Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b) Tình trạng hôn nhân của người đi xuất khẩu lao động

b) Tình trạng hôn nhân của người đi xuất khẩu lao động

Tải bản đầy đủ - 0trang

hôn dù do khoảng cách địa lý, áp lực công việc hay nhiều mối quan hệ khác xung

quanh thì họ vẫn không làm ảnh hưởng đến cuộc hôn nhân của mình nên tỷ lệ lao

động ly hơn ở nhóm hộ II là 0%.

4.2.1.3 Nghề nghiệp của lao động

Nghề nghiệp là một phần để quyết định mức thu nhập của người lao động. qua

điều tra ta có thể thấy rõ sự thay đổi nghề nghiệp trước và sau khi đi XKLĐ ở xã

như sau:

Bảng 4.10 Nghề nghiệp của người đi XKLĐ



Chỉ tiêu



1.Nông nghiệp



Nghề nghiệp trước khi

XKLĐ



Nghề nghiệp sau khi đi

XKLĐ



Số lượng

(người)



Số lượng

(người)



Cơ cấu (%)



Cơ cấu (%)



17



34,00



7



14,00



9



18,00



21



42,00



3.Nghề khác



24



48,00



22



44,00



Tổng



50



100,00



50



100,00



2.Thương mại dịch vụ



(Nguồn: Số liệu điều tra, năm 2018)

Ở xã Xuân Hồng các hộ gia đình phần lớn sống chủ yếu dựa vào 3 nghành

chính đó là nơng nghiệp, thương mại dịch vụ và nghề khác như công nghiệp xây

dựng. Nên khi điều tra những hộ gia đình có lao động đi XKLĐ họ chủ yếu cũng

hoạt động trong 3 nghành nghề này. Trước khi đi XKLĐ thì nơng nghiệp chiếm

34%, thương mại dịch vụ chiếm 18% và nghề khác chiếm 48%. Sau khi lao động

sang làm việc ở nước ngồi thì cơ cấu việc làm của lao động đối với các nghành

nghề đã có sự thay đổi, lượng lao động nơng nghiệp giảm xuống còn 14%, thương

mại dịch vụ tăng lên 42% và lớn nhất vẫn là nghề khác chiếm 44%. Lý do được đưa

ra ở đây là vì nghành nghề này phù hợp với họ và phù hợp với nhu cầu của thị

trường lao động nước ngoài. Sự chuyển dịch cơ cấu việc làm này dẫn đến một lợi

ích rất lớn cho những nước có lao động đi xuất khẩu, sau khi về nước họ có trình độ

tay nghề đa dạng và nâng cao, tạo một nguồn lao động có chất lượng làm việc trong

nhiều lĩnh vực. Trong thời gian tới, để góp phần phát triển kinh tế hộ, xã nên chọn

hướng đầu tư cho đào tạo để các lao động có cơ hội tìm kiếm việc làm tại các nước



có u cầu công việc cao hơn nhằm tăng thêm thu nhập cho lao động tại địa phương

khi đi XKLĐ.

4.2.1.4 Lý do đi xuất khẩu lao động

Lý do đi XKLĐ là một trong những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến

tổng số người đi XKLĐ và thời gian đi của lao động. Đây cũng là yếu tố góp phần

định hướng phát triển kinh tế, giải quyết nhu cầu của người lao động cũng như phát

triển kinh tế của huyện trong thời gian tới.

Bảng 4.11 Lý do đi XKLĐ

STT



Chỉ tiêu



Số lượng (người)



Cơ cấu (%)



1



Người thân bên nước ngồi



0



0,00



2



Khó khăn về kinh tế



0



0,00



3



Chính sách của địa phương



0



0,00



4



Thất nghiệp



50



100,00



Tổng



50



100,00



(Nguồn: Số liệu điều tra, năm 2018)

Với thực trạng hiện nay xã Xuân Hồng là huyện thuần nơng với hoạt động

xản xuất chính là nơng nghiệp với hai ngành nhỏ là trồng trọt và chăn ni. Diện

tích đất nơng nghiệp tính bình qn trên đầu người hiện nay rất thấp, ruộng đất nhỏ

lẻ, manh mún. Thu nhập của hộ sau khi trừ đi tất cả các khoản chi phí số tiền còn

lại cũng khơng nhiều. Và cũng do sản xuất nơng nghiệp chỉ mang tính thời vụ, nên

khơng phải lúc nào người dân cũng có việc làm, dẫn đến số lao động dư thừa và

thiếu việc làm cũng nhiều. Chính vì vậy một số người dân tham gia xuất khẩu lao

động để tìm kiếm việc làm. Tỉ lệ lao động đi xuất khẩu với lý do khi ở nhà họ bị

thất nghiệp chiếm 100%. Những lao động đi xuất khẩu với lý do thất nghiệp thường

ít có xu hướng đi lần tiếp theo hơn so với những hộ mong muốn có thu nhập cao.

