% ý kiến phàn nàn về những ơng chồng có vợ đi XKLĐ và cả con

cái của họ nữa. Họ cho rằng nếu vợ đi XKLĐ thì chồng sẽ trượt dốc và con của họ

sẽ hư hỏng. Những ông chồng lao vào quán nhậu và cờ bạc. Còn con cái thì sẽ theo

bạn bỏ bê học hành. Tạo nên một vấn đề xấu cho xã hội.

Nhìn chung, XKLĐ phát triển đã kéo theo thương mại dịch vụ phát triển,

đồng nghĩa với cuộc sống hiện đại du nhập vào làm thay đổi cuộc sống êm ả của

một vùng nông thôn. Cuộc sống hiện đại làm cho người dân được hưởng thụ chất

lượng cuộc sống cao hơn, đầy đủ hơn. Nhưng tất cả đều phải được quản lý, kiểm

soát chặt chẽ để phát triển theo xu hướng tốt. Ngược lại nếu để phát triển tự phát, tự

do, bản thân thương mại dịch vụ sẽ đem lại những mặt tiêu cực. Nó sẽ tác động trực

tiếp đến thế hệ trẻ gây nên một lối sống buông thả, tự do, đua đòi. Chính điều này là

ngun nhân trực tiếp dẫn đến tình hình mất trật tự an ninh xã hội làm gia tăng các

tệ nạn xã hội trên địa bàn xã.



4.3 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VA GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỂU NHỮNG

TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ĐẾN NGƯỜI

DÂN TRÊN ĐỊA BAN XÃ XUÂN HỒNG, HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HA

TĨNH

4.3.1 Một số định hướng trong phát triển xuất khẩu lao động tại xã Xuân Hồng

4.3.1.1 Về phía cơ quan quản lý nhà nước

Thứ nhất: Trong thời gian tới nhà nước cần phải hoàn thiện hệ thống các văn

bản pháp luật có liên quan đến hoạt động xuất khẩu như: các quy định về thủ tục,

quy trình đăng ký hợp đồng, các chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động, chính sách

cho vay vốn. Nhằm đảm bảo tính đồng bộ và chặt chẽ của các văn bản, chính sách

liên quan đến hoạt động xuất khẩu lao động. Nhà nước cần tạo lập một hệ thống các

chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, xử lý và răn đe những trường hợp vi phạm pháp luật

và quy định về XKLĐ. Nghiên cứu và tìm hiểu kỹ lưỡng pháp luật của các nước

tiếp nhận lao động của ta để có những hướng dẫn văn bản sao cho phù hợp. Cần có

cơ chế xử phạt nghiêm các cá nhân, công ty lừa đảo lao động đi xuất khẩu để tránh

tình trạng người lao động bị mất tiền oan cho các đối tượng này, tránh gây tư tưởng

hoang mang, thiếu lòng tin của người dân cho những tổ chức có uy tín.

Thứ hai: Các lãnh đạo địa phương cần có những biện pháp thông tin tuyên

truyền một cách sâu rộng những quy định pháp luật liên quan đến vấn đề XKLĐ tới

từng người dân để họ nắm vững được pháp luật và hiểu rõ hơn về hoạt động này,

tránh những vi phạm do thiếu hiểu biết gây ra. Các ban ngành nên có những buổi

truyền thông nhằm nâng cao nhận thức cũng như bản lĩnh của người lao động đi

xuất khẩu, tránh tình trạng lao động tự ý nghỉ việc, trốn ra ngoài làm việc. Điều này

làm mất uy tín của nước ta đối với các nước nhập khẩu lao động.

Bên cạnh đó nhà nước cần phải xây dựng những chính sách hỗ trợ người lao

động sau khi người lao động đi xuất khẩu về nước để tránh những hệ lụy sau khi đi

xuất khẩu lao động gây ra cho xã hội, địa phương nơi có xuất khẩu lao động. Những

đối tượng còn có nhu cầu tiếp tục đi xuất khẩu lao động, cần xem xét các yếu tố

khác nhau liên quan đến gia đình của đối tượng để xét xem có nên để lao động tiếp

tục đi nữa hay không, tránh để xảy ra những hậu quả đáng buồn cho người lao động

và gia đình, người thân của lao động. Những chính sách hỗ trợ cho những đối tượng

chính sách, đối tượng nghèo, bộ đội xuất ngũ cũng phải được hoàn thiện hơn nữa.

