Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
e) Chỉ tiêu về xã hội

e) Chỉ tiêu về xã hội

Tải bản đầy đủ - 0trang

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BAN XÃ XUÂN

HỒNG, HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HA TĨNH

4.1.1 Tình hình chung về xuất khẩu lao động ở xã Xuân Hồng, huyện Nghi

Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

Xn Hồng là một xã thuần nơng, có nền kinh tế thấp và khó khăn trên nhiều

mặt, điều kiện để tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật còn thấp và hạn chế nên kết

quả sản xuất thu được là chưa cao. Lao động trên địa bàn xã Xuân Hồng chủ yếu

dựa vào nông nghiệp cho nên tình trạng thất nghiệp mùa vụ tại địa phương đang là

vấn đề gây nhức nhối cần được giải quyết nhanh chóng. Đi cùng với xu thế phát

triển của xã hội, nhu cầu sinh hoạt đời sống của nhân dân ngày càng cao, vấn đề

nghèo đói trong nhiều hộ trên địa bàn xã, tình trạng thiếu việc làm do tính mùa vụ

của hoạt động nông nghiệp. Đảng ủy, UBND xã Xuân Hồng đã bàn bạc và đề ra các

chủ trương xóa đói giả nghèo, giảm tỷ lệ thất nghiệp cho lao động địa phương trong

độ tuổi theo nhiều phương hướng khác nhau nhưng hiệu quả và đạt tỷ lệ cao nhất

vẫn là xuất khẩu lao động.

Trong những năm vừa qua, xã Xuân Hồng đã thực hiện nhiều giải pháp để

giải quyết việc làm, trong đó XKLĐ là một giải pháp được UBND xã coi trọng

nhất. Từ đây XKLĐ được xác định là mục tiêu hàng đầu nhằm phát triển kinh tế

trước mắt, xóa nhanh tình trạng đói nghèo trong xã làm tiền đề cho sự phát triển

kinh tế bền vững.

4.1.1.1 Số lượng người đi xuất khẩu lao động

XKLĐ ngày này càng trở nên là một vấn đề quan tâm hàng đầu trong việc

phát triển kinh tế của mỗi xã và được coi là chiến lược quan trọng nhằm góp phần

giải quyết việc làm, cải thiện và nâng cao đời sống, tăng thu nhập cho bản thân

người xuất khẩu lao động và gia đình bên cạnh đó còn tăng nguồn thu ngoại tệ cho

đất nước. Vì thế XKLĐ với xã Xuân Hồng cũng đã trở thành một vấn đề quan tâm

hàng đầu với cán bộ và nhân dân xã.

Trong những năm qua, xã Xuân Hồng đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ

trong cơng tác xuất khẩu lao động, góp phần khơng nhỏ vào việc thực hiện xóa đói

giảm nghèo, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, nâng cao đời sống của



nhân dân. Trong quá trình hội nhập liên kết giữa Việt Nam và thế giới thì hoạt động

XKLĐ cũng là một trong những giải pháp để tiếp thu, chuyển giao cơng nghệ tiên

tiến từ nước ngồi giúp đội ngũ lao động có chất lượng và tăng cường các quan hệ

hợp tác quốc tế của Việt Nam hội nhập sâu hơn vào khu vực thế giới. Chính vì thế

đã thúc đẩy huyện Nghi Xuân nói chung, xã Xuân Hồng nói riêng đưa XKLĐ trở

thành một trong những chính sách nhằm giải quyết việc làm, nâng cao trình độ tay

nghề cho lao động và tăng thu nhập cho người dân, đảm bảo an sinh xã hội. Lượng

lao động xuất khẩu trên địa bàn xã Xuân Hồng không ngừng tăng lên cụ thể cuối

năm 2014 có 470 lao động đi xuất khẩu đến năm 2017 lượng đi xuất khẩu lao động

đã tăng lên 685 lao động ( tăng lên 145,74% so với năm 2014) đi xuất khẩu làm

việc ở nước ngoài. Cụ thể năm 2015 có 526 lao động đạt 111,9 % so với năm 2014,

năm 2016 có 587 lao động đạt 111,6 % so với năm 2015, năm 2017 có 685 lao động

đạt 116,7% so với năm 2015.

