Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
HỘI CHỨNG SUY NÚT XOANG

HỘI CHỨNG SUY NÚT XOANG

Tải bản đầy đủ - 0trang

| Văn Phòng Y Khoa Tập Đồn



Epinephrine: 2-10mcg/kg/ph truyền tĩnh mạch, Isoproterenol : 2-20mcg/kg/ph

truyền tĩnh mạch

-



Nếu không hiệu quả  tạo nhịp qua da hay qua đường tĩnh mạch



- Tạo nhịp vĩnh viển

Ngưng xoang

Ngưng xoang là tình trạng khơng có xung động thốt khỏi nút xoang và khơng có sự khử cực

nhĩ do nút xoang.

-



ECG: khoảng ngưng xoang sẽ không phải là bội số của khoảng PP. Ngưng xoang có

thể gặp ở vận động viên luyện tập nhiều nhưng hiếm khi ngưng kéo dài trên 3

giây. Khoảng ngừng tim thường kết thúc bởi: nhịp xoang, nhịp bộ nối hay nhát

thoát thất, nếu kéo dài >3s xem xét đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn.



Block xoang nhĩ:

Block xoang nhĩ xảy ra khi xung động vẫn được hình thành trong nút xoang nhưng khơng dẫn

truyền được đến nhĩ.

-



ECG: đoạn block có độ dài là bội số của khoảng PP. Tương tự block nhĩ thất, block

xoang nhĩ được chia thành độ I, II, và III nhưng không thể xác định độ block xoang

nhĩ độ I và III trên điện tâm đồ bề mặt vì khơng thể các định được sự khử cực nút

xoang. Vì vậy, trên điện tâm đồ bề mặt ta chỉ thấy được block xoang nhĩ độ II



Điều trị :

-



Điều trị nguyên nhân



- Block xoang nhĩ có triệu chứng điều trị giống nhịp chậm xoang

Hội chứng nhịp nhanh – nhịp chậm:

Bệnh nhân có biểu hiện những cơn chuyển từ nhịp nhanh sang nhịp chậm và ngược lại, đôi

khi phải đo bằng Holter 24h.

-



Nhịp nhanh: nhanh nhĩ, rung nhĩ, cuồng nhĩ, nhịp bộ nối, nhịp thất gia tốc. Do cơn

nhịp nhanh gây ức chế nút xoang và các ổ phát nhịp khác nên khi cơn nhịp nhanh

kết thúc, nút xoang vẫn không thể hoạt động lại ngay, có thể gây ngưng tim kéo

dài và gây ra triệu chứng, thậm chí có thể gây ngất hoặc đột tử.



-



Nhịp chậm: chậm xoang, ngưng xoang hoặc block xoang nhĩ



Mạng Lưới Bệnh Viện Hoàn Mỹ

Đà Nẵng | Đà Lạt | Đồng Nai | Sài Gòn | Cần Thơ | Cà Mau



103



| Văn Phòng Y Khoa Tập Đồn



Liệt nhĩ mạn:

Gọi là liệt nhĩ mạn khi bệnh nhân hoàn tồn khơng có hoạt động điện của nhĩ, nhĩ cũng

khơng bị kích thích bởi xung động điện khi thăm dò điện sinh lý.

-



ECG cho thấy nhịp bộ nối hoặc nhịp thất và khơng ghi nhận sóng P. Cần phân biệt

tình trạng này với rung nhĩ sóng nhỏ ở bệnh nhân block nhĩ thất hồn tồn.



Rung nhĩ mạn

Đây khơng phải là biểu hiện thường gặp của suy nút xoang, rung nhĩ có thể xuất hiện từng

lúc và ngưng đột ngột. Sau khi rung nhĩ kết thúc, nếu nút xoang không hoạt động trở lại sẽ

gây vô tâm thu kéo dài, từ đó gây ngất hoặc đột tử.



Bệnh nhân có rung nhĩ chậm và ngưng đột ngột, sau rung nhĩ kết thúc, nút xoang vẫn không

thể hoạt động trở lại và bệnh nhân sốt sót do rung nhĩ tái phát.

