Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƯỜNG GIÁP VÀ THAI KỲ

CƯỜNG GIÁP VÀ THAI KỲ

Tải bản đầy đủ - 0trang

| Văn Phòng Y Khoa Tập Đồn



− Bệnh nhân đã được chẩn đoán và điều trị với kháng giáp từ trước lúc có thai, đang điều trị

bằng kháng giáp: nồng độ phải được kiểm tra vào 3 tháng giữa và 3 tháng cuối của thai kỳ.

Những nghiên cứu mới đang khăng định, tình trạng độc giáp của thai nhi chỉ xảy ra trên

những bà mẹ có nồng độ KT kháng thụ thể TSH cao.

− Bệnh nhân đã được điều trị ổn định (bình giáp) trước lúc có thai: vì bệnh Graves là bệnh tự

miễn, nên cần phải theo dõi nồng độ KT kháng thụ thể TSH, KT vẫn có thể tăng ngay cả khi

phẫu thuật tuyến giáp; điều trị phóng xạ bằng I131 hay dùng kháng giáp trước đó. Tuy vậy

kiểm tra một cách hệ thống nồng độ KT kháng thụ thể TSH là không bắt buộc đối với những

bà mẹ bình giáp ổn định trước khi mang thai được điều trị tốt bệnh Graves. Vì rủi ro độc giáp

đối với thai nhi là không đáng kể, tùy thuộc vào mức độ KT kháng thụ thể TSH của mẹ. Do đó

cũng nên đo nồng độ KT kháng thụ thể TSH vào giai đoạn đầu của thai kỳ để đánh giá rủi ro.

− Thai phụ khơng được chẩn đốn bệnh Graves trước lúc có thai, nhưng có kháng thể KT kháng

thụ thể TSH. Ở những thai phụ này cần kiểm tra nồng độ KT kháng thụ thể TSH vào 3 tháng

cuối để có thái độ xử trí.



Nhìn chung: Tình trạng cường giáp trên bệnh nhân Graves thường có khuynh

hướng tự cải thiện trong thai kỳ. Được giải thích như sau:

+



Là do sự ức chế miễn dịch một phần (đặc điểm khi mang thai) đưa đến giảm có ý nghĩa nồng độ KT

kháng thụ thể TSH.



+



Tăng đáng kể TBG huyết thanh đưa đến giảm những phân đoạn FT3, FT4.



+ Mất Iod.

3.3.



Đánh giá điều trị:



− Nếu thai phụ được chẩn đoán cường giáp trong 3 tháng đầu của thai kỳ, sẽ điều trị kháng

giáp tổng hợp và xem xét chỉ định phẫu thuật vào 3 tháng giữa.

− Bệnh nhân chỉ được điều trị kháng giáp nếu bắt buộc. Liều kháng giáp được duy trì ở liều tối

thiểu và ngưng ngay nếu có thể được.

− Không phối hợp thuốc kháng giáp và Thyroxin để duy trì tình trạng bình giáp của thai nhi. Vì

kháng giáp qua nhau thai nhưng Thyroxin qua nhau thai rất ít.

− Thuốc:

+



Ưu tiên sử dụng PTU, vì hòa tan trong nước, song ít truyền từ mẹ qua nhau thai, ít ra sửa.



+



Song nếu khơng có PTU, carbimazol hay methimazol cũng vẫn có thể được sử dụng.



+



Liều dùng: PTU liều duy trì 50 – 100mg x 2 lần/ngày.







Chống chỉ định điều trị phóng xạ.



4. Chức năng tuyến giáp của thai nhi và trẻ chu sinh ở những thai phụ mắc bệnh Graves:





nhiều cách:



Chức năng tuyến giáp của thai nhi và trẻ chu sah có thể bị ảnh hưởng bằng



− Khi nồng độ KT kháng thụ thể TSH ở mẹ tăng trong 3 tháng đầu và không giảm trong 3 tháng

giữa, sẽ đưa đến cường giáp ở thai nhi (biểu hiện bằng: bướu giáp, chậm tăng trưởng, tăng

biệt hóa xương, nhịp tim nhanh,...). Có thể kiểm tra hormone từ máu dây rốn để xác định.