Bảng 4.1 Tổng số lao động đi xuất khẩu lao động của xã Xuân Hồng qua

các năm từ 2014 đến 2017

STT Chỉ tiêu



2014



2015



2016



2017



470



526



587



685



1



Tổng số lao động (người)



2



Lượng tăng trưởng tuyệt đối (người)



-



56



61



98



3



Tốc độ phát triển liên hoàn (%)



-



111,91



111,60



116,70



4



Tổng độ phát triển định gốc (%)



100,00



111,91



124,89



145,74



(Nguồn: Ban thống kê xã Xuân Hồng, 2017)

Từ những số liệu trên cho thấy lượng xuất khẩu lao động ngày càng gia tăng,

và đây là tín hiệu đáng mừng cho công tác giải quyết việc làm của địa phương, đồng

thời xuất khẩu lao động góp phần khơng nhỏ đến việc phát triển kinh tế của xã trong

những năm qua.

4.1.1.2 Thực trạng về chất lượng lao động đi xuất khẩu lao động ở xã Xuân

Hồng

Qua số liệu thống kê của xã thì tổng số lao động đi xuất khẩu của xã liên tục

tăng và tăng khá nhanh qua các năm. Đến nay lượng lao động đi sang làm việc ở

nước ngoài của xã khoảng 700 người nhưng số lượng đã qua đào tạo nghề còn rất

thấp so với tổng số lao động đi xuất khẩu. Đây là một điểm yếu và hạn chế lớn nhất



của lao động trên địa bàn xã, gây hạn chế bất lợi lớn và tạo ra nhiều thiệt thòi cho

lao động khi đi tham gia tuyển dụng.

Bảng 4.2 Trình độ chun mơn của lao động đi xuất khẩu trên địa bàn xã

Xuân Hồng

2015

Chỉ tiêu



SL

(người)



2016

CC

(%)



SL

(người

)



2017

CC

(%)



SL

(người

)



So sánh (%)

CC

(%)



16/15



17/16



BQ



LĐ đã đào

tạo



195



37,07



226



38,50



275



40,42 115,90 121,68 118,79



LĐ chưa đào

tạo



331



62,93



361



61,50



410



59,58 109,06 113,57 111,31



Tổng



526 100,00



587 100,00



685 100,00



-



-



(Nguồn: Ban thống kê xã Xuân Hồng, 2017)

Qua bảng 4.2 ta có thể thấy rằng lực lượng lao động đã qua đào tạo hàng năm

có tăng nhẹ nhưng nó vẫn chỉ chiếm một phần nhỏ so với tổng lao động đi xuất

khẩu lao động. Năm 2016 lượng lao động đã qua đào tạo đạt mức 38,5 % có tăng

nhẹ so với năm 2015 là 37,07 %, năm 2017 lực lượng lao động đã qua đào tạo đạt

mức 40,42 % tăng so với 2016. Đồng thời số lượng lao động không qua đào tạo

trong những năm qua cũng không ngừng tăng lên, năm 2015 có 331 lao động, năm

2016 có 361 lao động, năm 2017 có 410 lao động, nhưng về cơ cấu thì tỷ lệ lao

động khơng qua đào tạo nghề có xu hướng giảm xuống. Qua tìm hiểu và điều tra thì

xã trong những năm qua đã cùng với các tổ chức đã tạo điều kiện cho người lao

động nâng cao trình độ qua nhiều chương trình và các lớp học dạy nghề, song hiệu

quả mang lại của nó vẫn chưa cao. Nguyên nhân chủ yếu lại xuất phát từ người lao

động như việc người lao động không chịu khó học tập, khơng có thời gian để nâng

cao trình độ và họ cảm thấy hài lòng với cuộc sống hiện tại, khơng cần nâng cao tay

nghề của mình để nâng cao thu nhập nữa, nhưng họ lại không biết rằng xã hội hiện

nay liên tục phát triển và đào thải những lao động khơng có năng lực thực sự ra khỏi

hệ thống của họ để họ đạt được kết quả cao nhất trong công việc.



-



4.1.1.3 Độ tuổi và giới tính của người đi xuất khẩu lao động ở xã Xn Hồng

Độ tuổi và giới tính có vai trò quan trọng để quyết định nên việc làm và mức

thu nhập, đa số người dân Việt Nam đi xuất khẩu lao động ở độ tuổi thanh thiếu

niên và phần lớn là nam giới.