Mất khả năng tăng nhịp tim khi gắng sức (chronotropic incompetence)

Bệnh nhân có thể có nhịp tim khi nghỉ bình thường, nhưng khi gắng sức nếu bệnh nhân

không thể đạt được 80% tần số tim theo tuổi và nếu đã loại trừ các ngun nhân khác gây ra

nhịp chậm thì ta có thể chẩn đoán bị nhân bị mất khả năng tăng nhịp tim khi gắng sức.

II.



Tiêu chuẩn nhập viện



 Ngất,dọa ngất

 Nguy cơ cao bệnh mạch vành gây ra nhịp chậm

 Nhịp chậm < 40 lần/phút

 Nhịp thoát bộ nối



Mạng Lưới Bệnh Viện Hoàn Mỹ

Đà Nẵng | Đà Lạt | Đồng Nai | Sài Gòn | Cần Thơ | Cà Mau



104



| Văn Phòng Y Khoa Tập Đồn



 Rung nhĩ đáp ứng thất chậm, có nhịp chậm < 40 lần/phút, hoặc thời gian vơ tâm thu

kéo dài, hoặc có dấu hiệu giảm áp lực tưới máu não.

 Ngưng xoang kéo dài, block xoang nhĩ độ 3

 Hội chứng nhịp nhanh nhịp chậm

Chi định đặt máy tạo nhịp (theo ESC 2007)

Class I



1. Rối loạn chức năng nút có biểu hiện nhịp chậm gây triệu chứng, nhịp

chậm này có thể do tình trạng nhịp nhanh (hội chứng nhịp nhanh – nhịp

chậm) hoặc không. Các triệu chứng do nhịp chậm này phải xảy ra tự

phát hoặc do thuốc điều trị mà khơng có thuốc khác thay thế.

2. Ngất do rối loạn chức năng nút xoang, xảy ra tự phát hoặc gây ra khi

tiến hành thăm dò điện sinh lý.

3. Rối loạn chức năng nút xoang biểu hiện bằng mất khả năng tăng nhịp

tim khi gắng sức xảy ra tự phát hoặc do thuốc điều trị mà khơng có

thuốc khác thay thế.



Class IIa



1. Bệnh nút xoang có triệu chứng, xảy ra tự phát hoặc do thuốc mà khơng

có thuốc khác để thay thế, nhịp tim khi nghỉ <40 lần/phút, không ghi

nhận được sự liên quan giữa triệu chứng với nhịp tim.

2. Ngất không rõ nguyên nhân và bất thường chức năng nút xoang khi

thăm dò điện sinh lý (thời gian phục hồi nút xoang >800ms).



Class IIb



1. Bệnh nút xoang, triệu chứng nhẹ, nhịp tim trong lúc thức khi bệnh nhân

nghỉ <40 lần/phút và khơng có bằng chứng mất khả năng tăng nhịp tim

khi gắng sức.



Class III



1. Nhịp chậm xoang không triệu chứng, bao gồm cả nhịp chậm do thuốc.

2. ECG cho thấy có rối loạn chức năng nút xoang nhưng triệu chứng thì

khơng phải do nhịp chậm trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra.

3. Rối loạn chức năng nút xoang có triệu chứng gây ra bởi những thuốc

khơng quan trọng.

-



Các thuốc kích thích thụ thể beta-adrenergic và theophyllin liều 550mg/ngày có

thể giúp tăng nhịp tim, giảm thời gian ngưng xoang nhưng khơng thể ngăn ngừa

ngất.



-



Nếu có ngun nhân thì nên tập trung vào việc điều trị nguyên nhân.



-



Nếu bệnh nhân có hội chứng nhịp nhanh – nhịp chậm, đặc biệt khi nhịp nhanh là

rung nhĩ, thì việc dùng các thuốc nhằm duy trì nhịp xoang hoặc kiểm sốt đáp

ứng thất có thể ức chế chức năng nút xoang, khi đó việc điều trị chủ yếu là đặt

máy tạo nhịp tim nhằm tạo thuận lợi để sử dụng các thuốc chống loạn nhịp.