Đa số lao động đã đi xuất khẩu về nước thuộc nhóm này cho biết họ không đi xuất

khẩu lao động nữa mà sử dụng vốn tích lũy được sau khi đi xuất khẩu để làm những

nghề khác tạo thu nhập chứ không muốn đi xa.



4.2.1.5 Thời gian đi xuất khẩu lao động

Tùy từng đặc tính của cơng việc mà lao động đảm nhiệm tại quốc gia nhập

khẩu lao động mà hợp đồng lao động được, thơng thường mỗi hợp đồng thường có

thời hạn là 3 năm. Sau 3 năm lao động về nước, nếu có nhu cầu đi xuất khẩu tiếp có

thể đăng ký đi lần 2, lần 3 nếu đủ điều kiện. Người lao động ở xã Xuân Hồng đa số

là đi xuất khẩu 3 năm, điều này có nghĩa là người lao động thường chỉ đi xuất khẩu

lần thứ nhất rồi với số tiền đã kiếm được sẽ chuyển sang đầu tư làm ăn ở trong nước

chứ không đi xa nữa. Bên cạnh đó cũng có người đi lần 2, lần 3 nhưng khơng nhiều.

Bảng 4.12 Thời gian đi XKLĐ

Nhóm I

STT



Chỉ tiêu



1



Nhóm II



Số lượng

(người)



Cơ cấu

(%)



Số lượng

(người)



Cơ cấu

(%)



Hai năm



0



0,00



0



0,00



2



Ba năm



0



0,00



18



72,00



3



Bốn năm



0



0,00



0



0,00



4



Trên bốn năm



0



0,00



7



28,00



5



Chưa về



25



100,00



0



0,00



Tổng



25



100,00



25



100,00



(Nguồn: Số liệu điều tra, năm 2018)

Từ bảng trên ta thấy nhóm I là nhóm hộ gia đình có người đang đi XKLĐ

chưa về nên tỷ lệ chưa về chiếm 100% ở nhóm này. Đối với nhóm II là nhóm hộ gia

đình có người đã đi XKLĐ về với tỷ lệ là ba năm chiếm 72% và trên bốn năm

chiếm 28%. Điều này có nghĩa là đa số người lao động chỉ đi XKLĐ một lần, còn

hai lần thì có nhưng rất ít. Theo nhìn nhận chung của người dân xã Xuân Hồng thì

các lao động đã đi xuất khẩu thường có tâm lý khơng muốn đi tiếp do khơng muốn

xa gia đình bạn bè, nhưng số khác lại có tâm lý muốn đi do thu nhập ở nước xuất

khẩu cao hơn.

4.2.1.6 Chi phí cho người lao động đi xuất khẩu lao động

Đối với mỗi nước khác nhau khi người lao động đi XKLĐ họ sẽ phải bỏ ra

một khoản chi phí khác nhau. Điều đó phụ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi



nước, của mỗi ngành nghề khác nhau và nó ảnh hưởng trực tiếp tới số lượng tham

gia XKLĐ. Chi phí xuất khẩu cũng phụ thuộc vào hình thức đi của người lao động,

người lao động có thể đi qua mơi giới, qua tổ chức, được người nhà bảo lãnh. Có

người lao động mất chi phí nhiều, có người mất ít hơn. Đa số khi lao động đi xuất

khẩu chịu hai loại phí, đó là phí cho tổ chức và phí mơi giới.

Phí cho tổ chức được cố định ở mỗi quốc gia

Phí mơi giới phụ thuộc nhiều yếu tố trong đó bao gồm 2 phần, phần do chính

tổ chức thu và phần thứ 2 do các đơn vị trung gian thu để tiến hành các thủ tục liên

quan cho người lao động. Phí trung gian này bao gồm: phí trung gian đầu Việt Nam

và phí trung gian đầu nước ngồi. Người lao động có tâm lý muốn đi thật nhanh nên

thường chịu mất phí cho các khâu trung gian. Tuy vậy hình thức này gây bất lợi cho

người lao động vì rất dễ gặp rủi ro với các đối tượng trung gian. Để bảo vệ quyền

lợi cho lao động xuất khẩu, tránh những thiệt hại khơng đáng có về tài chính cho

người lao động, mới đây, Bộ lao động TBXH đã quy định mức chi phí mơi giới đối

với từng thị trường và đề nghị các công ty môi giới nghiêm chỉnh chấp hành mức

chi phí theo quy định này. Mặc dù vậy nhưng chi phí trên giấy tờ vẫn khác xa so với

mức chi phí thực tế người lao động phải chi trả.