Bảng 4.3 Độ tuổi người đi xuất khẩu lao động ở xã Xuân Hồng giai đoạn

(2015-2017)

2015

Độ tuổi



2016



2017

CC

(%)



SL

(người)



So sánh (%)



SL

(người)



CC

(%)



SL

(người)



CC

(%)



1.Từ 18 – 25



320



60,84



350



59,62



389



56,79 109,38 111,14 110,26



2.Từ 26 – 35



151



28,71



162



27,60



197



28,76 107,28 121,60 114,44



3.Từ 36 – 45



35



6,65



52



8,86



71



10,36 148,57 136,54 142,55



4.Trên 46



20



3,80



23



3,92



28



4,09



Tổng



526



100,00



587



100,00



685



100,00



16/15



17/16



BQ



115 121,74 118,37

-



-



(Nguồn: Ban thống kê xã Xuân Hồng, 2017)

Cơ cấu lao động xuất khẩu của xã Xuân Hồng xét theo độ tuổi cho thấy đa số

lao động trên địa bàn xã đi xuất khẩu lao động còn trẻ bởi đối tượng này là những

đối tượng lực lượng chủ yếu của xuất khẩu lao động nói chung. Từ kết quả bảng

cho ta thấy lao động đi XKLĐ của xã tập trung chủ yếu ở lứa tuổi 18 - 35 tuổi

chiếm khoảng 80% trong tổng số lao động xuất khẩu qua các năm. Đây là nhóm

tuổi đáng lẽ ra họ cần phải xây dựng gia đình, ở bên gia đình để chăm lo cuộc sống

gia đình của họ nhưng học chấp nhận đánh đổi để có thể sang nước ngồi mong

muốn có thu nhập cao hơn để đáp ứng đầy đủ được cuộc sống cho gia đình họ.

Trong đó nhóm tuổi từ 18 - 25 chiếm tỷ trọng cao nhất và tăng trưởng theo

hàng năm, năm 2015 chiếm 60,84% với 320 người, năm 2016 chiếm 59,62 % với

350 người,năm 2017 chiếm 56,79 % với 389 người. Với độ tuổi trên 46 tuổi thì tỷ lệ

thấp nhất trong số lao động các năm. Cụ thể năm 2015 chiếm 3,8 % với 20 người,

năm 2016 chiếm 3,92 % với 23 người, năm 2017 chiếm 4,09 % với 28 người. Điều

này phản ánh đúng với thực tế hiện nay của xã hội vì độ tuổi từ 18-35 là đối tượng

chính chủ yếu của cơng tác xuất khẩu lao động phù hợp với cầu của các nước nhập

khẩu lao động, cung cấp cho họ được sức khỏe và trình độ tốt nhất.



-



4.1.1.4 Thị trường lao động

Trong quá trình tìm hiểu về tình hình đi xuất khẩu lao động tại địa phương,

nhận thấy rằng người dân ở đây chủ yếu đi XKLĐ sang các nước như: Nhật Bản,

Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan. Do các nước này hiện đang thu hút một lượng lớn

người dân tại địa phương đi XKLĐ với thu nhập khá và độ uy tín cao. Bên cạnh đó,

việc lựa chọn các nước đi xuất khẩu lao động cũng tùy thuộc vào nhiều yếu tố như:

Cơng việc ổn định, thu nhập cao, chi phí đi thấp, có người thân ở nước sở tại, đảm

bảo về an ninh trật tự hay không.

Quốc gia hiện nay tiếp nhận nhiều nhất lao động của xã Xuân Hồng là Đài

Loan có 325 người. Người lao động lựa chọn Đài Loan vì đây là một thị trường lao

động rộng lớn, thủ tục đi khá nhanh gọn, kinh phí đi vừa phải, thu nhập lại khá cao

so với các nước khác. Mặt khác thị trường Đài Loan là một thị trường khá dễ chịu,

khơng đòi hỏi người lao động phải có năng lực, ngoại ngữ mà chỉ cần trình độ trung

bình và có sức khỏe tốt. Tuy nhiên mấy năm gần đây thì thị trường Đài Loan có xu

hướng giảm do các quốc gia khác như Hàn Quốc, Nhật Bản đang nâng cao tuyển

chọn lao động khiến người lao động cân nhắc hơn với sự lựa chọn của mình.

Bảng 4.4 Các quốc gia nhập khẩu lao động của xã Xuân Hồng

STT



Tên quốc gia



Tổng số

SL (người)



CC (%)



1



Đài loan



295



43,06



2



Nhật bản



98



14,31



3



Hàn quốc



105



15,33



4



Singapore



33



4,82



5



Thái lan



85



12,41



6



Lào



40



5,84



7



Angola



29



4,23



685



100,00



Tổng



(Nguồn: Ban thống kê xã Xuân Hồng, 2017)



Lao động xuất khẩu các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản có chi phí tương đối

cao từ 160-250 triệu đồng nhưng bù lại ở các quốc gia này lao động lại có thu nhập

khá cao từ 20-40 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên những thị trường này ln khó, ngồi

những u cầu về sức khỏe cũng như trình độ tay nghề thì ngoại ngữ là yếu tố quan

trọng đến quá trình tuyển dụng lao động nên ảnh hưởng khá lớn đến tâm lý của

người lao động khi chọn lựa các quốc gia này. Với 2 nước này lao động chủ yếu đi

XKLĐ theo kênh du học, vừa học vừa làm để tránh được một số bất lợi và bắt buộc

của nhà tuyển dụng, chi phí bỏ ra khá ít mà lại có thu nhập cao, đồng thời bổ sung

được kiến thức và ngôn ngữ của nước sở tại tốt hơn.

