Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b) Hệ thống các quan điểm chính sách và chủ trương của nhà nước Việt Nam về hoạt động xuất khẩu lao động

b) Hệ thống các quan điểm chính sách và chủ trương của nhà nước Việt Nam về hoạt động xuất khẩu lao động

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thị trường lao động Indonesia đến làm việc tập trung tại một số nước và khu

vực như: Đông Nam Á, Malaysia, Singapore, Bruney, Đông Bắc Á, Đài Loan, Hàn

Quốc, Nhật Bản.

Về chính sách, để đẩy mạnh xuất khẩu lao động Indonesia xây dựng chính

sách về hệ thống tuyển mộ và đào tạo lao động chính sách đưa lao động đi nước

ngồi làm việc và chính sách quan hệ hợp tác lao động với nước ngồi, chính phủ

Indonesia can thiệp vào xuất khẩu lao động thông qua việc quản lý thống nhất và

chỉ đạo chặt chẽ chương trình việc làm nước ngồi.

Năm 1994 Chính phủ Indonesia đã ban hành nghị định về thủ tục và hệ thống

tuyển mộ, việc thành lập các công ty tuyển mộ lao động, các điều kiện và các yêu

cầu đối với các tổ chức tuyển mộ quy định xuất khẩu lao động việc giải quyết tranh

chấp các vấn đề pháp lý.

Tuy nhiên, việc quản lý hoạt động xuất khẩu lao động của Indonesia cũng còn

nhiều thiếu sót do những bất cập của pháp luật và sự không tuân thủ các quy định

của công ty tuyển mộ và người lao động, những phạm vi lừa đảo về xuất khẩu lao

động.

b) Thái Lan

Thái Lan bắt đầu xuất khẩu lao động từ những năm 1970 khi ở Trung Đông

bùng nổ xây dựng cơng trình khai thác dầu lửa. Số lượng lao động xuất khẩu trong

10 năm gần đây của Thái Lan bình qn là 200.000 người/năm. Trong đó hơn 50%

đến làm việc tại Đài Loan. Lượng ngoại tệ do lao động Thái Lan làm việc ở nước

ngoài chuyển về nước qua hệ thống ngân hàng tăng từ 52 tỷ Bạt năm 1997 lên trên

60 tỷ Bạt năm 1998 và năm 1999 tương đương 1,5 tỷ USD (Nguyễn Thị Hồng Bích,

2007).

Về cơ cấu lao động xuất khẩu, phần lớn lao động Thái Lan đi nước ngoài làm

việc là lao động khơng nghề có trình độ học vấn thấp khoảng 50% chủ yếu từ các

vùng nơng thơn, trong đó phần lớn từ vùng Đơng Bắc Thái Lan nơi người dân có

nhiều khó khăn về kinh tế.

Về chính sách, Thái Lan thực hiện chính sách tự do hóa xuất khẩu lao động.

Thời kỳ đầu, hoạt động xuất khẩu lao động do cá nhân lao động và các đại lý môi

giới tư nhân thực hiện, nhiều lao động Thái Lan ra nước ngoài bằng visa du lịch rồi

ở lại làm việc bất hợp pháp. Sau đó để bảo vệ quyền lợi người lao động nước ngoài

thuộc Tổng cục Lao động Bộ nội vụ, văn phòng quản lý việc làm người nước ngồi



có chức năng giám sát hoạt động của các đại lý tuyển mộ lao động tư nhân, xây

dựng các tiêu chuẩn, điều kiện là bảo vệ người lao động ở nước ngoài.

Ở Thái Lan cũng có hiện tượng lừa đảo ngồi lao động để chiếm đoạt tiền đặt

cọc và các dịch vụ phí của người lao động muốn đi xuất khẩu lao động. Trong nhiều

trường hợp chính phủ khơng thể can thiệp vì các cơng ty này giải thể rất nhanh. Đối

với các cơng ty tuyển mộ tư nhân có giấy phép, nếu có vi phạm cũng bị xử lý và thu

hồi giấy phép.

Về chủ trương và định hướng chung, chính phủ Thái Lan áp dụng triệt để và

nhất quán các biện pháp nhằm thúc đẩy việc XKLĐ để giảm tình trạng thất nghiệp

trong nước, tăng nguồn thu ngoại tệ, hiện nay chính phủ Thái Lan đã bắt đầu quan

tâm đến việc làm sao để nâng cao chất lượng và thay đổi cơ cấu cho lao động xuất

khẩu thường được đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng.

c) Philippin

Philippin là một nước có hệ thống xuất khẩu lao động có tổ chức và là mơ

hình tốt cho các nước XKLĐ ở Châu Á. Bộ lao động và việc làm là có trách nhiệm

xây dựng các chính sách, phối hợp và quản lý tất cả các vấn đề liên quan đến lao

động và việc làm ở Philippin.