Song phương cách này quá phức tạp, nên nếu thấy nhịp tim nhanh và tồn tại là có chỉ định

điều trị cho mẹ.



Mạng Lưới Bệnh Viện Hoàn Mỹ

Đà Nẵng | Đà Lạt | Đồng Nai | Sài Gòn | Cần Thơ | Cà Mau



77



| Văn Phòng Y Khoa Tập Đồn



− Tình trạng độc giáp trạng ở bào thai và sử dụng thuốc kháng giáp ở mẹ có thể đưa đến dị

dạng ở bào thai. Song quan điểm sử dụng kháng giáp vẫn được ủng hộ.

− Khi mẹ dùng thuốc kháng giáp có thể đưa đến suy giáp ở thai nhi. Do vậy nên duy trì nồng độ

T3, T4 của mẹ ở giới hạn cao.

− Tình trạng độc giáp trạng và tình trạng sử dụng kháng giáp ở mẹ cũng có thể đưa đến bướu

cổ ở thai nhi. Do nồng độ KT kháng thụ thể TSH cao ở mẹ có thể qua nhau thai, kích thích

tuyến giáp thai nhi và cũng một phần do tác dụng của thuốc kháng giáp trên thai nhi.

− Tình trạng nhiễm độc giáp ở thai nhi và chu sinh hiếm. Thường gặp ở những bà mẹ khơng

được điều trị tốt, có nồng độ KT kháng thụ thể TSH cao.

− Độc giáp chu sinh: hiếm gặp, chỉ khoảng 1% phụ nữ mắc bệnh Graves. Gồm hai hình thức:

+ Bệnh Graves chu sinh: Trẻ sinh ra nhỏ, thiếu cân, yếu cơ, mạch nhanh, suy hô hấp, suy tim,

vàng da,...





Xét nghiệm: FT3, FT4 tăng, TSH giảm, Tuổi xương cao.







Bệnh này tự giới hạn và phục hồi sau 4 –12 tuần (trùng hợp với thời gian giảm dần của TSHR-Ab).







Tùy tình trạng chu sinh có thể điều trị với:



o



PTU 5 – 10mg/kg/ngày.



o



Lugol 1 giọt/8 giờ.



o



Propranolol 2mg/kg/ngày.



o Cortisol.

+ Độc giáp chu sinh xảy ra muộn: Sau 3 – 6 tháng từ khi sinh. Thường xảy ra ở những gia đình

có bệnh lý về miễn dịch, đòi hỏi phải điều trị và theo dõi lâu dài.

5. Cho con bú ở những bà mẹ mắc bệnh Graves:



Vấn đề được đặt ra ở đây là liệu có an tồn cho trẻ sơ sinh khi bú sữa mẹ đang

dùng thuốc kháng giáp. Qua nghiên cứu, người ta thấy khơng có một ảnh hưởng đáng kể nào

trên trẻ sơ sinh bú sữa mẹ đang dùng kháng giáp. Song xét vì những phương diện khác,

người ta vẫn đưa ra những lời khuyên:





Nên dùng PTU hơn carbimazol, cho dù cả hai điều tiết ra sữa, xong PTU tiết ra ít hơn.







Cũng nên sử dụng liều vừa phải khi đang cho con bú (PTU < 150mg/ngày).



− Thận trọng khi trẻ sơ sinh có những phản ứng dị ứng với thuốc kháng giáp.



Nhìn chung cường giáp trong thai kỳ không phải là bệnh hiếm gặp trong thực tế lâm

sàng. Nó ảnh hưởng trên cả mẹ lẫn thai nhi, đòi hỏi các thầy thuốc lâm sàng phải cảnh giác và có sự

hiểu biết.















Biên soạn: Bệnh viện Hồn Mỹ Cửu Long

*****



Mạng Lưới Bệnh Viện Hoàn Mỹ

Đà Nẵng | Đà Lạt | Đồng Nai | Sài Gòn | Cần Thơ | Cà Mau



78



| Văn Phòng Y Khoa Tập Đồn



− ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 1





*****



I.ĐẠI CƯƠNG

− Đái tháo đường típ 1 là do tình trạng thiếu insulin trầm trọng dẫn đến tăng

glucose máu và acid béo gây ra tình trạng đa niệu thẩm thấu và nhiễm ceton.