Đồng thời cũng phải có biện pháp quản lý chặt chẽ nguồn, quỹ hỗ trợ đó sao cho

hợp lý và hiệu quả nhất, tránh gây lãng phí nguồn lực.



Nhà nước cần có những biện quản lý chặt chẽ và chỉ đạo đúng đắn cho công

tác đào tạo nghề, đào tạo giáo dục định hướng cho người lao động trước khi đi làm

việc ở nước ngoài sao cho chất lượng lao động của ta ngày càng được nâng cao hơn

nữa. Quy định các mức phí cần thiết để vừa đảm bảo lợi nhuận cho các cơ sở đào

tạo vừa giảm thiểu chi phí một cách tối đa cho người lao động.

Nhà nước cần có những cơ chế quản lý các cơ sở đưa người lao động ra nước

ngoài một cách cụ thể, tạo điều kiện để các cơ sở và người dân gặp gỡ trực tiếp,

không qua các cầu trung gian vừa tốn tiền của người lao động, vừa gây tâm lý

không tốt cho lao động. Khi các công ty gặp gỡ, tiếp xúc trực tiếp được với lao

động cũng sẽ làm giảm chi phí cho cơng ty nhận xt khẩu lao động.

Tăng cường hơn nữa các công tác kiểm tra, thanh tra cũng như sự phối hợp

chặt chẽ giữa các ban, ngành trong công tác này nhằm hạn chế những tiêu cực và

nâng cao hiệu quả thực sự. Bên cạnh đó, sẽ xây dựng một lộ trình sắp xếp phát triển

các doanh nghiệp xuất khẩu lao động theo định hướng, tiêu chí của Luật người lao

động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đặc biệt là đầu tư phát

triển, tăng cường năng lực cũng như trách nhiệm của các doanh nghiệp trong công

tác XKLĐ.

4.3.2 Giải pháp cho hoạt động xuất khẩu lao động ở xã Xuân Hồng

4.3.2.1 Giải pháp đối với chính quyền địa phương

Một là: Tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại

chúng về tầm quan trọng và ý nghĩa của hoạt động XKLĐ để đào tạo lao động có đủ

năng lực và phẩm chất nhất. Tăng cường tuyên truyền về pháp luật lao động Việt

Nam, các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng đối với công tác XKLĐ để mọi người hiểu

đầy đủ về quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia công tác xuất khẩu lao động. Cũng

như hiểu rõ pháp luật lao động, phong tục tập quán của nước tiếp nhận lao động đến

làm việc để người lao động thực hiện hợp đồng thuận lợi hơn. Đưa xuất khẩu lao

động vào một trong các hoạt động được quan tâm, tạo điều kiện trong thời gian tới

để từng bước phát triển kinh tế xã.

Hai là: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đi XKLĐ lên mức trên 85% bằng

việc đào tạo nghề một cách bài bản phù hợp với nhu cầu việc làm của nước tiếp

nhận. Nâng cao nhận thức của người lao động về ý nghĩa và mục đích XKLĐ, đẩy

mạnh việc dạy ngoại ngữ nhất là ngôn ngữ nước tuyển dụng lao động. Rèn luyện tác

phong chuyên nghiệp, có ý thức tổ chức kỷ luật, trang bị kiến thức về xã hội, văn



hoá, pháp luật, phong tục tập quán, cách sống tự lập, tự quản tài chính và thu nhập,

tự bảo vệ bản thân khi sống và làm việc xa Tổ quốc.

Ba là: Có chính sách hậu XKLĐ hợp lý. Tạo điều kiện 100% cho lao động đi

XKLĐ về nước có cơ hội để phát triển bản thân. Cần có chính sách thoả đáng chăm

lo và quan tâm đến thân nhân và gia đình người lao động để người lao động an tâm

làm việc và chấp hành tốt nội quy, quy định tại nơi làm việc và đồng thời có chính

sách khuyến khích hợp lý như chính sách ưu đãi đất đai, thuế suất, lãi suất nhằm hỗ

trợ và tạo cơ chế cho người lao động về nước có thể sử dụng hiệu quả tay nghề,

kinh nghiệm với số vốn họ kiếm được khi còn làm việc ở nước ngoài.