Chính phủ Philippin quy định chức năng của văn phòng dịch vụ việc làm để

quản lý dịch vụ tuyển chọn tư nhân và lập ra Ban Phát Triển việc làm ngồi nước để

tuyển mộ cơng nhân làm việc trên đất liền, Ban Thủy Thủ quốc gia để quản lý các

đại lý tàu biển thuê thuyền viên. Chính phủ giao cho Văn phòng dịch vụ việc làm,

ban phát triển việc làm ngoài và Ban Thủy Thủ quốc gia xem xét các hợp đồng

trước khi lao động được thuê (trên cơ sở các điều kiện, tiêu chuẩn do chính phủ quy

định).

Năm 1982 để đảm bảo cho lao động xuất khẩu được hưởng các điều kiện làm

việc công bằng và nhận các dịch vụ xã hội và phúc lợi một cách thuận tiện, chính

phủ đã thành lập hai cơ quan thuộc Bộ Lao Động và việc làm chịu trách nhiệm về

xuất đó là: Cục quản lý việc làm ngoài Philippin và Cục Phúc Lợi lao động ngoài

nước.

Đối với cơng tác tuyển dụng lao động chính phủ quy định cho những công ty

Philippin hoặc những công ty liên doanh mà cư dân Philippin hoặc những công ty

liên doanh mà cư dân Philippin giữ 75% vốn pháp định trở lên mới được cấp giấy

phép hoạt động xuất khẩu lao động. Về giấy phép ở Philippin có 3 loại giấy phép



xuất khẩu lao động giấy phép cấp cho các công ty tuyển dụng lao động và bố trí

việc làm trên biển, giấy phép cấp cho các nhà thầu khoán xây dựng để tuyển mộ và

bố trí việc làm cho cơng nhân làm việc tại các cơng trình xây dựng mà người

Philippin nhận thầu ở nước ngồi.

Chính phủ Philippin cũng đưa ra các biện pháp để chống lại việc vi phạm

quy định của chính phủ về xuất khẩu lao động. Các hành vi vi phạm như: tuyển

khơng có giấy phép, cung cấp các thông tin không đúng, thu nhận tiền quá mức quy

định của chính phủ sẽ bị phạt từ 6 tháng đến 12 năm tù và phạt tiền từ 200.000 đến

500.000 pesos tương đương 8.000 USD đến 20.000 USD (Nguyễn Thị Hồng Bích,

2007).

2.2.2 Tình hình xuất khẩu lao động ở Việt Nam

2.2.2.1 Sự cần thiết của hoạt động xuất khẩu ở Việt Nam

Như đã phân tích ở trên hoạt động xuất khẩu lao động có tính tất yếu khách

quan, chính vì vậy mà Việt Nam cũng giống như các nước đang phát triển khác trên

thế giới không thể không triển khai hoạt động xuất khẩu lao động.

Với dân số khoảng 95 triệu người, trong đó 49,5% nam giới và 50,5% nữ

giới. Việt Nam được xếp vào hàng ngũ nông dân thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á

và đứng 14 trong tổng số các nước đông dân nhất thế giới. Trong đó có khoảng 60%

lao động (nữ chiếm 48,7%), mỗi năm tăng thêm bình quân trên 1 triệu người, tỷ lệ

lao động qua đào tạo tay nghề khoảng 20%, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị là 5%

nhưng con số thiếu việc làm ở nơng thơn thì còn cao hơn rất nhiều, số việc làm

được tạo ra chỉ mới đáo ứng được khoảng trên dưới 40% số lao động. Những con số

trên cho thấy tình trạng thất nghiệp thiếu việc làm đang là một trong những vấn đề

nổi cộm của nền kinh tế Việt Nam, những biện pháp thu hút đẩy mạnh đầu tư ln

được khuyến khích song chỉ giải quyết được một phần nào tình trạng thiếu việc làm,

do đó xuất khẩu lao động là lựa chọn hữu hiệu và cần thiết cho Việt Nam trong giai

đoạn hiện nay không chỉ là giải quyết được phần nào lao động dư thừa mà còn vì

những lợi ích to lớn mà hoạt động này mang lại cho quốc gia.