− Thề bệnh này thường gặp ở người trẻ và trẻ em nhưng cũng có thể gặp ở

người trưởng thành khơng béo phì.

− III CHẨN ĐỐN

• Đái tháo đường típ 1 thường được chẩn đốn khi có triệu chứng lâm sàng xuất hiện rầm

rộ với ăn nhiều, khát nước, tiểu nhiều, sụt cân kèm theo đường huyết bất kỳ ≥ 200 mg/dl

(11,1 mmol/L).

• Các xét nghiệm chẩn đoán:

o Các xét nghiệm đường huyết: theo các tiêu chí chẩn đốn

o Các xét nghiệm khác: Định lượng C- peptid máu, Insulin máu, Anti GAD ( Glutamic

Acid Decarboxylase antibody ), ICA ( Islet cell antibody), Insulin antibody.

o Các xét nghiệm đánh giá các bệnh lý miễn dịch thường có liên quan đến đái tháo

đường típ 1: TSH, FT4, Vitamin B12/ máu.



IV. ĐIỀU TRỊ



1. Mục tiêu

 Làm giảm các triệu chứng liên quan đến tăng đường huyết.

 Đạt được sự kiểm sốt chuyển hóa.

 Phòng ngừa biến chứng cấp. Ngăn chặn hoặc làm chậm sự xuất hiện các biến chứng

mạch máu nhỏ và lớn.

− Mục tiêu kiểm soát

− + Glucose máu (người lớn) theo hiệp hội đái tháo đường Mỹ 2012:

• Glucose máu đói: 80-130 mg%

• Đỉnh glucose máu sau ăn < 180mg% ( 1-2 giờ sau khi bắt đầu ăn)

• HbA1c < 7%.

− + Huyết áp: < 130/80 mmHg ( ở bệnh nhân giảm GFR và tiểu đạm lượng lớn

(macroalbuminuria) HA mục tiêu là < 125/ 75mg Hg)

− + Lipid máu: LDL-c: < 2,6mmol/L ( < 100mg/dl)



HDL-c: > 1.1 mmol/L ( > 40mg/dl với nam giới và > 50mg/dl với

nữ.



Triglycerid: < 1.7 mmol/L ( <150mg/dl)

− Chú ý: Người bị đái tháo đường típ 1 khi có thai sẽ theo bảng hướng dẫn riêng

− 2. Nguyên tắc:

• Insulin là thuốc điều trị suốt đời .

• Điều trị với sự kết hợp các biện pháp như chế độ ăn, vận động thể lực và Insulin.

• Cân bằng lượng insulin tiêm trước bữa ăn với lượng hấp thu carbohydrat, glucose máu

trước các bữa ăn và hoạt động thể lực.

− 3. Điều trị đặc hiệu

1

Chế độ ăn:



Tính năng lượng và dinh dưỡng theo từng cá nhân, dựa vào độ tuổi, mức lao động và

giới tính. Năng lượng cho người hoạt động trung bình khoảng 35 Kcal/kg/ngày. Tỷ lệ các

thành phần dinh dưỡng trong chế độ ăn hàng ngày: 50 -55 % carbohydrate và chất xơ,

protein 10-20%, lipid < 30% (mỡ bão hòa ở mức tối thiểu).





Mạng Lưới Bệnh Viện Hoàn Mỹ

Đà Nẵng | Đà Lạt | Đồng Nai | Sài Gòn | Cần Thơ | Cà Mau



79



| Văn Phòng Y Khoa Tập Đồn



3.2 Vận động thể lực: Loại hình vận động tùy theo sở thích và phải phù hợp

với tình trạng bệnh lý nhưng đảm bảo thời gian là 30 phút mỗi ngày hoặc ít

nhất 150 phút mỗi tuần.

