Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
e) Xuất khẩu lao động phụ thuộc nhiều vào chính sách của quốc gia

e) Xuất khẩu lao động phụ thuộc nhiều vào chính sách của quốc gia

Tải bản đầy đủ - 0trang

Xuất khẩu lao động là một hoạt động có liên quan đến mối quan hệ hợp tác

giữa các quốc gia với nhau, bởi thế chính sách của mỗi quốc gia có liên quan mật

thiết đến hoạt động xuất khẩu lao động. Chính sách, pháp luật của quốc gia đưa lao

động của các nước đó là điều đương nhiên vì nó quyết định đến sự khuyến khích

hay hạn chế của hoạt động xuất khẩu lao động nhưng chính sách, pháp luật của

quốc gia tiếp nhận lao động cũng có ảnh hưởng rất lớn đến họat động xuất khẩu lao

động, ví dụ một quốc gia đưa ra chính sách hạn chế lượng người nước ngồi nhập

cư thì ngay lập tức sẽ hạn chế hoạt động xuất khẩu lao động của các quốc gia có lao

động đi làm việc tại nước đó và ngược lại (Trần Thị Lý, 2015).

2.1.2.3 Vai trò của xuất khẩu lao động

Đối với Việt Nam việc xuất khẩu lao động có vai trò quan trọng về cả kinh tế

và xã hội. Chúng ta đang phải đối mặt với tình trạng gia tăng dân số, đồng nghĩa với

việc tăng nguồn lao động trong khi phát triển việc làm ở trong và ngồi nước còn

hạn chế. Vì thế XKLĐ là hướng giải quyết đúng đắn trong giai đoạn này và có ý

nghĩa vơ cùng quan trọng có nêu lên một số vấn đề sau:

Xuất khẩu lao động làm gia tăng thu nhập cho người lao động góp phần vào

cơng cuộc xóa đói giảm nghèo ở địa phương. Thu nhập là mục tiêu hàng đầu của

người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Thu nhập của người lao động

có xu hướng tăng lên hàng năm trên cơ sở năng xuất lao động của họ. Với con số

ngoại tệ gửi về nước mỗi năm lên đến 1,5 tỷ USD xuất khẩu lao động ở Việt Nam

đã trở thành một trong những ngành nghề mang lại nguồn thu ngoại tệ cao cho quốc

gia. Khơng dừng lại ở đó, xuất khẩu lao động còn góp phần làm tăng thu ngân sách

nhà nước nhờ có những khoản thuế thu từ hoạt động của các doanh nghiệp xuất

khẩu lao động và từ khoản ngoại tệ lao động gửi về nước. Như vậy, xuất khẩu lao

động vừa trực tiếp lẫn gián tiếp góp phần thúc đẩy sự phát triển và ổn định xã

hội..Không những thế, xuất khẩu lao động còn góp phần tăng ngân sách nhà nước từ

các hoạt động của các doanh nghiệp XKLĐ và từ khoản ngoại tệ lao động gửi về

nước. Như thế XKLĐ vừa trực tiếp vừa gián tiếp góp phần thức đẩy, ổn định kinh tế

xã hội và thực sự là một giải pháp hữu hiệu cho công cuộc xóa đói giảm nghèo, tăng

thu nhập cho hộ dân, tạo ra những chuyển biến cơ bản làm thay đổi bộ mặt nông

thôn, nâng cao mức sống cho nhiều hộ dân.

Xuất khẩu lao động có vai trò quan trọng trong việc giải quyết việc

làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp ổn định lại thị trường lao động. Đối với những quốc gia



có nền kinh tế chưa phát triển thì việc thất nghiệp, giải quyết việc làm cho người lao

động rất hạn chế và khó khăn, tạo ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng với nền kinh tế - xã

hội. Chính vì thế thất nghiệp và giải quyết việc làm luôn là vấn đề nhạy cảm của các

nhà lãnh đạo mỗi quốc gia.

Xuất khẩu lao động giúp nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn và giúp lao

động được tiếp cận với nhiều công nghệ, máy móc hiện đại hơn. Sự yêu cầu khắt

khe, hiệu quả cơng việc và năng suất của nước ngồi đã gây nên sức ép không nhỏ

đối mới mỗi lao động, chính vì thế khi làm việc tại nước ngồi những kỷ năng, kiến

thức và trình độ chun mơn, kinh nghiệm thức tế và nhận thức của lao động cũng

được nâng lên. Thơng qua đó quốc gia có lao động đi xuất khẩu lao động sau khi về

nước sẽ có được một đội ngũ lao động có tay nghề trình độ cao, có tác phong cơng

nghiệp và ý thức kỹ luật cao hơn.

Chính vì thế cơng tác xuất khẩu lao động có một vai trò rất lớn đối với mỗi

quốc gia bởi vậy Đảng và Nhà nước ta luôn xác định đây là một trong những công

tác trọng điểm mang tính chiến lược cho quốc gia trong thời gian tới (Trần Thị

Ninh, 2010).