2.2.2.2 Tác động xuất khẩu lao động ở Việt Nam

a) Tỉnh Thái Bình

Thái Bình là địa phương mà chúng ta cần phải kể đến bởi đây là một trong

những tỉnh tham gia vào xuất khẩu lao động đầu tiên ở nước ta và có số lao động

làm việc nước ngoài cao nhất cả nước.



Nghiên cứu: ‘‘Tác động của xuất khẩu lao động tới đời sống gia đình ở tỉnh

Thái Bình’’ của trung tâm nghiên cứu phụ nữ cho thấy xuất khẩu lao động đã trở

thành một giải pháp hữu hiệu đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc

làm và nâng cao đời sống cho người lao động, đặc biệt là khu vực nông thôn.

Nguồn lợi về kinh tế từ hoạt động xuất khẩu lao động là rất lớn tạo ra những chuyển

biến đáng kể làm thay đổi bộ mặt nông thôn, cải thiện cuộc sống cho nhiều hộ nông

dân.

Bên cạnh những mặt tích cực, xuất khẩu lao động cũng làm nảy sinh nhiều

vấn đề bất cập không chỉ ảnh hưởng đến bản thân người lao động mà còn chịu

nhiều ảnh hướng đến gia đình và cộng đồng nơi có người đi xuất khẩu lao động

như: Mối quan hệ gia đình trở nên lỏng lẻo, tha hóa về đạo đức, tệ nạn xã hội

(Nguyễn Thị Hiền, 2016).

b) Tỉnh Vĩnh Phúc

Với mục tiêu góp phần giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, dư thừa lao

động và giảm nghèo, tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành nhiều cơ chế chính sách khuyến

khích, thúc đẩy hoạt động đưa lao động đi làm việc có kỳ hạn ở nước ngoài. Vĩnh

phúc xây dựng kế hoạch chỉ đạo 15 xã đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước

ngồi phấn đấu trong 4 tháng đưa được trên 50 lao động đi làm việc ở nước ngồi.

Tỉnh Vĩnh Phúc có chính sách hỗ trợ 7 triệu đồng qua hình thức hỗ trợ tiền giáo dục

định hướng, lệ phí visa, lý lịch tư pháp, giấy khám sức khỏe đối với các đối tượng

chính sách, hộ nghèo. Hướng người lao động tìm đến những thị trường cao cấp

được đào tạo bài bản (Nguyễn Thị Hiền, 2016).

2.2.3 Bài học kinh nghiệm

2.2.3.1 Bài học với chính quyền địa phương, nhà nước

Thứ nhất là, xuất khẩu lao động cần được chính phủ đặt lên hàng đầu tập

trung chỉ đạo và hỗ trợ cho chương trình xuất khẩu lao động thực hiện có hiệu quả

đặc biệt trong cơng tác mở rộng thị trường. Đặc biệt là các thị trường mới như Liên

minh Châu Âu EU.

Thứ hai là, chính phủ cần khuyến khích và tạo mọi điều kiện cho mọi thành

phần kinh tế tham gia tìm việc làm ở nước ngồi.

Thứ ba là, các ngành chức năng có trách nhiệm tạo mọi điều kiện cho mọi tổ

chức cá nhân thực hiện có hiệu quả chương trình làm việc ở nước ngồi của mình.



Thứ tư là, thúc đẩy cơng tác đào tạo nghề và kiến thức pháp luật cho nguời

lao động trước khi làm việc ở nước ngồi.

2.2.3.2 Bài học với chính người lao động

Tích cực học tập và rèn luyện bản thân để phù hợp và đáp ứng được mong

muốn, nhu cầu của nước tiếp nhận, nâng cao tay nghề đảm bảo sự hài lòng cho nhà

tuyển dụng đồng thời nâng cao được thu nhập và kiến thức cho bản thân.

2.2.3.3 Bài học với hộ gia đình có lao động đi xuất khẩu

Động viên tinh thần cho người thân của mình để họ yên tâm làm việc ở nước

ngoài.

Sử dụng đồng vốn gửi từ nước ngồi về sao cho có hiệu quả nhất, không chơi

bời, cờ bạc.

Cần triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức về

pháp luật, đặc biệt là Luật Người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài.