Bốn là: Trang bị cho cá nhân người đi xuất khẩu lao động cũng như những hộ

gia đình có người đi lao động những kiến thức về xã hội, về cuộc sống, giúp họ

vượt qua được những cám dỗ ở mơi trường xung quanh trong mọi hồn cảnh, đặc

biệt là trong thời gian người thân đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài. Đây cũng là

cách để nâng cao bản lĩnh của mỗi con người, giúp họ vượt qua quãng thời gian

thiếu thốn tình cảm khi người nhà tham gia xuất khẩu lao động, tạo cơ hội cho các

gia đình có cuộc sống bền chặt, hạnh phúc sau khi lao động xuất khẩu về nước.

Năm là: Phải có một giải pháp cụ thể hiệu quả nhất tác động trực tiếp đến hộ

gia đình, để cụ thể hóa hơn nữa giải pháp thứ tư là xây dựng những giải pháp can

thiệp hỗ trợ gia đình. Bên cạnh đó thì Hội phụ nữ, Đồn thanh niên, Hội nơng dân

có thêm nhiệm vụ triển khai các hoạt động này. Những người vợ, người chồng được

tư vấn và sẻ chia, cũng như được trang bị kỹ năng để bảo vệ hạnh phúc gia đình, kỹ

năng sử dụng đồng vốn có hiệu quả để phát triển kinh tế gia đình sẽ phần nào hạn

chế những rủi ro do quá trình đi XKLĐ gây ra. Xét ở nhiều góc độ như hiệu quả

kinh tế và tính ổn định, bền vững cho gia đình, giải pháp tốt là nên giảm tỷ lệ phụ

nữ có gia đình đặc biệt phụ nữ có con nhỏ, tham gia XKLĐ. Đề xuất thành lập câu

lạc bộ người có vợ, có chồng đi XKLĐ để cung cấp thơng tin, chia sẻ, hỗ trợ nhau

trong cuộc sống, tổ chức nói chuyện nâng cao nhận thức. Hội phụ nữ có thể tư vấn

quản lý chi tiêu, nuôi dạy con cái, chăm sóc gia đình, cách dùng vốn phát triển kinh

tế, cũng như tổ chức các hiệp hội chăm sóc, giúp đỡ gia đình có phụ nữ đi XKLĐ để

họ n tâm lao động, làm việc tại nước ngoài.

4.3.2.2 Giải pháp đối với hộ gia đình và người lao động

Nhìn chung lực lượng lao động ở xã Xuân Hồng nói riêng và của cả nước nói

chung thì chất lượng lao động còn thấp vậy nên để nâng cao hiệu quả công tác

XKLĐ thì cần có những giải pháp cơ bản đối với người lao động như sau:



Một là: Nâng cao 100% trình độ học vấn thơng qua việc tích cực học tập rèn

luyện trong các nhà trường. Hệ thống giáo dục là nơi không chỉ rèn luyện và trau

dồi học vấn, kiến thức cho người lao động mà còn là nơi ni dưỡng ước mơ, hoài

bão cũng như nâng cao phẩm chất đạo đức, nhân cách cho người lao động do đó

khơng chỉ Nhà nước cần quan tâm chú ý tới công tác này mà bản thân người lao

động cũng cần phải chú ý nhiều hơn nữa đến việc học tập, rèn luyện của bản thân.

Hai là: Nâng cao 80% trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề thông qua

việc tham gia vào các lớp đào tạo nghề. Người lao động cần phải chủ động tham gia

vào các khoá đào tạo nghề này để nâng cao trình độ chun mơn của bản thân mình,

chuẩn bị cho việc đăng ký tuyển dụng, tuyển chọn đi XKLĐ.

Ba là: Nâng cao trình độ ngoại ngữ, ý thức kỷ luật, tác phong chuyên nghiệp

thông qua các lớp học tiếng nước ngồi và các chương trình đào tạo giáo dục định

hướng của các đơn vị XKLĐ tổ chức.