Một số thị trường XKLĐ chủ yếu của xã Xuân Hồng là Đài Loan, Nhật Bản,

Hàn Quốc và một số các quốc gia thuộc khu vực Trung Đơng khác.

Bảng 4.13 Chi phí cho lao động đi xuất khẩu ở các hộ đi điều tra

STT



Chỉ tiêu



Chi phí (trđ)



Số lượng (người)



Cơ cấu (%)



1



Đài loan



155



31



62,00



2



Nhật Bản



220



6



12,00



3



Hàn Quốc



230



4



8,00



4



Nước khác



130



9



18,00



-



50



100,00



Tổng



(Nguồn: Số liệu điều tra, năm 2018)

Đối với Đài Loan, chi phí tham gia XKLĐ khoảng 155 triệu VNĐ, đây là

nước có khoản chi phí tham gia XKLĐ vừa phải trong thị trường xuất khẩu, nó phù

hợp với những hộ dân có nguồn vốn ít. Tuy nhiên xuất khẩu sang nước này mức

lương thấp hơn so với các nước khác nhưng vấn đề đầu tiên là giải quyết được việc

làm và khó khăn của người lao động và gia đình họ. Thị trường này tạo cơ hội cho



những người nghèo có mong muốn đi XKLĐ. Bên cạnh đó Đài Loan là một nước

cũng khá được lao động trên địa bàn xã quan tâm, mặt khác do ở nước này có khá

nhiều lao động của xã đang sinh sống và làm việc nên lao động của xã được qua

đây một cách dễ dàng, được người thân bảo lãnh nên dễ được qua vòng sát hạch và

tuyển chọn của nhà tuyển dụng.

Ở Hàn Quốc, mức chi phí khoảng 230 triệu VNĐ. Với mức chi phí là rất cao

so với người dân nhưng đổi lại nếu sang nước này sẽ có thu nhập cao hơn. Tuy

nhiên tỉ lệ hộ dân chọn đi Hàn Quốc cũng không nhiều, phần lớn là do chi phí cao

và thị trường Hàn Quốc u cầu trình độ lao động cũng cao. Còn Nhật Bản, đây là

nước nhập khẩu lao động có u cầu về trình độ chun mơn kỹ thuật và tay nghề

cao, bên cạnh đó, chí phí sang Nhật Bản khoảng 220 triệu VNĐ nên thu nhập của

người lao động ở đây cũng rất cao. Người lao động khi đi XKLĐ ở hai nước này

thường chọn con đường du học, vừa học vừa làm để giảm bớt yêu cầu của nước đó.

Đối với các nước khác như Thái Lan, Singapore, Angola, Malaixia...chi phí đi

thấp, cơ hội đi làm việc ở các nước này là dễ. Với mức chi phí khoảng 60 triệu

VNĐ, người lao động có thể sang làm việc tại các nước này. Đây là thị trường mới

mở cho người lao động trên toàn quốc. Tuy nhiên trong năm qua, do tình hình bất

ổn, một số lao động ở đây đã phải về nước trước hạn hợp đồng, gây thiệt hại cho

người lao động đi xuất khẩu tại nước này. Đây cũng là một trong các yếu tố rủi ro

cho lao động khi tham gia xuất khẩu.

4.2.1.7 Nguồn kinh phí để đi xuất khẩu lao động ở nhóm hộ điều tra

Vốn để đi XKLĐ là một vấn đề quan trọng, là một vấn đề lớn khá khó khăn

cho mỗi gia đình khi chuẩn bị đi XKLĐ.

Bảng 4.14 Nguồn vốn đi XKLĐ

STT



Chỉ tiêu



Số lượng (người)



Cơ cấu (%)



1



Tự có



7



14,00



2



Đi vay



43



86,00



3



Nguồn khác



0



0,00



Tổng



50



100,00



(Nguồn: Số liệu điều tra, năm 2018)



Qua điều tra cho thấy có 7 hộ chiếm 14% số hộ là có nguồn vốn tự có, những

hộ này chủ yếu là những hộ khá giả, hoặc đã xác định đi XKLĐ nên đã giành dụm

vốn để có thể đủ để đi XKLĐ.