Khuyến cáo rộng rãi đến mọi người dân, khi có nhu cầu đi làm việc ở nước ngồi

thì người lao động cần liên hệ trực tiếp với Cục quản lý lao động ngồi nước và Sở,

Phòng lao động - thương binh và xã hội địa phương, các cơng ty có chức năng xuất

khẩu lao động. Khi đã đăng ký để xuất khẩu lao động ở các cơng ty, doanh nghiệp

có dấu hiệu lừa đảo, trái pháp luật thì người lao động cần thơng báo cho các cơ quan

chức năng và phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý những sai phạm đó.



PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BAN NGHIÊN CỨU

3.1.1 Điều kiện tự nhiên, dân số xã hội

3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Xã Xuân Hồng là xã miền núi, nằm phía nam Nghi Xuân, cách trung tâm

huyện 13 km về phía tây nam, có diện tích tự nhiên 1846,25 ha, có vị trí địa lý:

Phía bắc giáp thị trấn Xuân An và cách thành phố vinh 6 km

Phía đơng giáp xã Xn Lĩnh

Phía nam giáp với xã Xuân Lam và cách thị xã Hồng Lĩnh 7 km

Phía tây giáp Sơng Lam

Trên địa bàn có tuyến đường 1A chạy qua địa bàn xã dài 5 km. Song song với

đường 1A là tuyến đường thủy dài 6 km, quy hoạch 2 tuyến đường liên xã.

Đặc điểm địa hình là dạng địa hình lòng chảo, 3 phía núi bao quanh, địa hình

chia cắt thành 3 khoảnh, có nhiều kênh rạch xen kẽ.

Về khí hậu: Thời tiết khắc nghiệt, hàng năm chịu ảnh hưởng của gió tây nam

(khơ nóng) từ tháng 5 đến tháng 8, về mùa mưa bão lốc, lũ lụt gây thiệt hại lớn về

kinh tế, cơng trình xây dựng của tập thể và nhân dân như nhà cửa, hệ thống giao

thông, cầu cống, hoa màu sản xuất chăn ni. Là xã sát với dòng Sơng Lam nên về

mùa mưa lũ thường bị ngập trên diện rộng do nước Sông Lam dâng cao, với thời

gian dài làm cho địa hình bị chia cắt thành nhiều khoảnh, giao thơng đi lại khó

khăn. Sau trận bão lụt hằng năm nhân dân phải đầu tư số kinh phí lớn để khắc phục

hậu quả. Do đó đời sống nhân dân khơng được đầy đủ do bị ảnh hưởng nặng nề.

3.1.1.2 Dân số xã hội

Dân số là một bộ phận hết sức quan trọng trong các hoạt động sản xuất kinh

doanh và tiêu dùng. Đây là yếu tố góp phần to lớn vào sự phát triển hay kìm hãm sự

phát triển kinh tế của một địa phương, một quốc gia. Chất lượng và số dân, số lao

động cũng thể hiện được thực trạng cũng như xác định được tiềm năng thế mạnh

của vùng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cụ thể việc tăng dân số trong khi

các điều kiện về công ăn việc làm, chổ ở, chăm sóc sức khỏe, giáo dục không đảm



bảo sẽ tạo ra một sức ép đối với sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu của địa

phương.

Qua số liệu về tình hình dân số của xã ta thấy dân số của xã năm 2015 là

6.124 người, năm 2016 dân số của xã là 6.214 người tăng 1,47% so với năm 2015,

đến năm 2017 dân số của xã là 6.316 người tăng 1,64% so với năm 2016. Như vậy,

dân số của xã hằng năm có tăng và tốc độ tăng cao, vấn đề dân số tăng cũng là sức

ép đối với nền kinh tế xã hội của xã.

3.1.2 Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản của địa phương

3.1.2.1 Tình hình sử dụng đất đai

Căn cứ vào tính chất nơng hóa thổ nhưỡng, đất đai của xã được chia thành 3

loại chính sau: Đất phù sa được bồi hàng năm thích hợp với nhiều loại cây trồng đặc

biệt là cây lương thực và cây màu; đất phù sa không được bồi thuận lợi cho trồng

lúa và các cây màu lương thực; đất phù sa úng nước bị lầy đang được nuôi trồng

thủy sản và trồng lúa kết hợp nuôi tôm, cá.