Bốn là: Có nhận thức đúng đắn về hoạt động XKLĐ, tìm hiểu và nắm rõ

những quy định của nhà nước về hoạt động này để xác định rõ ràng rằng mình đi

lao động chứ khơng phải là đi du lịch từ đó có ý thức lao động và tuân thủ kỷ luật

lao động. Nhận thức rõ hơn nữa những hậu quả mình sẽ phải trả giá nếu vi phạm

hợp đồng hoặc pháp luật của Việt Nam và nước sở tại.

Năm là: Cần chủ động tìm hiểu kỹ về những thủ tục cần thiết để chuẩn bị tốt

tránh tự gây ra cho mình những phiền phức khơng đáng có và để đảm bảo tính hợp

pháp cho việc đi XKLĐ của bản thân. Khi trở về nước, người lao động phải thực

hiện tốt những nghĩa vụ khai báo, làm thủ tục cần thiết với cơ quan Nhà nước để

nhập cảnh trở về quê hương. Về với gia đình, người lao động cần phải tích cực tìm

kiếm việc làm cho bản thân và sử dụng hợp lý khoản thu nhập mà bản thân dành

dụm được trong thời gian lao động ở nước ngồi. Tích cực tìm kiếm việc làm để ổn

định cuộc sống chứ khơng có tư tưởng có tiền rồi khơng cần phải làm gì.

Sáu là: Một giải pháp cuối cùng và là giải pháp quan trọng nhất để hạn chế

những hậu quả khơng đáng xảy ra với gia đình của mình là chia tay hay con cái

thiếu sự yêu thương, chăm sóc. Các cặp vợ chồng nên xem xét một cách nghiêm túc

những vấn đề mà gia đình mình có thể mắc phải cũng như sự đánh đổi được mất

trong quan hệ gia đình để từ đó đi đến quyết định nên hay không nên tham gia vào

hoạt động xuất khẩu. Rõ ràng XKLĐ có thể giải quyết những khó khăn, bức bách

về kinh tế, nhưng khơng ít trường hợp phải trả cái giá quá đắt, đó là mất đi sự ổn

định, bền vững của gia đình. Sự tiếp xúc với những nhân tố mới, cộng với thời gian



xa nhau quá lâu sẽ khiến vợ chồng có những khoảng cách mà nếu khơng biết cách

ứng xử thì tan vỡ là chuyện khó tránh khỏi. Nhu cầu sinh lý trong thời gian thiếu

chồng, thiếu vợ, dễ khiến người ta có suy nghĩ và hành động sai lầm dẫn đến rơi

vào hồn cảnh khơng thể quay lại. Bản năng là điều có thật, nhưng bên cạnh bản

năng còn có trách nhiệm với gia đình, con cái. Tốt nhất, trước khi quyết định xa

nhau lâu, vợ chồng nên trao đổi thẳng thắn với nhau về vấn này. Về vấn đề con cái,

người lao động đi xuất khẩu trong một thời gian dài, con cái thiếu vắng tình cảm là

điều rất dễ hiểu. Nghĩa vụ của người ở nhà là phải chăm lo cho con cái thì người đi

xuất khẩu cũng phải thường xuyên gọi điện, hỏi thăm, quan tâm đến con cái để biết

được tình hình của con mình ra sao, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi các

phương tiện liên lạc khơng còn xa lạ với mỗi người. Giải quyết được hết các yêu

cầu trên một cách triệt để thì XKLĐ trong thời gian tới sẽ càng phát triển mạnh mẽ

hơn nữa và những câu chuyện đáng buồn về việc hạnh phúc gia đình tan vỡ hay con

cái của người lao động trở nên hư hỏng cũng sẽ khơng còn nữa.



PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1 KẾT LUẬN

XKLĐ có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế. Đã trình bày được các

khái niệm liên quan đến vấn đề xuất khẩu lao động như: lao động, sức lao động,

nguồn nhân lực, lao động đã qua đào tạo, lao động chưa qua đào tạo, lực lượng lao

động, thị trường lao động, giá cả lao động và ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đến

kinh tế đời sống của hộ gia đình.

