Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Tải bản đầy đủ - 0trang

DANH MỤC BẢNG

Bảng

3.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã Xuân Hồng

3.2 Kết quả sản xuất kinh doanh các nghành kinh tế của xã giai đoạn



Trang

27

29



2015-2017

4.1 Tổng số lao động đi xuất khẩu lao động của xã Xuân Hồng qua các



38



năm từ 2014 đến 2017

4.2 Trình độ chuyên môn của lao động đi xuất khẩu trên địa bàn xã Xuân



39



Hồng

4.3 Độ tuổi người đi xuất khẩu lao động ở xã Xuân Hồng giai đoạn



40



2015-2017

4.4 Các quốc gia nhập khẩu lao động của xã Xuân Hồng

4.5 Thông tin chung về hộ điều tra

4.6 Giới tính của người đi XKLĐ

4.7 Độ tuổi trung bình của người đi XKLĐ

4.8 Trình độ học vấn của người đi XKLĐ

4.9 Tình trạng hôn nhân của người đi XKLĐ

4.10 Nghề nghiệp của người đi XKLĐ

4.11 Lý do đi XKLĐ

4.12 Thời gian đi XKLĐ

4.13 Chi phí cho lao động đi xuất khẩu ở các hộ đi điều tra

4.14 Nguồn vốn đi XKLĐ

4.15 Thu nhập theo quốc gia

4.16 Thu nhập của hộ điều tra

4.17 Mức chi tiêu của hộ

4.18 Tình hình về mức đầu tư sản xuất, kinh doanh của hộ trong thời



42

43

45

45

46

47

48

49

50

51

53

54

56

58

60



gian qua

4.19 Số liệu về mức sống hiện tại, kinh tế và chi tiêu của hộ

4.20 Hoạt động du lịch, giải trí của hộ

4.21 Mức độ quan tâm chăm sóc sức khỏe của hộ điều tra

4.22 Mức độ thay đổi chức năng gia đình sau khi có XKLĐ

4.23 Mối quan hệ của gia đình khi có người đi XKLĐ

4.24 Trình độ chun mơn, tay nghề của lao động khi làm việc ở nước



61

62

63

64

65

66



ngoài

4.25 Trình độ ngoại ngữ của lao động

4.26 Tình trạng sức khỏe thể trạng của người lao động

4.27 Tình trạng tệ nạn xã hội trên địa bàn xã



67

68

68



10



PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT

Việt Nam là nước đang phát triển có dân số đứng thứ 13 trên thế giới với 90,5

triệu người, hằng năm với mức tăng trung bình khoảng 1 triệu người, là nước có lợi

thế về sức lao động. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng tồn cầu

hóa, Việt Nam đang có nhiều cơ hội phát huy lợi thế nguồn nhân lực, trao đổi hàng

hóa “sức lao động”. Mặt khác, trong điều kiện đất nước ta hiện nay, hơn 70% lao

động sống ở nông thơn, trình độ chun mơn tay nghề thấp, tiền cơng sức lao động

rẻ, sức ép việc làm lớn, mỗi năm có khoảng 2,45% người dân cần việc làm. Chính

vì vậy, xuất khẩu lao động không những là chủ trương lớn của đảng và nhà nước,

mà còn là chiến lược quan trọng lâu dài góp phần giải quyết việc làm cho số người

đến độ tuổi lao động, giảm thiểu gánh nặng của quốc gia. Do đó, xuất khẩu lao động

trở thành vấn đề cấp thiết có nội dung kinh tế - xã hội sâu sắc và liên quan chặt chẽ

với các yếu tố kinh tế khác trong định hướng phát triển kinh tế quốc gia (Trần Thị

Lý, 2015).

Xuất khẩu lao động của nước ta bắt đầu từ những năm 1980 thông qua hình

thức đưa lao động sang các nước xã hội chủ nghĩa làm việc theo Hiệp định hợp tác

quốc tế về lao động. Từ năm 1991 đến nay, xuất khẩu lao động đã được chuyển dần

theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hằng năm số lượng lao động được đưa đi đều tăng lên và hiệu quả năm sau đều đạt

cao hơn năm trước, hiện nay có khoảng hơn 500 ngàn lao động làm việc ở 41 nước

và vùng lãnh thổ (Trần Thị Lý, 2015). Xuất khẩu lao động đối với nước ta đã thực

sự trở thành một giải pháp hữu hiệu đối với cơng cuộc xóa đói giảm nghèo và cải

thiện đời sống cho 1 số bộ phận người lao động, đặc biệt ở khu vực nông thôn.