Trên địa bàn xã để khuyến khích lao động đi XKLĐ xóa đói giảm nghèo thì

xã cũng có nhiều chính sách hỗ trợ cho vay vốn được đề ra, và có 43 hộ với 86% đã

lựa chọn nguồn vốn từ đây để có đủ chi phí đi XKLĐ. Ngồi ra một số hộ vì những

lý do khác nhau còn vay cả quỹ tín dụng đen để cho lao động kịp đi XKLĐ. Đồng

nghĩa với việc người XKLĐ đã để lại một gánh nặng không nhỏ cho những người

còn lại trong gia đình vì thế khơng chỉ người lao động mới mong muốn có một cơng

việc tại nước ngồi ổn định và thuận lợi thì người thân trong gia đình cũng hi vọng

rất nhiều, để có thể nhanh chóng ổn định và nâng cao cuộc sống của hộ.

4.2.1.8 Thu nhật theo quốc gia của người lao động đi xuất khẩu lao động

Thu nhập cũng giống như chi phí

Thu nhập của lao động xuất khẩu phụ thuộc vào trình độ phát triển mỗi nước,

của mỗi ngành nghề khác nhau thuộc quốc gia đó. Những nước cho thu nhập cao

như Nhật Bản, Hàn Quốc và tập trung ở một số ngành công nghiệp và xây dựng.

Qua điều tra các hộ gia đình và tổng hợp lại được mức thu nhập của lao động xuất

khẩu theo ngành nghề và theo nước nhập khẩu lao động và theo công việc của lao

động như sau:

Bảng 4.15 Thu nhập theo quốc gia

STT



Chỉ tiêu



Thu nhập (trđ/tháng)



1



Nhật bản



23,83



2



Hàn quốc



24,25



3



Đài loan



17,61



4



Thái lan



14,00



5



Khác



9,75



(Nguồn: Số liệu điều tra, năm 2018)

Qua tổng hợp cho thấy rằng lao động có thu nhập cao thường tập trung ở các

nước như Nhật Bản, Hàn Quốc với các ngành công nghiệp như điện tử, xây dựng,

cơ khí. So sánh với chi phí lao động đã bỏ ra để đi xuất khẩu chúng ta nhận thấy

rằng chi phí càng cao thì thu nhập càng cao. Với ngành công nghiệp và xây dựng ở

Hàn Quốc cho thu nhập cao nhất trong số tất cả các ngành nghề cũng như trong tất



cả các nước nhập khẩu lao động, thu nhập trung bình lao động trong ngành nghề

này được hưởng là 24.25 triệu đồng/ tháng. Ngoài Hàn Quốc, Nhật Bản cũng là một

thị trường có thu nhập cao với mức lương cho công việc công nghiệp và xây dựng

khoảng 23.83 triệu đồng/tháng. Đài Loan thì cho thu nhập thấp hơn một chút, các

ngành công nghiệp và xây dựng cho thu nhập 17.61 triệu đồng/tháng, Thái Lan cho

thu nhập 14 triệu đồng/ tháng. Thị trường khác như Singapore hay Lào cho thu nhập

thấp nhất thường với lao động công nghiệp và xây dựng chỉ đạt khoảng 9,75 triệu

đồng/ tháng. Thu nhập của các lao động tại cùng một thị trường, cùng một cơng

việc có thể cao thấp khác nhau nếu lao động đó tham gia làm thêm giờ hay tiết kiệm

trong chi tiêu một cách tối đa để dành tiền gửi về cho gia đình.

4.2.2 Tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống kinh tế xã hội của hộ

4.2.2.1 Tác động đến kinh tế hộ gia đình

a) Tác động đến cơ cấu thu nhập của hộ

Thu nhập là một chỉ tiêu rất quan trọng để đo mức sống của người dân. Phần

lớn các hộ gia đình sau khi có lao động đi xuất khẩu đều có đời sống kinh tế cao

hơn trước nhờ có khoản thu nhập cao từ nước ngồi gửi về. Tuy nhiên cũng có

những trường hợp lao động đi xuất khẩu bỏ ra ngoài làm bị bắt dẫn đến nợ nần cho

gia đình.

Ở các hộ gia đình có người đi xuất khẩu và khơng có người đi xuất khẩu nhìn

chung hộ gia đình đã biết sử dụng nguồn vốn có hiệu quả như đầu tư vào sản xuất

kinh doanh, đầu tư học nghề để tạo cơng ăn việc làm cho lao động gia đình và lao

động địa phương. Điều đó làm cho mức thu nhập của hộ gia đình tăng lên nhanh.