2.1.3 Nội dung tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống kinh tế - xã hội

của người dân xã Xuân Hồng

2.1.3.1 Tác động đến quá trình sản xuất

a. Nguồn lực sản xuất của hộ

(1) Nguồn lực đất đai

Đất đai là yếu tố thiết yếu và quan trọng khơng thể thay thế được trong quá

trình sản xuất nông nghiệp, đồng thời đất đai cũng là yếu tố phản ánh sự quan tâm

đầu tư cho hoạt các hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân hay không. Diện

tích đất đai và mức độ đầu tư thâm canh phản ảnh lên được tầm quan trọng sản xuất

nông nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế của hộ. Nhưng hiện nay xu thế của

các hộ gia đình khi có một số vốn nhất định nào đó sẽ tìm kiếm một công việc khác

thoát ly khỏi sản xuất nông nghiệp nên diện tích đất các hộ dùng để sản xuất nơng

nghiệp sẽ có xu thế giảm so với trước đây.

(2) Nguồn lực lao động

Đa số phần lớn những lao động sau khi đi xuất khẩu về nước họ sẽ được bổ

sung thêm nhiều kiến thức mới về công việc và giao tiếp xã hội cũng như những



suy nghĩ tân tiến hơn từ đó tạo ra những điều kiện thuận lợi cho lao động sau khi về

nước sẽ tìm được những công việc mới một cách dễ dàng. Song song với điều đó,

những lao động sau khi đi xuất khẩu sẽ có một số vốn nhất định và họ thường có xu

thế lựa chọn những công việc nhẹ nhàng bớt vất vả hơn và mang tính ổn định cao

như các cơng việc tại cơ quan, xí nghiệp. Chính vì thế lao động sau khi đi xuất khẩu

về thường năng động và dễ dàng phát triển kinh tế hơn. Bên cạnh đó cũng có những

lao động họ ỉ vào số tiền họ kiếm được ở nước ngồi, mang theo mình suy nghĩ

từng đấy tiền sẽ đủ sống không cần phải làm thêm gì nữa, họ rơi vào tâm lý thích

nghỉ ngơi, hưởng thụ dẫn đến những hậu quả, ảnh hưởng xấu đến gia đình của họ,

cũng như con cái của họ sau này.

(3) Nguồn lực tài chính

Mức độ đầu tư vào các trang thiết bị và máy móc cũng được các hộ gia đình

chú trọng hơn khi có người đi xuất khẩu lao động. Số vốn tích lũy được trong

khoảng thời gian lao động tại nước ngoài sẽ được các hộ sử dụng vào các mục đích

khác nhau như: mua sắm trang thiết bị, xe máy, ô tô, xây sửa nhà cửa, đầu tư sản

xuất, mua sắm trang thiết bị cho sản xuất. Sự đầu tư này làm cho hộ thay đổi về

những thói quen lạc hậu, thiếu năng suất mà chuyển qua là những suy nghĩ tân tiến

hơn, giúp hộ đạt hiệu quả kinh tế cao hơn trong sản xuất so với trước đây.

b. Ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh

(1) Tình hình đầu tư cho sản xuất

Xuất khẩu lao động là cách để các lao động tích lũy một số vốn căn bản để

sau khi hết thời gian lao động ở nước ngồi có thể tự tạo một việc làm mới cho

mình bằng nhiều cách khác nhau như: dùng số vốn đã có đầu tư vào hoạt động sản

xuất nông nghiệp hay sử dụng mở xưởng sản xuất, mở cửa hàng kinh doanh. Đây là

cơ sở để phát triển sản xuất, là nền tảng cho việc nâng cao thu nhập cho bản thân và

gia đình sau khi kết thúc thời gian lao động.

(2) Ảnh hưởng đến kết quả - hiệu quả sản xuất

Nguồn lợi về kinh tế của công tác xuất khẩu là rất lớn tạo ra những chuyển

biến cơ bản làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nâng cao mức sống cho nhiều gia đình

nơng dân. Một nghiên cứu tại Thái Bình do tổ chức Health Berdge Canada và Trung

tâm Nghiên cứu Phụ nữ thực hiện mới đây cho thấy, 73% gia đình có người đi làm

việc tại nước ngoài cải thiện đáng kể đời sống kinh tế, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt,

chất lượng cuộc sống được nâng lên. Thực tế, trước khi đi xuất khẩu lao động, thu



nhập của các hộ gia đình rất thấp, chủ yếu trong khoảng 5 - 10 triệu đồng/năm, khá

hơn một chút là đến dưới 15 triệu đồng/năm. Rất ít hộ có thu nhập một năm 30 triệu

đồng, còn trên 50 triệu đồng thì hầu như khơng có. Khi đi xuất khẩu lao động, thu

nhập của người lao động đã tăng lên đáng kể, khoảng từ 6 - 10 lần so với thu nhập

cũ. Có tới gần nửa số hộ đi xuất khẩu lao động thu nhập từ 100 - 150 triệu

đồng/năm và trên 150 triệu đồng/năm. Cùng với mức thu nhập cao, các hộ gia đình

có thêm nguồn vốn đầu tư sản xuất kinh doanh buôn bán, phát triển tiểu thủ công

nghiệp khôi phục nghề truyền thống tạo thêm nhiều việc làm mới giải quyết công

ăn việc làm cho lao động gia đình và đia phương.