Đối với xã Xuân Hồng, một xã thuần nông đất đai là nguồn tài nguyên chủ

yếu, nó rất quan trọng vì nó tham gia vào mọi hoạt động của con người. Do đó việc

khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên đất đai đòi hỏi phải hợp lý và hiệu quả. Tổng

diện tích đất tự nhiên là 1.846,25 ha trong đó:

Diện tích đất nơng nghiệp 1.264,21 ha chiếm tỷ lệ: 68,47% DTTN

Diện tích đất phi nơng nghiệp 561,07 ha chiếm tỷ lệ: 30,39% DTTN

Diện tích đất chưa sử dụng 20,97 ha chiếm tỷ lệ: 1,14% DTTN



Bảng 3.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã Xuân Hồng

TT



1



Chỉ tiêu



Diện tích ( ha)



Cơ cấu (%)



Tổng diện tích tự nhiên



1846,25



100,00



Đất nông nghiệp



1264,21



68,47



1.1



Đất trồng lúa



633,86



34,33



1.2



Đất trồng cây hàng năm khác



108,33



5,87



1.3



Đất trồng cây lâu năm



430,35



23,31



1.4



Đất nuôi trồng thủy sản



91,67



4,96



Đất phi nông nghiệp



561,07



30,39



2.1



Đất ở



275,71



14,93



2.2



Đất xây dựng trụ sở cơ quan, cơng

trình sự nghiệp



2,95



0,16



2.3



Đất sản xuất phi nông nghiệp



15,62



0,85



2.4



Đất phát triển hạ tầng



237,8



12,88



2.5



Đất tơn giáo, tín ngưỡng



0,45



0,02



2.6



Đất sơng suối



26,59



1,44



2.7



Đất bãi thải, xử lí chất thải



1,95



0,11



20,97



1,14



2



3



Đất chưa sử dụng



(Nguồn: Ban thống kê xã Xuân Hồng, 2017)

3.1.2.2 Tình hình cơ sở vật chất kĩ thuật

a) Giao thông

Thực trạng giao thông nông thôn xã Xuân Hồng đến tháng 3 năm 2018 theo

Đề án xây dựng nông thơn mới đã được UBND huyện phê duyệt.

Nhìn chung mạng lưới giao thông xã Xuân Hồng đã đảm bảo nhu cầu cơ bản

cho việc đi lại, phát triển kinh tế nơng thơn. Tồn xã có 96,71 km đường bộ trong

đó có 8,21 km đường tỉnh lộ và 88,5 km đường giao thông nông thôn. Ban quản lý

xây dựng nông thôn mới xã Xuân Hồng đã tổ chức lồng ghép các chương trình, dự

án kết hợp nguồn lực huy động từ nhân dân, xã Xuân Hồng đã tổ chức đầu tư bê

tơng hóa được 30,5km đường đạt chuẩn (23,5km đường loại A, 7km đường loại B),

kết hợp với chuyển đổi ruộng đất xã đã tiến hành quy hoạch lại hệ thống giao thơng

nội đồng đảm bảo cơ giới hóa .



b) Thuỷ lợi

Những năm qua bằng nguồn vốn thu hút nguồn vốn của Trung ương, tỉnh,

huyện cùng với nguồn cấp bù thủy lợi phí và vốn góp của nhân dân đã tiến hành

đầu tư nâng cấp hệ thống trạm bơm công suất 1000 m3/h, xây mới trạm bơm điện

công suất 700 m3/h tại xóm 3 vị trí đầu kênh N8-1, cơ bản đáp ứng nhu cầu sản

xuất và dân sinh, đảm bảo tưới tiêu chủ động. Các cơng trình đều được phân công

quản lý, vận hành, được tu sửa hàng năm đảm bảo tưới tiêu chủ động phục vụ sản

xuất và sinh hoạt cụ thể: Hệ thống thủy lợi xã quản lý gồm 03 kênh tưới, với tổng

chiều dài 21.57 km đã kiên cố hóa được 18,76 km. Đạt 87 %

c) Hệ thống điện

Trong những năm qua, hợp tác xã điện năng đã đầu tư cải tạo lưới điện hạ áp,

xây dựng 4 trạm biến áp. Thường xuyên kiểm tra sữa chữa các lưới điện, phát

quang an toàn hành lang lưới điện, lắp đặt điện kế mới, thay thế các điện kế cũ

khơng an tồn cho các hộ dân. Năm 2015 xã đã bàn giao lại toàn bộ hệ thống lưới

điện cho ngành điện quản lý và được nhà nước đầu tư thêm 3 trạm biến áp, như vậy

tồn xã đã có 7 trạm biến áo phục vụ cho 9 xóm, hệ thống cột điện cũng được thay

thế một số cột mới, hệ thống dây điện trần đã được thay bằng dây bọc đảm bảo an

tồn. Có hệ thống chiếu sáng cơng cộng trên đường từ tổ dân cư các xóm và nơi

cơng cộng. Tỷ lệ hộ sử dụng điện an tồn thường xuyên chiếm 100%.