Thị trường được quan tâm nữa là Đài Loan vì thị trường này rộng lớn và khá

dễ tính với lao động Việt Nam, thủ tục xuất cảnh nhanh, kinh phí trên dưới 150

triệu, có cơng việc ổn định, khơng đòi hỏi tay nghề cao, vấn đề an ninh cũng được

đảm bảo đồng thời đây là thị trường được lao động trên địa bàn xã xuất khẩu từ rất

lâu. Tạo được một sự tin tưởng, được giúp đỡ trong tuyển dụng thế nên thị trường

này cũng chiếm một tỷ lệ khá cao. Còn các thị trường còn lại chiếm một số khơng

lớn, nhưng nhìn chung nó giữ mức ổn định qua các năm.

4.2 CÁC TÁC ĐỘNG CỦA XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH

TẾ VA XÃ HỘI CỦA NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BAN XÃ XUÂN HỒNG,

HUYỆN NGHI XN, TỈNH HA TĨNH

4.2.1 Thơng tin chung về nhóm hộ điều tra và lao động xuất khẩu

4.2.1.1 Thông tin chung về hộ điều tra

Từ bảng trên ta thấy trong số hộ được điều tra đa số là hộ gia đình trung bình.

Ở nhóm I hộ trung bình chiếm 84% và số ít còn lại là hộ khá chiếm 16%, hộ giàu và

nghèo khơng có. Với nhóm II có hộ giàu và chiếm 16%, hộ khá là 28%, hộ trung

bình chiếm 56% và khơng có hộ nghèo.

Số nhân khẩu trung bình với nhóm hộ có người đang đi XKLĐ là 4,32 lao

động, còn nhóm hộ có lao động đã về nước là 4,4 nhân khẩu. Số lao động bình qn

ở nhóm hộ I là 3,76 lao động/hộ và nhóm hộ II là 3,96 lao động/hộ. Đây được coi là

một yếu tố thuận lợi cho gia đình và địa phương nếu biết sử dụng nguồn lao động

một cách hiệu quả, tăng thu nhập được cho gia đình, phát triển kinh tế cho xã hội

địa phương. Bên cạnh đó lao động dồi dào cũng là vấn đề khó khăn chính quyền

cần phải quan tâm nhằm giải quyết tình trạng thiếu việc làm và tránh các tệ nạn trên

địa bàn xã.



Bảng 4.5 Thông tin chung về hộ điều tra

Diễn giải

1. Tuổi trung bình của người



ĐVT

Tuổi



Nhóm hộ I



Nhóm hộ II



45,92



52,92



2. Giới tính chủ hộ

-



Nam



%



100



92



-



Nữ



%



0



8



3. Xếp loại hộ

-



Giàu



%



0



16



-



Khá



%



16



28



-



Trung bình



%



84



56



-



Nghèo



%



0



0



4. Tình hình chung của hộ

-



Bình quân nhân khẩu/hộ



Lao động



4,32



4,40



-



Bình quân lao động/hộ



Lao động



3,76



3,96



-



Đất thổ cư của hộ



m2



1301,16



1362,20



-



Đất nơng nghiệp/hộ



Sào



6,20



6,52



(Nguồn: Số liệu điều tra, năm 2018)

Diện tích đất nơng nghiệp/hộ của xã tương đối lớn và có sự chênh lệch tương

đối giữa 2 nhóm hộ. Cụ thể ở nhóm I là 6,2 sào và nhóm hộ II là 6,52 sào. Ngun

nhân là do nhóm hộ I thường ít lao động hơn nên hộ sẽ trả bớt ruộng đất thay đổi

hình thức sản xuất sang ngành khác. Đối với nhóm hộ II thường sau khi về nước với

những người có một khoản vốn nhất định rồi nên sẽ trả bớt đất trồng trọt để đầu tư

vào các lĩnh vực nơng nhàn hơn. Đất thổ cư của hai nhóm hộ cũng có sự chênh lệch

nhóm hộ có lao động về nước cao hơn nhóm hộ có lao động đang đi bởi vì lúc hộ đã

về thì sẽ tích lũy được một số vốn nhất định và đầu tư vào đất đai nhiều hơn đồng

thời hộ sẽ có hướng mua thêm đất đai để xây dựng nhà cửa thêm cho con cái và bản

thân.