Theo dõi sau đặt máy tạo nhịp



Sau đặt máy tạo nhịp, BN cần được theo dõi sát để phát hiện sớm các biến chứng như: tụ

máu, chảy máu, nhiễm trùng, máy tạo nhịp không dẫn…Sau xuất viện, bệnh nhân cần được



Mạng Lưới Bệnh Viện Hoàn Mỹ

Đà Nẵng | Đà Lạt | Đồng Nai | Sài Gòn | Cần Thơ | Cà Mau



105



| Văn Phòng Y Khoa Tập Đoàn



kiểm tra máy định kỳ mỗi 1 tháng, 3 tháng hoặc 6 tháng, sau đó 6 tháng đến 1 năm, để có

thể phát hiện các bất thường của máy tạo nhịp hoặc phát hiện các biến chứng muộn.

Tài liệu tham khảo:

1. Phác đồ điều trị BV Chợ Rẫy 2013

2. Loạn nhịp tim trong lâm sàng: chẩn đoán và điều trị, Hồng Quốc Hòa, 2006

3. Ziad Issa, John M. Miller, Douglas P. Zipes . Clinical arrhythmology and

electrophysiology : a companion to Braunwald’s heart disease1st ed, 2009.

4. Basic and Bedside Electrocardiography / Romulo F. Baltazar MD, FACC,1st Edition, 2009

5. Marriott's Practical Electrocardiography, 11th Edition, 2008

6. Hurst's The Heart, 12th Edition, 2009

7. Textbook of Cardiovascular Medicine, 3rd Edition, 2007

8. ESC Guidelines for cardiac pacing and cardiac resynchronization therapy 2007



Biên soạn: Bệnh viện Hồn Mỹ Sài Gòn

*****



Mạng Lưới Bệnh Viện Hồn Mỹ

Đà Nẵng | Đà Lạt | Đồng Nai | Sài Gòn | Cần Thơ | Cà Mau



106



| Văn Phòng Y Khoa Tập Đồn



BỆNH TIM THIẾU MÁU CỤC BỘ MẠN TÍNH (ĐAU THẮT NGỰC ỔN ĐỊNH)

*****

I.



ĐẠI CƯƠNG



-



Bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính là thể lâm sàng gây ta do nhiều nguyên nhân khác

nhau nhưng cùng có chung một cơ chế sinh lý bệnh là sự mất cân bằng cung cầu oxy cho

cơ tim



-



Biến chứng nặng nề có thể gặp là nhồi máu cơ tim, đột tử hoặc nhẹ hơn là đau thắt

ngực, giảm khả năng gắng sức, suy tim.

II.



CHẨN ĐOÁN



II.1 Chẩn đốn xác định

-



Bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng nghi ngờ, và được ủng hộ bởi một trong các thăm

dò không xâm lấn cần được chụp động mạch vành DSA để xác định chẩn đoán cũng

như tiên lượng bệnh và đưa ra hướng điều trị



-



Phân độ đau thắt ngực (theo hiệp hội Tim mạch Canada – CCS)



-







Độ I: những hoạt động thể lực bình thường khơng gây đau thắt ngực, đau

thắt ngực chỉ xuất hiện khi hoạt động thể lực rất mạnh







Độ II: hạn chế nhẹ hoạt động thể lực bình thường, đau thắt ngực xuất hiện khi

leo cao > 1 tầng gác thông thường bằng cầu thang hoặc đi bộ dài hơn 2 dãy

nhà







Độ III: hạn chế đáng kể hoạt động thể lực thong thường, đau thắt ngực xuất

hiện khi đi bộ từ 1-2 dãy nhà hoặc leo cao1 tầng gác







Độ IV: các hoạt động thể lực bình thường đều gây đau thắt ngực



Phân tầng nguy cơ dựa trên các thăm dò khơng chảy máu





Nguy cơ cao (tỷ lệ tử vong > 3%/năm)

+ Đau thắt ngực nhiều (CCS IV), có nhiều yếu tố tiên lượng nặng đi kèm như:

tiền sử NMCT, đái tháo đường, tuổi cao, giới nữ

+ Có rối loạn chức năng thất trái nghiêm trọng được đánh giá lúc nghỉ (EF<

35%)

+ Nguy cơ cao trên nghiệm pháp gắng sức (≤ -11)