d) Cấp nước sạch cho nông thôn

Trên địa bàn xã, hộ dùng nước giếng chiếm 62,45%, số hộ trong xã; hộ dùng

nước ngầm, nước mạch tập trung chiếm 37,55% số hộ trong xã. Nước dùng thường

xuyên được kiểm tra đảm bảo an toàn sử dụng cho người dân trong xã.

e) Hệ thống phát thanh truyền hình, thơng tin, bưu điện

Xã có các điểm phục vụ Internet cơng cộng, năm 2013 tiếp tục nâng cấp

đường truyền Internet, đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu thông tin liên lạc đến 9 xóm;

UBND xã, trạm Y tế và 03 trường học thu hút các em học sinh, người dân nông

thôn tiếp cận được các thông tin kiến thức, giá cả thị trường thông qua mạng

Internet.

g) Hệ thống giáo dục, y tế

Bồi dưỡng cán bộ quản lý về lĩnh vực y tế, có chính sách khuyến khích đội

ngũ cán bộ y tế về phục vụ tuyến thơn xóm.



Gắn hoạt động y tế với hoạt động cứu hộ, cứu trợ. Đảm bảo có đủ trang thiết

bị và nhân lực đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh và ứng phó kịp thời trước các thảm

họa thiên tai với quy mô và cường độ lớn.

Số người hiện tại sinh sống tại xã: 6.316 người;

Số người tham gia bảo hiểm Y tế là: 5.430 người; Đạt tỷ lệ: 85,97%.

Xã đã đạt chuẩn Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế.

h) Hệ thống chợ

Xã Xuân Hồng có 1 chợ nằm tại xóm 1. Tổng diện tích khn viên và 0,5 ha

có 16 ki ốt đảm bảo cho nhân dân mua bán trao đổi hàng hóa và phục vụ cho sản

xuất, dân sinh trên địa bàn xã.

3.1.2.3 Kết quả phát triển kinh tế của địa phương qua 3 năm (2015 - 2017)

Trong những năm qua, kinh tế nơng nghiệp, nơng thơn nước ta đã có những

thay đổi đáng ghi nhận. Ngành nông nghiệp đi theo hướng thâm canh tăng năng

suất, đưa cây giống, con giống mới để nâng cao giá trị sản phẩm, đạt năng suất cao

trên một ha đất canh tác, ngành chăn nuôi đang được đầu tư phát triển mạnh để

nâng cao chất lượng sản phẩm, ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đang

được khôi phục và phát triển các ngành nghề một cách mạnh mẽ. Cùng với sự phát

triển kinh tế đó xã Xuân Hồng cũng đạt được những kết quả đáng kể thể hiện sự

thay đổi cơ cấu kinh tế - xã hội.

Xuân Hồng đã xây dựng cho mình một phương hướng sản xuất phù hợp với

điều kiện của xã, đó là sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,

xây dựng, thương mại - dịch vụ. Ngành sản xuất nông nghiệp, với điều kiện tự

nhiên, đất đai và lao động thuận lợi cho phát triển trồng trọt, đa dạng hoá các loại

cây trồng và có khả năng thâm canh tăng vụ, chăn nuôi gia súc và gia cầm phát triển

mạnh. Trong những năm qua, việc triển khai thực hiện khoán theo tinh thần Nghị

Quyết 10 và việc giao đất nông nghiệp ổn định cho người dân trong thời gian dài đã

được nhân dân đồng tình ủng hộ, họ đã thực sự phấn khởi, yên tâm đầu tư vào khai

thác tiềm năng đất đai ngày càng có hiệu quả hơn. Kết quả sản xuất kinh doanh của

xã qua các năm từ năm 2015 đến 2017 cho thấy các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của xã

Xuân Hồng liên tục tăng qua các năm.

Một kết quả đáng mừng được thể hiện qua tổng giá trị sản xuất của các ngành

nông - thuỷ sản, công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ. Năm 2015 tổng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b) Hệ thống các quan điểm chính sách và chủ trương của nhà nước Việt Nam về hoạt động xuất khẩu lao động

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×