2.1.3.2 Tác động đến đời sống kinh tế của hộ

a) Thu nhập và chi tiêu của hộ

(1) Thu nhập

Thu nhập là yếu tố quan trọng quyết định cho cuộc sống của người lao động.

Với một xã thuần nơng thì thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, vấn đề

được mùa mất giá là sức ép vô cùng lớn đối với người dân. Hiểu rõ vấn đề đó nên

chính quyền địa phương ln chú trọng tuyên truyền giúp đỡ người lao động tham

gia XKLĐ. Từ hoạt động xuất khẩu mà thu nhập của hộ tăng lên đáng kể so với

trước.

(2) Chi tiêu

Với nguồn thu nhập tăng cao, kéo theo đó mức sống của hộ cũng được tăng

lên. Được thể hiện rõ qua việc chi tiêu trong cuộc sống hằng ngày của hộ. Nếu như

trước đây ăn chỉ để no thì bây giờ được hộ dân chú trọng quan tâm đến việc ăn uống

làm sao cho khoa học, đảm bảo an toàn vệ sinh. Cũng như quần áo dầy dép chỉ biết

mặc làm sao cho đủ ấm thì hiện tại cũng được chú trọng về vẻ đẹp hơn.

b) Đời sống sinh hoạt của hộ

So với trước đây kinh tế gia đình đã trở nên khá hơn kéo theo đó mức sống

cũng thay đổi tốt hơn. Đời sống an nhàn, con người biết cách hưởng thụ cuộc sống

hơn. Quan tâm đến sức khỏe, biết cách làm cho tinh thần thoải mái hơn bằng việc

nâng cao các hoạt động du lịch, giải trí.

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đến đời

sống của người dân

2.1.4.1 Các yếu tố của hộ có người đi xuất khẩu lao động



a) Điều kiện của hộ đi xuất khẩu lao động

Việc đi xuất khẩu lao động hay không phụ thuộc phần lớn vào ý thức của

chính người lao động đó. Thái độ muốn hay khơng muốn đi xuất khẩu sẽ ảnh hưởng

trực tiếp đến quyết định đi hay không đi của người lao động. Nếu đi xuất khẩu lao

động người đi sẽ chịu nhiều áp lực bản thân về sự đánh đổi thời gian, cuộc sống,

công việc, xa gia đình để đến với mơi trường làm việc mới ở một đất nước khác.

Bên cạnh đó sự ủng hộ và đồng tình của người thân gia đình cũng là một yếu tố

quan trọng quyết định mình có đi hay không của người lao động.

Theo Trần Thanh Hải (2007), “Gia đình ảnh hưởng đến 50% quyết định của

lao động khi lựa chọn việc đi xuất khẩu lao động hay ở nhà làm việc”.

b) Chất lượng lao động đi xuất khẩu lao động

(1) Trình độ học vấn

Hiện nay, đa số các lao động đi xuất khẩu lao đông là lao động chưa được qua

đào tạo nghề có trình độ chun mơn thấp trong khi phí nước tiếp nhận là nước có

trình độ tiên tiến cơng nghệ hiện đại. Từ đó đòi hỏi lao động nước xuất khẩu cần

phải trang bị và học tập để nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu nước cần lao động

mới mang lại chất lượng cao, vì thế chất lượng người lao động cũng chính là

ngun nhân hạn chế số lượng lao động được sang nước ngoài làm việc.

(2) Sức khỏe người lao động

Sức khỏe của lao động là yếu tố quan trọng quyết định đến việc lao động có

được đi sang nước ngồi làm việc hay khơng, sức khỏe là thứ tất yếu phải có trong

quá trình sản xuất, lao động hàng ngày của lao động, vì thế nên các nước tiếp nhận

lao động ln yêu cầu nước cung ứng lao động có sức khỏe đạt chuẩn để đáp ứng

được yêu cầu của họ. Từ đấy đặt ra cho nước xuất khẩu lao động cần chú trọng đến

việc triển khai các chương trình, các hoạt động tuyên truyền và thiết thực để mọi

người lao động hiểu và quan tâm đến sức khỏe của bản thân, đảm bảo sức khỏe để

đáp ứng được cầu của nước nhập khẩu lao động.

2.1.4.2 Các yếu tố khách quan

a) Thu nhập của người lao động

Thu nhập là lý do quan trọng nhất cũng là yếu tố gây ảnh hưởng lớn nhất dẫn

đến người lao động quyết định đi xuất khẩu lao động hay không. Hằng năm, hằng

tháng người lao động thường gửi về cho gia đình một số tiền khơng nhỏ và số tiền



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

e) Xuất khẩu lao động phụ thuộc nhiều vào chính sách của quốc gia

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×