(1) Thực trạng xuất khẩu lao động trên địa bàn xã Xuân Hồng như sau: Số

lượng lao động đi xuất khẩu của xã không ngừng tăng lên qua các năm, cụ thể năm

2014 có 470 lao động đi xuất khẩu đến năm 2017 lượng đi xuất khẩu lao động đã

tăng lên 685 lao động (tăng lên 145,74% so với 2014). Trong đó lao động nam phần

lớn chiếm 68% với trình độ tay nghề hầu như chưa được qua đào tạo chiếm 59,58%

và lao động ở độ tuổi từ 18 đến 35 là nhiều nhất. Thị trường được người lao động

quan tâm nhất là Đài Loan tiếp theo đến Hàn Quốc và Nhật Bản với môi trường làm

việc được đảm bảo.

(2) Tác động của XKLĐ đã mang lại nhiều lợi ích cho xã Xuân Hồng, cho

người dân, hộ gia đình có người đi XKLĐ. Thu nhập trung bình của người lao động

đi xuất khẩu ở các nước Đài Loan 17,61 trđ/tháng; Nhật Bản 23,83 trđ/tháng; Hàn

Quốc 24,25 trđ/tháng. Mức chi tiêu hằng năm cũng tăng lên đáng kể, đặc biệt hộ gia

đình đã chú trọng quan tâm hơn đến vấn đề chăm sóc sức khỏe và đầu tư hơn trong

hoạt động du lịch giải trí. Tuy nhiên XKLĐ cũng mang lại khơng ít những hệ lụy

như: chức năng gia đình thay đổi, mối quan hệ trong gia đình rạn nứt, thế hệ con trẻ

hư hỏng, gây mất trật tự xã hội và người lao động sau khi về nước lại trở nên thất

nghiệp do chê đồng ruộng không muốn làm nơng nghiệp vì vậy tỷ lệ thất nghiệp tự

nguyện tăng cao.

(3) Qua thực tế nghiên cứu hoạt động XKLĐ ở xã Xuân Hồng cho thấy, những

năm tới xã Xuân Hồng cần có những biện pháp thiết thực hơn nữa để khuyến khích

lao động tham gia XKLĐ, đảm bảo sự phát triển bền vững nguồn nhân lực. Hoạt

động xuất khẩu phải có hiệu quả cao hơn nữa, nhưng cũng cần hạn chế tối đa những

rủi ro có thể xảy ra với người lao động, để người lao động vừa có việc làm, vừa có

thu nhập cao nhưng gia đình vẫn ln bền vững, xã hội phát triển giàu mạnh.



5.2 KIẾN NGHỊ

5.2.1 Đối với chính quyền địa phương

Cần làm việc, kết hợp với các cơng ty XKLĐ để có những thơng tin chuẩn xác

cho người lao động nhằm tránh bị lừa đảo, tổn thất đến người lao động.

Chú trọng triển khai mở các lớp dạy nghề tại địa phương nhằm nâng cao tay

nghề, giảm chi phí tối đa nhất cho người lao động.

Cần tổ chức các hoạt động giáo dục, tuyên truyền, phối hợp các ngành chức

năng để quản lý và hỗ trợ phụ nữ sống và làm việc tại nước ngoài. Hỗ trợ các gia

đình có người đi XKLĐ, giúp họ bảo vệ đời sống tinh thần, tình cảm và phát triển

kinh tế gia đình.

Xây dựng chiến lược chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, hỗ trợ và định hướng

giúp người đi XKLĐ trở về phát triển kinh tế một cách hiệu quả.

Quản lý chặt chẽ hơn nữa đối với một số loại dịch vụ vui chơi giải trí về đêm,

các tụ điểm dễ xảy ra tệ nạn trên địa bàn xã.

5.2.2 Đối với hộ gia đình

Ngồi việc triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận

thức về pháp luật, đặc biệt là Luật Người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước

ngồi. Thì cần phổ biến rộng rãi đến mọi người dân, khi đã có nhu cầu đi làm việc ở

nước ngồi thì người lao động cần liên hệ trực tiếp với Cục quản lý lao động ngồi

nước và Sở, Phòng Lao động – Thương binh và xã hội địa phương, các cơng ty có

chức năng XKLĐ. Nếu đã đăng ký XKLĐ ở các công ty, doanh nghiệp thấy có dấu

hiệu lừa đảo, trái pháp luật thì người lao động cần thông báo cho các cơ quan chức

năng và phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý những sai phạm đó.