− 3.3 Điều trị Insulin:

Tổng liều nhu cầu insulin biến thiên từ 0.25-1 đơn vị/kg/ ngày, trung bình 0.5 đơn vị/

kg/ ngày (điều chỉnh tùy cá thể).

Liều insulin trước bữa ăn trung bình 0.13 đơn vị/ kg hoặc 1/6 tổng liều insulin kết

hợp với xem xét cùng với yếu tố hiệu chỉnh glucose máu và tỷ số carbohydrate của

insulin.

Tỷ số insulin với carbohydrate được ước tính bởi cơng thức 500 / tổng nhu cầu

insulin.

o Ví dụ 500 / tổng nhu cầu insulin 50 đơn vị = 10 , như vậy mỗi 10 g

carbohydrate ăn vào cần 1 đơn vị insulin .



Yếu tố hiệu chỉnh glucose máu được tính theo cơng thức 1800/ tổng nhu cầu

insulin

o Ví dụ 1800/ 50( tổng nhu cầu insulin ) = 36 nghĩa là 1 đơn vị insulin có thể

giảm được 36mg / dl glucose trong máu.

Liều insulin nền khoảng 45 – 55% tổng nhu cầu insulin, trung bình 0.4 đơn vị/kg

/ngày với insulin glargin hay determir tiêm một lần/ ngày, hoặc insulin NPH tiêm 2

lần/ ngày với liều khoảng 0,2 đơn vị / kg.

Các chế độ tiêm insulin:

− Chế độ điều trị thông thường: Phác đồ tiêm insulin thông thường (qui ước) 2

lần trong ngày. Thường sử dụng insulin premix hoặc insulin bán chậm.

− Chế độ điều trị tích cực: là mấu chốt của cải thiện đường huyết và đạt được

kết quả tốt nhất.

− * Chế độ điều trị với tiêm insulin với nhiều mũi tiêm insulin mỗi ngày (3 đến 4

mũi tiêm):

Tiêm 3 lần/ ngày: có nhiều kiểu phối hợp

Hoặc tiêm insulin tác dụng nhanh + bán chậm vào trước bữa ăn sáng, insulin tác

dụng nhanh vào trước ăn chiều và insulin tác dụng bán chậm vào trước khi đi ngủ.

Hoặc insulin premix vào trước các bữa ăn. Hoặc chỉ đơn thuần là sử dụng insulin bán

chậm trước 3 bữa ăn chính.

Tiêm 4 lần/ ngày: gồm các mũi tiêm insulin tác dụng nhanh vào ngay trước các bữa ăn

và insulin nền ( insulin bán chậm hoặc chậm) vào buổi tối hoặc sáng.

− * Truyền insulin dưới da liên tục, hoặc bơm tiêm insulin. Bơm tiêm insulin liên

tục đặt dưới da có thể thay thể cho phương pháp tiêm nhiều lần trong ngày,

tuy nhiên đòi hỏi huấn luyện bệnh nhân kỹ trước khi sử dụng và chi phí cao.

− - Chú ý: Không sử dụng insulin tác dụng nhanh cho lần tiêm trước khi đi ngủ.

Khi đổi từ một phác đồ này sang phác đồ điều trị khác cần kiểm tra đường

huyết để tránh xảy ra nguy cơ hạ đường huyết.

− Phác đồ tiêm insulin nhiều hơn 2 lần/ ngày cần cân nhắc cẩn thận ở người già

cô đơn, người khơng có nhu cầu thực sự làm giảm đường huyết, người kém

lanh lợi không thể thực hiện một chế độ điều trị phức tạp.

− 3.4 Điều chỉnh liều: Dựa vào glucose máu khi đói, glucose máu trước các bữa

ăn và glucose máu ban đêm để chỉnh liều. Tăng /giảm liều thường từ 2-3 đơn

vị/lần. Mỗi 2-3ngày điều chỉnh liều một lần nếu như khơng có tăng glucose

máu q mức hoặc hạ đường huyết.

































Mạng Lưới Bệnh Viện Hồn Mỹ

Đà Nẵng | Đà Lạt | Đồng Nai | Sài Gòn | Cần Thơ | Cà Mau



80



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƯỜNG GIÁP VÀ THAI KỲ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×