4.2.1.2 Thông tin chung về người đi lao động

a) Giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn của người đi xuất khẩu lao động

Độ tuổi, giới tính và trình độ học vấn quyết định chất lượng nguồn lao động

và thị trường xuất khẩu lao động, đây là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp

đến nguồn thu nhập của các lao động trong thời gian đi xuất khẩu.

Lao động xuất khẩu ở xã Xuân Hồng đa số có độ tuổi từ 18 - 45 tuổi. Ở độ

tuổi này lao động được đánh giá là có sức khỏe tốt nhất để đáp ứng cầu của nước

nhập khẩu lao động và hồn thành tốt cơng việc.

(1) Giới tính của người lao động

Bảng 4.6 Giới tính của người đi XKLĐ

ST

T



Giới tính



Số lượng (người)



Cơ cấu (%)



1



Nam



34



68,00



2



Nữ



16



32,00



3



Tổng



50



100,00



(Nguồn: Số liệu điều tra, năm 2018)

Qua bảng trên ta thấy: tỉ lệ nam lao động đi xuất khẩu chiếm 68%, tỉ lệ cao

hơn hẳn so với lao động nữ 32%. Tỉ lệ nam lao động cao hơn lao động nữ vì trong

những năm gần đây các công việc ở nước tuyển dụng lao động đa dạng và phù hợp

với nam giới hơn nữ giới. Đa phần người lao động là nam giới phải làm việc trong

mơi trường nặng nhọc, vất vả khó khăn như nhà máy, cơng trường còn lao động nữ

sang nước ngồi chủ yếu việc là giúp việc gia đình, bán hàng thuê, lao động nông

nghiệp với mức thu nhập không cao. Mặt khác lao động nữ được lựa chọn ở nhà sẽ

có nhiều lợi thế hơn so với đàn ông. Hầu hết công việc nhà đều cần tới bà tay phụ

nữ từ nuôi con cái đến quán xuyến việc nhà. Đàn ông là người đi làm kinh tế để gia

tăng thu nhập. Bên cạnh đó, qua điều tra hộ lao động, nam giới cũng có xu hướng

muốn đi xuất khẩu lao động hơn là nữ giới. Chính vì các yếu tố này mà lao động

nam đi xuất khẩu lao động luôn cao hơn so với lao động nữ.

(2) Tuổi của người lao động



Bảng 4.7 Độ tuổi trung bình của người đi XKLĐ

STT



Độ tuổi



Số lượng (người)



Cơ cấu (%)



1



Từ 18 đến 24



32



64,00



2



Từ 25 đến 35



18



36,00



3



Trên 35



0



0,00



Tổng



50



100,00



(Nguồn: Số liệu điều tra, năm 2018)

Trong tổng số 50 lao động xuất khẩu được điều tra số lao động ở độ tuổi từ 18

đến 24 là độ tuổi đi xuất khẩu phổ biến nhất chiếm 64%, còn lại 36% ở độ tuổi từ

25 đến 35, khơng có người lao động nào trên 35 tuổi.

Qua điều tra thì lí do chênh lệch tuổi của người XKLĐ như trên là vì: Ở độ

tuổi này thì thường đã tốt nghiệp xong và chưa có việc làm, với mong muốn tăng

thêm thu nhập cho gia đình. Lao động trong độ tuổi này có ưu điểm lớn nhất là dễ

tiếp thu khoa học kỹ thuật, dễ dàng làm quen với công việc cũng như học tiếng

nước ngồi. Đây cũng là độ tuổi có sức khỏe ổn định, đảm bảo nhất cho công việc.

(3) Trình độ học vấn của người lao động

Bảng 4.8 Trình độ học vấn của người đi XKLĐ

STT



Trình độ



Số lượng (người)



Cơ cấu (%)



1



Tiểu học



0



0,00



2



THCS



8



16,00



3



THPT



42



84,00



Tổng



50



100,00



(Nguồn: Số liệu điều tra, năm 2018)

Nhìn chung thì trình độ của lao động đi xuất khẩu chưa cao kể cả trình độ học

vấn và trình độ chuyên mơn. Nhưng đa số lao động đi xuất khẩu có trình độ từ

THCS trở lên, trong đó tỉ lệ cao ở THPT chiếm 84% còn lại là THCS chiếm 16%.

Những năm gần đây các quốc gia nhập khẩu có yêu cầu cao từ phía người lao động

về trình độ học vấn. Đa số các lao động có trình độ này làm việc tại các nhà máy



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

e) Chỉ tiêu về xã hội

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×