Sự tăng lên về thu nhập của các hộ từ các nguồn chủ yếu sau: thu nhập từ nông

nghiệp, thu nhập từ ngành nghề - dịch vụ, thu nhập từ đi làm thuê, thu nhập từ đi

làm công nhân, thu khác từ tiền gửi tiết kiệm.

Đối với nhóm có người đang đi xuất khẩu lao động, hoạt động từ sản xuất

nông nghiệp tạo ra nguồn thu nhập trên 7 triệu đồng/năm, hiện nay mức thu nhập

tăng lên trên 9 triệu đồng/năm. Thu nhập từ ngành nghề, dịch vụ hay đi làm thuê tại

các xí nghiệp, cơng ty tạo ra thu nhập khoảng trên 11 triệu đồng/năm, hiện nay thu

nhập từ hoạt động này là trên 14 triệu đồng/năm, tăng so với trước hơn 3 triệu đồng.

Ở nhóm hộ có lao động đi xuất khẩu đã về nước, có sự khác biệt giữa thu

nhập của hộ trước khi có lao động đi xuất khẩu, trong khi có lao động đi xuất khẩu.

Trong khoảng thời gian khi chưa có lao động đi xuất khẩu nhìn chung khơng có sự



khác biệt nhiều so với nhóm hộ khơng có lao động đi xuất khẩu trước đây. Nổi bật ở

nhóm hộ này là khi có lao động đang làm việc ở nước ngồi thì thu nhập chính của

hộ là từ lao động đi xuất khẩu. Trong đó thu nhập từ hoạt động xuất khẩu lao động

là rất lớn, người lao động có mức thu nhập thấp nhất khoảng 8 triệu đồng/tháng

hoặc người lao động làm việc tại Nhật Bản, Hàn Quốc có mức thu nhập cao nhất có

khi lên đến 25 triệu đồng/tháng. Mức thu nhập này cao gấp nhiều lần so với khi làm

việc ở quê nhà mức thu nhập cao nhất chỉ đạt khoảng 2,5 - 3 triệu đồng/tháng.

Từ bảng dưới đây cho thấy: mức tiền gửi về trong 1 năm của người lao động

xuất khẩu là rất lớn, có những lao động làm việc tại Hàn Quốc, Nhật Bản mức tiền

gửi về hàng tháng có thể đạt từ 18 – 25 triệu đồng và mỗi năm có thể đạt trên 300

triệu đồng. Như vậy, nhờ có số tiền lao động đi xuất khẩu gửi về, thu nhập của hộ

gia đình tăng lên nhanh, theo đó đời sống của hộ gia đình được cải thiện, chất lượng

cuộc sống cao hơn trước.

Vì thế XKLĐ đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế

và ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của hộ gia đình.

Trong quá trình điều tra được hộ dân cho biết trong những năm gần đây, hộ

gia đình có người đi XKLĐ hàng tháng gửi về cho gia đình một khoản thu nhập lớn

cho nên thu nhập của gia đình trở nên tăng và ổn định hơn nhiều so với trước đây.

Hộ cũng cho biết nếu khơng có lao động đi XKLĐ thì tồn bộ gia đình chỉ phụ

thuộc vào sản xuất nông nghiệp nên cuộc sống sẽ vất vả và khó khăn hơn nhiều,số

lao động của hộ gia đình chủ yếu làm sản xuất nông nghiệp thu nhập từ nơng

nghiệp là nguồn thu nhập chính của hộ chiếm 20 % tổng thu nhập với số tiền

7,5triệu đồng/năm đến 7,6triệu đồng/năm của hộ. Ngồi ra khi có nguồn thu nhập

lớn từ XKLĐ hộ đã bắt đầu đầu tư vào kinh doanh thêm một số mặt hàng để kiếm

thêm thu nhập cho nền kinh tế gia đình càng ngày càng ổn định hơn. Hộ thực hiện

đầu tư vào các quán ăn, quán bán quần áo và các của hàng kinh doanh tạp hóa nhỏ,

có vốn bỏ ra ban đầu hợp lý và mức lợi nhuận cũng tương đối nên đa số các hộ có

xuất khẩu lao động thường chọn việc chuyển dịch các nghề nặng như nông nghiệp

qua các nghề dịch vụ để bản thân nhàn nhã hơn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b) Tình trạng hôn nhân của người đi xuất khẩu lao động

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×