Người lao động đi xuất khẩu nên quan tâm hơn nữa đến đời sống của vợ hoặc

chồng ở nhà, để giữ gìn mối quan hệ vợ chồng tốt đẹp hơn. Cần quan tâm hỏi han

đến con cái, tránh để con cái rơi vào những tệ nạn xã hội.

Sử dụng số tiền kiếm được một cách khoa học, hợp lý nhằm tạo ra sự phát

triển bền vững khơng nên lãng phí, chơi bời với tâm lý ỷ lại sau khi đã có một

khoản tiền tương đối từ xuất khẩu lao động.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ chính trị (1998). Chỉ thị số 41 - CT/TW về xuất khẩu lao động và chuyên

gia, Hà nội.

2. Chính phủ (1999). Nghị định số 152/1999/NĐ/CP quy định về người lao

động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.

3. Trần Thị Lý (2015). Nghiên cứu tác động của hiện tượng xuất khẩu lao động,

luận văn thạc sỹ kinh tế, trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội.

4. Vũ Anh Tuấn và Phạm Đức Hạnh (2005), Giáo trình kinh tế chính trị Mác Lênin. NXB Chính trị quốc gia. Hà nội

5. Nguyễn Phương Anh (2011). “Ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đến tình

hình sản xuất và đời sống của hộ dân huyện Phú Xuyên, Hà Nội”. Luận văn

Thạc sỹ kinh tế, trường Đại học nông nghiệp Hà Nội

6. Nguyễn Thị Duyên (2015). “Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến

đời sống hộ nông dân trên địa bàn xã Đơng Khê, huyện Đơng Sơn, tỉnh

Thanh Hóa”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Học viện Nơng nghiệp Việt

Nam.

7. Nguyễn Thị Hồng Bích (2007). “XKLĐ của một số nước Đông Nam Á kinh

nghiệm và bài hoc, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội.

8. Trần Thanh Hải (2007), xuất khẩu lao động của Việt Nam. Thực trạng và giải

pháp, Đề án môn học, Trường đại học kinh tế quốc dân.

9. Trần Thị Ninh (2010). “Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động xuất khẩu lao

động đến đời sống kinh tế và xã hội của hộ gia đình tại xã Vũ Hội – huyện

Vũ Thư – tỉnh Thái Bình”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học

Nơng nghiệp Hà Nội.

10. Nguyễn Mậu Dũng (2011). Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, Trường đại

học Nông Nghiệp Hà Nội, NXB lao động xã hội.

11. Phạm Minh Hạc (2005). “Một số vấn đề xuất khẩu lao động nên hay không

nên”, Tạp chí kinh tế và phát triển, Trường đại học Kinh tế Quốc Dân, số 92.

12. Nguyễn Thị Hiền (2016). “Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời

đời sống kinh tế và xã hội của người dân trên địa bàn xã Diễn Thái, huyejn

Diễn Châu, tỉnh Nghệ An”, khóa luận tốt nghiệp,Học viện Nơng Nghiệp Việt

Nam.

13. Th.S.Nguyễn Tiến Dũng. Một số giải pháp tăng cường quản lý người lao

động Việt Nam làm việc ở nước ngồi, Tạp chí nghiên cứu và trao đổi số

221.

14. Nguyễn Thị Hương Lý (2009). Nghiên cứu hiện tượng đi xuất khẩu lao động

và những tác động của xuất khẩu lao động đến hộ nông dân ở xã Tân Hội huyện Đan Phượng – Hà Nội, luận án thạc sỹ, trường Đại Học Nông Nghiệp

Hà Nội.



15. Nguyễn Thị Thu Nga (2009). Nghiên cứu tác động của một số hình thức di

cư lao động đến đời sống kinh tế - xã hội ở xã Hoằng Đạo – Hoằng Hóa –

Thanh Hóa, luận văn tốt nghiệp, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội.

16. Nguyễn Quốc Chỉnh (2009). Kinh tế lao động, trường Đại học Kinh tế Quốc

Dân, NXB giáo dục.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

c) Tác động đến sức khỏe thể trạng của người lao động

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×