Nguồn lợi kinh tế của công tác xuất khẩu lao động là rất lớn đã tạo ra những chuyển

biến làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nâng cao mức sống của nhiều hộ gia đình nơng

dân.

Xã Xn Hồng, huyện Nghi Xn, tỉnh Hà Tĩnh trong những năm qua, cấp

đảng ủy chính quyền địa phương coi xuất khẩu lao động là một trong những nhiệm

vụ quan trọng góp phần phát triển nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho

người lao động, làm giàu chính đáng, tăng nguồn thu ngoại tệ và cũng là một trong

những biện pháp xóa đói giảm nghèo, góp phần khơng nhỏ thúc đẩy sự phát triển

kinh tế xã hội ở địa phương. Số lao động đi xuất khẩu của xã ngày càng tăng, nhiều



hộ gia đình từ hộ nghèo đã trở nên khá giả hơn, nhà cửa khang trang, mua sắm được

tiện nghi sinh hoạt đắt tiền và có vốn làm ăn ổn định tăng gia sản xuất kinh doanh

nâng cao thu nhập.

Hoạt động xuất khẩu lao động trên địa bàn xã Xuân Hồng đã mang lại nhiều

lợi ích cho đời sống kinh tế và xã hội của người dân một cách rõ rệt. Lượng lao

động đi xuất khẩu của xã tăng dần qua các năm, năm sau cao hơn năm trước. Nhìn

chung một cách tổng quát, xuất khẩu lao động ở xã Xuân Hồng đã giải quyết được

mục tiêu trước mắt là tạo việc làm cho người dân trên địa bàn xã. Hiện nay đã có

gần 400 người đi lao động ở nhiều nước bao gồm: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,

Thái Lan, Angola và khoản tiền mà mỗi người mang về hàng năm khoảng 80 đến

300 triệu đồng. Đây là khoản thu không hề nhỏ với mỗi lao động nông thôn. Nguồn

lợi về kinh tế của hoạt động xuất khẩu lao động đã được khẳng định, tạo ra bước

chuyển biến cơ bản làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nâng cao mức sống cho nhiều

hộ gia đình. Song song với những mặt tích cực của xuất khẩu lao động mang lại thì

nó vẫn gây ra một số hệ lụy đến đời sống của người dân. Xuất phát từ những vấn đề

lí luận và thực tiễn như trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tác động của xuất khẩu

lao động đến đời sống kinh tế và xã hội của người dân trên địa bàn xã Xuân Hồng,

huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh”.

1.2 MỤC TIÊU CHUNG

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống kinh tế xã hội của

người dân trên địa bàn xã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; từ đó đề

xuất một số giải phát nhằm tăng thu nhập và giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của

xuất khẩu lao động đến đời sống kinh tế xã hội của người dân trên địa bàn xã.

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

(1) Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về lao động, xuất khẩu lao

động, đánh giá tác động;

(2) Đánh giá thực trạng xuất khẩu lao động trên địa bàn xã Xuân Hồng, huyện

Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh;

(3) Phân tích tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống kinh tế và xã hội của

người dân trên địa bàn xã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh;



(4) Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu

cực của xuất khẩu lao động đến người dân trên địa bàn xã Xuân Hồng, huyện

Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu là nghiên cứu về tác động của xuất khẩu lao động đến

đời sống kinh tế và xã hội của người dân trước và sau khi có xuất khẩu lao động.

Đối tượng khảo sát là các hộ gia đình có người đi xuất khẩu lao động, các

thành viên trong gia đình có người đi xuất khẩu lao động, người dân và cán bộ tại

địa phương.

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Phạm vi về nội dung

Đề tài tập trung đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống kinh

tế và xã hội của người dân trước và sau khi có người đi xuất khẩu lao động, các hộ

gia đình có người đi và khơng có người đi xuất khẩu lao động.

1.4.2 Phạm vi không gian

Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại xã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân, tỉnh

Hà Tĩnh.

1.4.3 Phạm vi về thời gian

Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 2/ 2018 đến 6/ 2018

Thông tin, số liệu thứ cấp: từ năm 2015 đến năm 2017. Điều tra khảo sát trong

năm 2018



PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Các khái niệm có liên quan

2.1.1.1 Lao động

a) Lao động

Lao động là hoạt động có mục đích của con người, nhằm tạo ra những của cải

vật chất, tinh thần cho xã hội (Từ điển Tiếng Việt, 2007).

Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm làm thay

đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người (Vũ Anh Tuấn

và Phạm Đức Hạnh, 2005).

Như vậy, lao động chính là hoạt động của con người tác động vào giới tự

nhiên, làm biến đổi tự nhiên theo những mục đích nhất định của mình. Con người

có thể dùng sức mạnh cơ bắp hoặc trí tuệ để tác động vào tự nhiên biến chúng thành

có ích cho cuộc sống của mình.

b) Lao động đã qua đào tạo nghề

Theo cơng văn số 4190 ngày 29/11/2015 của bộ lao động – Thương binh và

xã hội: lao động đã qua đào tạo nghề là những người đã hồn thành ít nhất một

chương trình đào tạo của một nghề tại cơ sở dạy nghề (gồm cả các cơ sở sản xuất

kinh doanh) và được cấp văn bằng chứng chỉ nghề được thừa nhận theo các kiến

thức hiện hành.

Lao động có nghề là loại lao động trước khi ra nước ngoài làm việc đã được

đào tạo thành thạo một loại nghề nào đó và khi số lao động này ra nước ngồi làm

việc có thể bắt tay ngay vào công việc mà không phải bỏ ra thời gian và chi phí để

tiến hành đào tạo nữa theo tổ chức lao động quốc tế.

Như vậy, lao động đã qua đào tạo nghề là những lao động đã tham gia ít nhất

một chương trình đào tạo nghề tại cơ sở dạy nghề và có bằng hay chứng chỉ xác

nhận tay nghề của lao động đó.

c) Lao động chưa qua đào tạo nghề

Được hiểu là những người chưa có bất kỳ loại văn bằng chứng chỉ nào và

thực tế cũng khơng đảm nhận một cơng việc nào đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật từ 3

năm trở lên hoặc cơng việc đòi hỏi kỹ thuật nhưng kinh nghiệm chưa đủ 3 năm.



Theo thống kê lao động việc làm hàng năm của Bộ LĐ – TB và XH thì lao động

chưa qua đào tạo không bằng, không chứng chỉ là những người tuy chưa qua một

trường lớp đào tạo nhưng do tự học, do được truyền nghề hoặc vừa làm vừa học nên

họ đã có được kỹ năng, tay nghề tương đương với bậc của lao động đã qua đào tạo

có bằng cùng nghề và thực tế đã làm cơng việc đang làm từ 3 năm trở lên.

Theo tổ chức lao động quốc tế lao động khơng có nghề: Là loại lao động mà

khi ra nước ngoài làm việc chưa được đào tạo một loại nghề nào cả. Loại lao động

này thích hợp với những cơng việc đơn giản, khơng cần trình độ chun mơn hoặc

phía nước ngồi cần phải tiến hành đào tạo cho mục đích của mình trước khi đưa

vào sử dụng.

Như vậy, ngược lại với lao động đã qua đào tạo nghề thì lao động chưa qua

đào tạo nghề là lao động chưa được đào tạo qua một trường lớp hay tổ chức nào.

d) Sức lao động

Sức lao động là phạm trù chỉ khả năng lao động của con người, là tập hợp thể

lực và trí lực của con người được con người vận dụng trong quá trình lao động

(Nguyễn Mậu Dũng, 2011).

Sức lao động là tồn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ

thể, trong một con người đang sống và được đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất một

giá trị thặng dư nào đó (Vũ Anh Tuấn và Phạm Đức Hạnh, 2005).

Như vậy, sức lao động là thể lực và trí lực của con người. Tồn tại trong cơ thể

sống, được con người vận dụng trong quá trình lao động.

e) Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò

của yếu tố con người trong quá trình phát triển. Nguồn nhân lực không chỉ bao hàm

những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, cũng khơng chỉ bao hàm

mặt chất lượng mà còn chứa đựng những hàm ý rộng lớn hơn, có thể nói 1 cách

tổng quát nguồn nhân lực chính là nguồn lực về con người, được hình thành từ cơ

sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau đạt được những

mục tiêu nhất định trong một đơn vị, tổ chức hay một quốc gia.

Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một

địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị sẵn sàng tham gia một cơng việc lao

động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng bằng con đường đáp ứng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×