+ Có suy giảm chức năng thất trái khi gắng sức

+ Có giảm tưới máu vùng rộng lớn khi làm nghiệm pháp gắng sức thăm dò

thiếu máu cơ tim trên xạ hình tim

+ Siêu âm tim gắng sức có rối loạn nhiều vùng với liều Dobutamine thấp hoặc

khi nhịp tim còn thấp < 120 l/phút, hoặc có bằng chứng rối loạn vận động

vùng lan rộng







Nguy cơ vừa:



Mạng Lưới Bệnh Viện Hoàn Mỹ

Đà Nẵng | Đà Lạt | Đồng Nai | Sài Gòn | Cần Thơ | Cà Mau



107



| Văn Phòng Y Khoa Tập Đồn



+ Đau ngực mức độ vừa (CCS III), có khơng q 2 yếu tố tiên lượng nặng đi

kèm

+ Có rối loạn chức năng thất trái mức độ vừa được đánh giá lúc nghỉ (EF từ 3539%)

+ Nguy cơ vửa trên nghiệm pháp gắng sức (-11
+ Có giám tưới máu vừa khi làm nghiệm pháp gắng sức thăm dò thiếu máu cơ

tim trên xạ hình tim

+ Siêu âm tim gắng sức có rối loạn vận động vùng khi liều Dobutamine cao và

không quá 2 vùng cơ tim





Nguy cơ thấp:

+ Đau ngực nhẹ (CCS I-II), không có yếu tố tiên lượng nặng

+ Nguy cơ trên nghiệm pháp gắng sức thấp ( ≥ 5)



II.2 Chẩn đoán nguyên nhân

-



Các nguyên nhân tại tim có thể là: xơ vữa động mạch, bệnh lí van động mạch chủ,

bệnh cơ tim phì đại, co thắt mạch vành, viêm mạch vành…



-



Các nguyên nhân ngoài tim: thiếu máu nặng, nhịp nhanh, sốt, cường giáp…



II.3 Chẩn đoán phân biệt: thường rõ ràng nếu hỏi bệnh sử và thăm khám bệnh nhân thật

kỹ. Trong một số trường hợp cần chẩn đoán phân biệt nguyên nhân đau ngực do tim

và ngoài tim khác.

III.



ĐIỀU TRỊ



III.1

Nguyên tắc điều trị: điều trị nguyên nhân (nếu có), tăng tưới máu cơ tim và

giảm nhu cầu oxy của cơ tim

III.2

Mục tiêu điều trị: cải thiện tiên lượng bệnh (ngăn ngừa NMCT và tử vong) và

cải thiện triệu chứng cho người bệnh

III.3

Phương pháp điều trị: có 3 phương pháp điều trị cơ bản hiện nay: điều trị nội

khoa (thuốc), can thiệp ĐMV qua da, phẫu thuật làm cầu nối chủ - vành. Thêm vào

đó, việc điều chỉnh các yếu tố nguy cơ cho người bệnh là một biện pháp nền tảng.

Việc chỉ định phương pháp điều trị nào phụ thuộc vào tình trạng bệnh và nên

bắt đầu cũng như duy trì bằng điều trị nội khoa. Trong trường hợp điều trị nội khoa

thất bại hoặc bệnh nhân có nguy cơ cao trên các thăm dò thì cẩn chỉ định chụp ĐMV

và can thiệp kịp thời.

III.4

-



Điều trị cụ thể



Điều trị nội khoa





Chế độ sinh hoạt và các biện pháp không dùng thuốc là bắt buộc cho tất cả

bệnh nhân bên cạnh biện pháp dùng thuốc







Aspirin cho thường quy nếu khơng có chống chỉ định







Chẹn beta giao cảm nếu khơng có chống chỉ định







Thuốc ức chế men chuyển cho mọi bệnh nhân bệnh ĐMV có kèm theo đái

tháo đường và/hoặc rối loạn chức năng thất trái, tăng huyết áp



Mạng Lưới Bệnh Viện Hoàn Mỹ

Đà Nẵng | Đà Lạt | Đồng Nai | Sài Gòn | Cần Thơ | Cà Mau



108



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

HỘI CHỨNG SUY NÚT XOANG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×